Động vật học Không xương sống part 9 pot - Pdf 20


258
Tiêu diệt côn trùng có hại gồm các nhóm côn trùng bắt mồi ăn thịt,
ký sinh tiêu diệt các loài sâu hại. Một mặt chúng làm giảm số lượng cá thể
các loài gây hại, mặt khác góp phần cân bằng hệ sinh thái. Thuộc các
nhóm côn trùng này có Chuồn chuồn, Cánh cứng, Cánh màng, Hai cánh,
Bọ ngựa và đặc biệt là ong ký sinh. Ví dụ như Bọ rùa châu Úc (Rdolia
cardinalis) ăn rệp sáp hại cây (Icerya purchasi), Bọ rùa vằn (Coccinella
repanda), Bọ rùa 7 chấm (Coccinella septempunctata), Bọ rùa 8 chấm
(Synpharmonia octomaculata), Hổ trùng (Cicindella sexpuctata), Ruồi ăn
sâu (Asilidae), Ruồi ăn rệp (Syrphidae), Ruồi ký sinh (Tachinidae), Ong
kén nhỏ (Branconidae), Ong đất bụng xanh (Scelionidae), Ong mắt đỏ
(Trichogrammatidae) Nông dân Việt Nam thường dùng kiến Oecophylla
smaragdina phòng trừ sâu hại lá cam.
Một số loài được dùng làm nguyên liệu như tằm (Bombyx mori)
được nuôi để lấy tơ tằm dệt vải, lấy xác nhộng làm thực phẩm. Ong mật có
các loài Apis melifera, Apis cerana, được thuần hoá để nuôi phổ biến, lấy
mật, sữa chua và sáp. loài ong muỗi, ong khoái quan được khai thác mật tự
nhiên (trong rừng tràm, rừng rậm). Nhựa cánh kiến đỏ (do loài Laccifera
lacca tiết ra) rất có giá trị trong các ngành công nghiệp hiện đại (điện, vũ
trụ, hàng không) vì tính chất ưu việt của nó mà không có nhựa tổng hợp
nào thay thế được (tính co giãn, đàn hồi không đáng kể khi nhiệt độ thay
đổi đột ngột, hằng số cách điện cao, chống tia tử ngoại, không thấm, ẩm,
chịu a xit, kết dính và tạo màng ). Ngoài ra nhựa cánh kiến đỏ còn được
sử dụng trong công nghiệp nhuộm, cao su, điện ảnh và mỹ nghệ.
Nhiều côn trùng tạo thành chuỗi thức ăn quan trọng trong hệ sinh
thái, chúng là thức ăn không thể thiếu của nhiều loài chim, ếch nhái, bò
sát, cá và thú. Có nghĩa là côn trùng đóng góp một phần rất quan trọng cho
bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng hệ sinh thái.
2.4.2 Nhóm côn trùng có hại
Côn trùng đã gây những tổn thất rất lớn cho nền sản xuất nông

Sử dụng các biện pháp cơ học và lý học: Diệt trừ sâu hại bằng cách
dùng bẫy đèn, hào nước, bắt bằng tay, vợt, ánh nắng, tia cực tím
Các biện pháp hoá học: Sử dụng hạn chế, phải đúng lúc và đúng
thuốc, nên sử dụng nhiều thuốc có nguồn gốc thảo mộc.
Biện pháp sinh học: Sử dụng thiên địch của sâu hại như côn trùng
ký sinh, bắt mồi ăn thịt (ong ký sinh, bọ rùa, kiến, cá ). Sử dụng các
nguồn bệnh sẵn có như vi khuẩn, nấm (vi khuẩn Bacilus thurigiensis, vi
nấm Bauveria basiana, vi rut ).
Nhìn chung không thể loại bỏ một biện pháp nào cả trong đấu tranh
chống sâu hại, tuy nhiên biện pháp sinh học vẫn đang được khuyến khích
sử dụng ngày càng nhiều và hiệu quả thật to lớn vì những tính chất ưu việt
của nó.
3. Nguồn gốc và hướng tiến hoá của Có ống khí
Về nguồn gốc của chân khớp khá rõ ràng. Tổ tiên của chúng là giun
đốt (nhóm Giun nhiều tơ). Trong các nhóm động vật chân khớp thì nhóm
Có khí quản đã thích nghi với điều kiện trên cạn từ rất sớm. Chúng sống
trong đất ẩm, thảm mục hay trên bề mặt đất. Tuy vậy chúng vẫn có nhiều
đặc điểm có quan hệ với đời sống dưới nước như phân đốt đồng hình, hô
hấp qua bề mặt cơ thể, hệ bài tiết biến đổi từ hậu đơn thận Để thích nghi
với điều kiện sống trên cạn, Có khí quản đã hình thành đầu có số đốt ổn
định, hình thành cơ quan hô hấp là khí quản, cơ quan bài tiết là ống 260
malpighi Tuy vậy mức độ thích nghi với lối sống trên cạn khác nhau tuỳ
nhóm. Ví dụ như Nhiều chân thì còn có nhiều đặc điểm cổ như phân đốt
đồng hình, nhiều đốt, chưa phân biệt phần ngực với phần bụng, bụng còn
phần phụ chuyển vận Ngược lại côn trùng thì tiến hoá theo hướng ổn
định phần ngực và phần phụ ngực (đặc biệt là xuất hiện cánh giúp cho côn
trùng phát tán nhanh chóng), phần phụ bụng tiêu giảm, số đốt bụng thu

tạp hoá cấu tạo cơ thể, cụ thể là sự phân đốt từ đồng hình sang dị hình,
phức tạp hoá cấu trúc vỏ cơ thể như hoàn chỉnh biểu bì, phân hoá bao biểu
mô cơ thành bó cơ, hình thành thể xoang hỗn hợp, biến đổi chi bên thành 261
phần phụ phân đốt, hình thành tim từ mạch máu lưng, phát triển mắt kép
và nhất là quá trình đầu hoá (biến đổi các đốt phía trước thành đầu và phần
phụ của chúng thành phần phụ miệng). Về nội quan thì ưu tiên phát triển
khí quản và ống malpighi (ống malpighi vừa có khả năng bài tiết vừa có
khả năng tái hấp thu nước), hình thành quá trình thụ tinh trong Gần đây
người ta phát hiện thấy loài Giun nhiều tơ sống trong đất ẩm ở Malaixia
(Lycastis vivax, Lycastopsis amboinensis) có cấu tạo thích nghi với điều
kiện trên cạn như có vỏ cuticun dày, các hốc da giống như mầm của các
khí quản, nhánh bụng của chi bên phân đốt. Điều này gợi cho ta bước
chuyển từ tổ tiên giun đốt của động vật chân khớp đến tổ tiên chân khớp
của động vật Có khí quản ở cạn là nhóm Nhiều chân.
Động vật chân khớp đã sớm phân hoá thành nhiều nhánh khác nhau
về mức độ đầu hoá, sự phân đốt của trưởng thành và ấu trùng
Nhánh tiến hoá sớm nhất và thấp nhất là Trùng ba thuỳ, xuất hiện từ
Đại cổ sinh. Khác với nhóm Có mang là không có đôi râu ngoài, phần phụ
đầu không phân biệt với phần phụ ngực. Trùng ba thuỳ chỉ tồn tại đến cuối
Đại cổ sinh, thế hệ con cháu của chúng hình thành nên động vật Có kìm.
Đôi râu thứ nhất mất đi, phần phụ đầu biến đổi thành đôi kìm, đôi chân
xúc giác và 2 đôi chân. Hai đôi phần phụ của thân thường hợp với đầu làm
thành phần phụ của khối đầu ngực. Phần phụ của các đốt bụng trước
thường làm nhiệm vụ hô hấp, các đôi sau tiêu giảm Như vậy Trùng ba
thuỳ là nhóm trung gian để chuyển từ Giun nhiều tơ sang Có kìm. Trong
nhóm Có kìm thì động vật Giáp cổ còn giữ đặc điểm hô hấp bằng mang,
còn Hình nhện chuyển lên đời sống trên cạn.

Edward E. Ruppert; Robert D. Barnes. 1993. Invertebrate Zoology.
sixth edition, Saunders College Publishing.
7. Harris C.L. 1992. Concepts in Zoology. Harper Collin Pub New York.
8.
Jeffrey S. Levinton. 1995. Marine Biology, Funtion, Biodiversity,
Ecology. New York. Oxford OXFORD UNIVERSITY PRES.
9. Robert D. Barnes. 1969. Invertebrates zoology. W.B. Sauder Company.
10. Sylvia S. Mader. 1887. Biology. Wm. C. Brown Publishers Dubuque,
Iowa.
11. Westheide W., Rieger R. (1996). Spezielle Zoologie. Gustav Fischer
Verlag, Stuttgart. 263
Chương 10
Các ngành động vật chưa rõ vị trí
I. Ngành Echiurida
Nhóm động vật này còn giữ đặc điểm chia đốt ở giai đoạn ấu trùng,
còn giai đoạn trưởng thành thì không chia đốt. Thường sống chui rúc trong
bùn hay trong các kẽ đá ven bờ biển, phát triển qua ấu trùng trochophora
đặc trưng của giun đốt. Là một lớp bé, có khoảng 150 loài.
1. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý
Cơ thể không chia đốt, phía trước có vòi dài, lỗ miệng nằm ở đáy
vòi và mặt bụng của vòi có rãnh tiêm mao để đưa thức ăn tới miệng. Mặt
bụng sau miệng có 2 tơ lớn và cuối thân có 2 vành tơ đặc trưng của Giun
nhiều tơ (hình 10.1).


Thành cơ thể có lớp biểu mô tiết cuticula ra mặt ngoài, tiếp theo là
bao cơ và biểu mô thể xoang. Ống tiêu hoá dài, đổ vào ruột sau có đôi túi
hậu môn và có khoảng 12 – 300 phễu tiêm mao mở vào thể xoang. Các
phễu này giữ chức phận bài tiết và hô hấp. Hệ tuần hoàn kín, máu không
có màu. Hệ thần kinh có kiểu cấu tạo của Giun nhiều tơ nhưng tế bào thần
kinh không tập trung thành hạch. Hệ bài tiết của ấu trùng là nguyên đơn
thận, còn trưởng thành là túi hậu môn và hậu đơn thận. Số lượng hậu đơn
thận thay đổi từ 1 đôi đến 4 đôi. Tuy nhiên có người cho rằng hậu đơn
thận giữ nhiệm vụ thải sản phẩm sinh dục là chính. Tuyến sinh dục đơn,
dính liền ở mặt bụng ở phần sau cơ thể. Hiện tượng dị hình chủng rất rõ ở
một số loài như Bonellia cái có kích thước lớn (10 – 15cm). Còn con đực
thì bé (1 – 3mm) phủ đầy tiêm mao sống chờ trong đơn thận của con cái
cho đến khi trứng chín thì thụ tinh.
2. Đặc điểm phát triển
Giai đoạn đầu của quá trình phát triển giống Giun nhiều tơ. Trứng
phân cắt xoắn ốc và xác định. Ấu trùng trochophora cũng hình thành với 2
giải đôi túi thể xoang ở hai bên. Nhưng tiếp theo đó thành của túi thể
xoang bị mất đi và cơ thể chỉ còn lại túi thể xoang chung. Ấu trùng bơi lội
tự do và sau khi biến thái mới chuyển sang đời sống bám ở đáy.
II. Ngành Sá sùng (Sâu đất = Sipunculida)
Hiện nay biết có khoảng 350 loài sống ở biển, chui rúc trong đáy cát
hoặc bùn, các vỏ rỗng của các vật khác, kể cả độ sâu 7.000 – 10.000m.
Tuy vị trí phân loại còn phân tán nhưng căn cứ vào đặc điểm trứng phân
cắt xoắn ốc, sự có mặt của ấu trùng trochophora và lá phôi giữa chia đốt
trong một giai đoạn phát triển nên nhiều ý kiến cho rằng nhóm động vật
này thuộc vào ngành Giun đốt bị mất đốt do đời sống chui luồn trong bùn
đất. Mặc dù vậy, nhiều tác giả căn cứ vào dẫn liệu mới về sinh học phân tử
cho thấy chúng gần gũi với nhóm Thân mềm hơn nên lại muốn xếp Sa
sùng vào nhóm động vật Thân mềm.
1. Đặc điểm cấu tạo
ìn

Hình 10.2 Cấu tạo Sipunculida (theo Pechenik)
A. H

ếnN
h dạng ngoài của Sipunculus nudus (A) và B là khi co vòi; C. Cấu tạo trong của
Phascolion sp: (D) Hình dạng khi duỗi vòi; E. Ấu trùng Golfingia sp; 1. Lỗ miệng; 2.
Tua miệng; 3. Cơ co vòi; 4. Thực quản; 5. Túi lưng co duỗi; 6. Hậu môn; 7. Thận; 8.
Tuy trực tràng; 9. Túi trực tràng; 10. Trực tràng; 11. Ruột; 12. Thể xoang; 13. Dây
thần kinh bụng; 14. Cơ co vòi; 15. Túi bụng co duỗi tua; 16. Nhánh thần kinh bên; 17.
ão; 18. Thân; 19. Vòi; 20. Nhú cảm giác; 21. Chùm lông đỉnh; 22. Mắt; 23. Vành lông
sau; 24. Vành lôn
g
trước


nhú có móc kitin tận cùng (hình 10.3). Do đời sống ký sinh nên nhiều nội
quan tiêu giảm như tuần hoàn, hô hấp, bài tiết. Bao cơ có cấu tạo theo kiểu
giun đốt nhưng tế bào cơ lại cấu tạo theo kiểu chân khớp. ruột là một ống
thẳng từ đầu đến cuối. Ở một số loài có tuyến trán tiết enzyme tiêu hoá mô
vật chủ và tiết chất chống đông máu. Hạch thần kinh dưới hầu phát triển
hơn nhiều so với hạch thần kinh trên hầu. Tuyến trứng hình ống, có 2 ống
dẫn và 1 tử cung cùng với một đôi túi nhận tinh, lỗ sinh dục ở cuối cơ thể.
Con đực có tuyến tinh, túi chứa tinh, 2 ống dẫn tinh và cơ quan giao phối
kép, lỗ sinh dục ở phía trước, sau lỗ miệng.Trứng bé, cùng với dịch nhầy
của mũi vương vãi và dính vào cây cỏ rồi vào dạ dày của thỏ. Trong dạ

267
dày thỏ, trứng nở thành con non, có 2 nhú cơ có móc, phía trước có chủy
là cơ quan khoan (hình 10.3D). Ấu trùng xâm nhập qua thành ruột, vào
máu, di chuyển đến gan, màng treo ruột và các nội quan khác. Sau đó kết
kén nằm bất động ở đó. Sau 1 vài tháng, ở vị trí ký sinh, ấu trùng lột xác
lớn lên và đạt kích thước 4 – 6mm, giống với trưởng thành nhưng còn
thiếu cơ quan sinh dục.

kích thước nhỏ (khoảng vài cm), sống trên cạn, có móc ở phần phụ chuyển
vận, di chuyển chậm chạp. Phân bố rộng ở các vùng nóng ẩm của nhiệt
đới, thường sống dưới các thảm lá mục, vỏ cây khô (hình 10.4).

Hình 10.4 Có móc Peripalopssis capensis (theo Sedgwick) Động vật Có móc vừa có nhiều đặc
điểm của Giun đốt, vừa có nhiều đặc

Thành cơ thể cấu tạo tương
tự như giun đốt: Từ ngoài
vào trong là lớp cuticum
mỏng, tiếp theo là lớp biểu
mô đơn sau đó là lớp mô
liên kết, sau đó là bao cơ có
lớp cơ vòng, lớp cơ dọc và
lớp cơ xiên (tế bào cơ là cơ
trơn). Trong cùng là biểu
mô thể xoang. Thể xoang
hỗn hợp (hình 10.6).
Nội quan gồm có: Hệ
tiêu hoá gồm ruột trước (có
hầu, thực quản), ruột giữa
và ruột sau. Đổ vào khoang
miệng có tuyến nước bọt.
Hệ thần kinh có não (phân
Hình 10.6 Cắt ngang qua cơ thể Peripatoides

sinh dục, quá trình phát triển phôi, lại thể hiện tính chất chuyên hoá. Ngay
trong một hệ cơ quan đã thể hiện tính chất trung gian giữa hai nhóm động
vật giun đốt và chân khớp như hệ thần kinh bậc thang (giống giun đốt, còn
có não 3 phần lại là giống chân khớp). Từ đó có thể nghĩ rằng động vật Có

270
móc được hình thành từ giun đốt, sớm tách thành một nhóm riêng, thích
nghi với điều kiện sống trên cạn, tiến hoá song song với chân khớp ở cạn.
Hiện biết khoảng 100 loài, sống trong rừng nhiệt đới ẩm (các nước
thuộc Trung và Nam Mỹ, Ấn Độ, Mã Lai, Tân Đảo, Tân Tây Lan và
Ôxtrâylia), dưới thảm mục, hang hốc… Có thể ăn thịt, ăn tạp và ăn cỏ.
Hoá thạch có từ giữa Cambri trong trầm tích biển, hình thái gần giống với
các đại diện hiện sống (chỉ sai khác một số đặc điểm như chưa có ống khí,
phân đốt chưa rõ ràng, tận cùng chân có tơ, hàm chưa rõ, không có nhú
tuyến dính, râu dạng lược). Đại diện có các giống như Peripatus (châu
Mỹ), Peripatopsis (châu Phi), Peripatoides (châu Úc).
V. Ngành Mang râu (Ponogophora)
Theo nhiều tài liệu trước đây thì động vật Mang râu (Pogonophora)
được coi là một ngành của có miệng thứ sinh (Deuterostomia) (Abrikokov,
1970; Cleveland P. Hickman, 1873; Thái Trần Bái, Hoàng Đức Nhuận,
Nguyễn Văn Khang (1978), Đặng Ngọc Thanh và Thái Trần Bái, 1982,
Thái Trần Bái, 2000…). Robert D. Banes 1991 lại xếp nhóm động vật này
thành một ngành riêng thuộc động vật Có miệng nguyên sinh
(Protostomia) đứng sau giun đốt.
Hiện biết có khoảng 120 loài, sống định cư trong vỏ ống, trong đáy
bùn biển sâu từ hàng trăm đến hàng ngàn mét.
1. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý
Cơ thể hình giun, kích thước thay đổi từ 6cm - 36cm về chiều dài,
lớn nhất dài tới 2m, đường kính thân dưới 1mm (lớp Perviata) hay từ 25 –
40mm (lớp Vestimentifera). Cơ thể chia làm 3 phần: Phần trước thân,

Hình 10.7 Cấu tạo cơ thể của Mang râu Choanophorus indicus
(theo Ivanov và Pechnik)
A. Hình dạng chun của con cái; B. Cấu tạo phần trước thân; 1. Tua miệng; 2. Thể
xoang; 3. Mạch máu; 4. Thể xoang đốt 1; 5. lỗ ngoài của ống thể xoang; 6. Ống dẫn
thể xoang; 7. Bao tim; 8. Tim; 9. Thể xoang đốt 2; 10. Mạch máu lưng; 11. Mạch máu
bụng; 12. Mạch bên đầu; 13. Mạch giữa đầu; 14. Thể xoang đốt 3; 15. Óng dẫn tinh;
16. Lỗ sinh dục; 17. Não; 18. Dây thần kinh bụng; 19. Nhú bám; 20 Thuỳ đầu I-IV,
Các đốt 1-4. Riftia pachyptila: C. Phần trước thân; D. Cắt ngang thân; E. Cắt ngang cơ
quan hô hấp; 1. Obturaculum; 2. Tua đầu; 3. Vestmentum; 5. Thể xoang; 6. Thể nuôi;

Có khoảng 110 loài. Cơ thể tương đối bé, phần trước thân có thùy
đầu. Đốt I và II. Tua đầu rời từng chiếc. Mỗi đốt của con trưởng thành chỉ
có 1 đôi túi thể xoang. Đại diện có các giống Siboglinum, Oligobrachia
3.1.2 Lớp Vestimentifera (= Obturata)
Hiện biết có khoảng 12 loài. Cơ thể lớn, phần trước thân có phần hô
hấp (obturaculum) và phần đai (vestimentum). Tua đầu kết thành tấm. Mỗi
đốt của phần đuôi con trưởng thành có một đôi túi thể xoang. Đại diện có
các giống Ritia, Ridgeia, Lamellbrachia, Tevnia.
3.2 Sinh học và sinh thái
Là nhóm động vật phát triển phong phú trong môi trường xa lạ với
nhiều nhóm sinh vật khác (nhiều chất độc như H
2
S, CH
4
, ở đáy sâu đại
dương thiếu ánh sáng và chịu áp suất lớn…) và sống lẫn với nhiều nhóm
động vật khác nhau. Việc phát hiện được động vật Mang râu thuộc phân
lớp Vestimentifera có sinh khối lớn, phát triển mạnh nhờ vào vi khuẩn hoá
tổng hợp sống cộng sinh đã đặt ra nhiều vấn đề mới cho việc nghiên cứu
dinh dưỡng của động vật.

273
Các động vật Mang râu đã gặp ở vùng quần đảo Galapagôt thuộc
Thái Bình Dương, nơi đáy biển sâu 2500m, có nhiều giếng phun nước
nóng, nhiệt độ vào khoảng 10 – 15
0
C, ở Đại Tây Dương trong vịnh
Mexicô với độ sâu 300 – 6000m, nhiệt độ nước khoảng 2 – 4
0
C, kể cả nơi

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thái Trần Bái, Hoàng Đức Nhuận. 1988. Động vật học (Phần Động vật
Không xương sống. NXB Giáo dục. Hà Nội.
2. Thái Trần Bái. 2003. Động vật học Không xương sống. NXB Giáo dục.
Hà Nội.
3. Harris C.L. 1992. Concepts in Zoology. Harper Collin Pub., New York.
4. Robert D. Barnes. 1969. Invertebrates zoology. W.B. Sauder Company.

274
Chương 11
Động vật Có miệng thứ sinh
(Deuterostomia)

I. Ngành Phoronida
Phoronida là nhóm động vật nhỏ hình giun. Hiện đã biết có khoảng
16 loài, sống ở biển. Có khả năng tiết ra vỏ hình ống bao bọc cơ thể. Phần
trước cơ thể thường thò ra ngoài, có vành tua miệng phủ tiêm mao để bắt
thức ăn và đưa thức ăn vào miệng.
Hệ tiêu hoá có ruột cong hình chữ U. Hô hấp qua tua miệng. Sản
phẩm của cơ quan bài tiết và sinh dục được chuyển qua ống dẫn thể
xoang. Thể xoang chỉ có 2 phần: Phần ở miệng bé, dạng vòng, có ống đi
vào các tua miệng, phần thân phình lớn, chiếm toàn bộ cơ thể. Hệ tuần
hoàn có mạch máu quanh hầu và hai mạch dọc nối với nhau ở cuối cơ thể.
Hệ sinh dục lưỡng tính, tuyến sinh dục nằm lùi phía sau cơ thể. Phát triển
có biến thái, hình thành ấu trùng Actinotrochophora, cấu trúc gần giống
với ấu trùng trochophora (hình 11.1).
II. Ngành động vật Hình rêu (Bryozoa hay Ectoprocta)
Nhóm động vật này thường sống tập đoàn hình cành cây, mới nhìn
qua thì thấy giống với rêu hay thuỷ tức. Mỗi cá thể có một phần thân và
một phần đáy, ống tiêu hoá hình chữ U, có tua miệng xếp thành vòng

10
11
12
13
14
15
16
nis au

i
Hình 11.1 Cấu tạo phần miệng của Phoronida (theo Hyman)
A. Phorinis architeacta B. Một phần của Phoronis hippocrepia; C. Phần trước của

hình thành ấu trùng đa dạng nhưng có cấu tạo gần giống với ấu trùng
trochophora. Ngành này được chia thành 2 lớp là Gymnolaemata và lớp
Phylactolaemata.
1. Lớp Gymnolaemata
Phần lớn sống ở biển, tua miệng xếp vòng, không có tấm che miệng.
Ống dẫn thể xoang đôi khi tiêu giảm, có khoảng 3 bộ:
Bộ Ctenostomata, đại diện có giống Paludicella sống ở nước ngọt
Bộ Chelilostomata, đại diện có các giống Buluga, Microporella
276 Hình 11.2 Hình dạng của động vật Hình rêu ở biển (theo Dogel)

biết), có kích thước nhỏ (khoảng 0,5 - 14 cm). Hoá thạch có từ kỷ Cambri.
Cấu tạo cơ thể sai khác với tất cả các nhóm động vật khác. Các đặc điểm
chính là 1 - Cơ thể đối xứng 2 bên, 3 lá phôi nhưng không phân đốt; 2 -
Thân mảnh có vây bê; 3 - Ống tiêu hoá phát triển đầy đủ, hậu môn ở mặt
bụng; 4 - Thể xoang phát triển chia làm 3 ngăn; 5- không có hệ tuần hoàn,
hô hấp hay cơ quan bài tiết; 6 - Hệ thần kinh có mạch lưng và hạch bụng
cùng với cơ quan cảm giác; 7 - Lưỡng tính, phát triển trực tiếp. Hầu hết
sống ở nổi biển, chỉ có một số ít loài thuộc giống Spedella sống đáy, độ
sâu tới 1.500m. Chỉ có một lớp là Hàm tơ
1. Đặc điểm chung về cấu tạo, sinh lý
Cơ thể dẹp hình lá, dài, chia làm 3 phần là đầu, thân và đuôi. Phần
đầu có nếp da gấp bao 2 bên và phía lưng và 2 túm tơ (hàm) bắt mồi hình
móc ở hai bên miệng gồm có nhiều răng nhỏ.
Phần thân có thành cơ thể có lớp cunticun mỏng, lớp biểu mô nhiều
tầng, bên trong là có lớp cơ dọc (kiểu cơ vân) chia làm 4 dải (2 dải lưng và
2 dải bụng). Trong cùng là thể xoang phát triển có màng ngăn ngang chia
thể xoang thành 3 phần trước, giữa và sau, có màng ngăn dọc chia thể
xoang thành 2 nửa trái phải. Phần thân có 1 hay 2 đôi vây bên, một đôi ở
khoảng giữa, còn một đôi ở cuối. Ruột là một ống thẳng từ lỗ miệng phía
trước tới hậu môn ở phía sau. Hệ thần kinh phát triển gồm có hạch não,
khối hạch bụng, hai phần này nối với nhau bằng nhánh nối dài. Từ hạch
bụng có các dây thần kinh đi tới thành cơ thể. Cơ quan cảm giác có mắt
phát triển và cơ quan khứu giác nằm ở phần đầu và một số lông xúc giác ở
phần thân. Không có hệ tuần hoàn, hô hấp và bài tiết. Hệ sinh dục lưỡng
tính. Tuyến sinh dục cái nằm ở cuối thân, tuyến sinh dục đực nằm ở cuối
phần thân. Lỗ sinh dục đổ ra phía cuối cơ thể. Sự sinh sản xẩy ra quanh
năm, thụ tinh trong.

Phần đuôi có vây đuôi xoè khá rộng làm nhiệm vụ bánh lái khi con
vật bơi trong nước (hình 11.4A). Hình 11.4 Cấu tạo cơ thể Hàm tơ (theo Dogel)
A. Nhìn mặt bụng; B. Sự phát triển của Hàm tơ Saginata.
1. Não; 2. vòng hầu; 3. Hạch bụng; 4. Dây thần kinh; 5. Thể xoang; 6. Ruột;7. Tuyến
trứng; 8. Ống dẫn trứng; 9. Hậu môn; 10. Tuyến tinh; 11. Ống dẫn tinh; 12. Vây đuôi;
13. Tuyến đầu; 14. Tơ móc; 15. Lỗ sinh dục đực; 16. Lỗ sinh dục cái; 17. Mầm tế bào
sinh dục; 18. Phôi khẩu; 19. Mầm thể xoang; 20. Xoang thứ sinh
Hàm tơ sống ở biển, ăn động vật nổi cỡ bé, là thành phần quan trọng
trong hệ sinh vật nổi ở biển, là thức ăn của cá ăn nổi. Đại diện có giống
Sagitta. Ở Việt Nam có khoảng 13 loài, phổ biến là Sagitta enfillata.
Mặc dù phát triển phôi của động vật Hàm tơ gần với động vật Có
miệng thứ sinh, tuy nhiên chúng có một số sai khác quan trọng như chỉ
hình thành 2 đôi túi thể xoang phía trước, sau đó mới hình thành thể xoang
đuôi, sai khác về hình thái phần đầu, biểu mô nhiều tầng đã tách động
vật hàm tơ ra khỏi động vật Có miệng thứ sinh khác, tạo thành một nhánh 279
phát triển độc lập có nguồn gốc và vị trí chưa rõ ràng.
IV. Ngành động vật Da gai (Echinodermata)
Da gai là ngành động vật khá lớn, có khoảng 6.500 loài đang sống
và 13.000 loài hoá thạch, sống ở biển, ở Việt Nam đã phát hiện khoảng
hơn vài trăm loài. Đa số động vật da gai sống đáy tự do hay có cuống bám
vào giá thể. Các nhóm thường gặp là Sao biển, Cầu gai, Huệ biển, Đuôi
rắn, Hải sâm
1. Đặc điểm chung của động vật Da gai
Đối xứng cơ thể: Cơ thể động vật Da gai trưởng thành và ấu trùng

Như vậy bộ xương của động vật Da gai khác hẳn với bộ xương của động 280
vật Thân mềm và Chân khớp về nguồn gốc (hình 11.5A).
Lớp biểu mô thành thể xoang gồm các tế bào biểu mô có tiêm mao.
Xoang cơ thể thứ sinh (thể xoang): Được hình thành từ đôi túi thể
xoang sau của ấu trùng diplerula. Mức độ phát triển của thể xoang tùy theo
nhóm. Ở Huệ biển thì thể xoang bị mô liên kết phát triển lấp đầy, ở Đuôi
rắn thể xoang bị thu hẹp lại, còn ở Cầu gai và Sao biển và các nhóm khác
thì rất phát triển. Dịch thể xoang bao quanh nội quan, có thành phần rất
giống với nước biển, nhiều protein, tế bào thực bào và các tế bào sắc tố.
Chức phận của thể xoang là vận chuyển chất dinh dưỡng, sản phẩm sinh
dục, các hoocmon, thải chất cặn bã Mặt khác, thể xoang có sự phân hoá về
cấu tạo, đảm nhận các chức phận khác nhau, gồm hệ ống dẫn nước - hệ
chân ống, hệ tuần hoàn (hệ xoang máu giả) và phức hệ cơ quan trụ.
chiều không cho nước dồn trở lại ống phóng xạ. Chân ống co vào nhờ cơ
dọc của chính nó. Số lượng chân ống có thể tới 2.000 cái, chúng hoạt động
phối hợp với nhau khi di chuyển nhờ điều chỉnh áp lực trong hệ ống dẫn
nước. Sức bám của chân ống lên nền cứng một phần nhờ tương tác ion,
phần khác nhờ hoạt động của tế bào tuyến kép như đã gặp ở giun giẹp.
Nước từ tấm sàng đến dưới nước vòng qua ống đá vì có thành cứng, được
gia cố bằng các gai đá vôi. Ngoài ra trên các ống dẫn nước vòng có túi
pôli và thể tideman dự trữ nước. Ngoài ra thể tideman còn lọc nước để tạo
ra dịch thể xoang. Chân ống còn là nơi trao đổi khí.
Hệ tuần hoàn và hệ xoang máu giả: Cùng với hệ ống dẫn nước, hệ
tuần hoàn và hệ xoang máu giả là đặc điểm rất đặc trưng của động vật Da
gai. Điển hình có vòng tuần hoàn quanh miệng, có 5 ống tuần hoàn phóng
xạ. Ngoài ra có vòng tuần hoàn đối miệng và cấc ống tuần hoàn đi vào
tuyến sinh dục. Vòng quanh miệng và vòng đối miệng nối với nhau bằng
phức hệ cơ quan trụ. Lưu ý rằng ở động vật Da gai không có mạch máu mà
chỉ khe xoang, do vậy hoạt động tuần hoàn thực sự không có. Hệ xoang
máu giả là một bộ phận của thể xoang, bao gồm vòng máu giả quanh miệng,
các ống máu giả đi vào các vùng phóng xạ. Chức phận của hệ máu giả là
nuôi dưỡng hệ thần kinh. Dùng thức ăn có đánh dấu bằng
14
C, có thể theo
dõi đường đi của thức ăn từ ống tiêu hoá đến hệ máu giả và cuối cùng đến
hệ sinh dục.
Phức hệ cơ quan trụ là cơ quan đặc trưng ở động vật Da gai, phát triển
mạnh nhất ở Sao biển, Cầu gai, Đuôi rắn, nhưng không có ở Hải sâm, Huệ
biển. Cấu tạo gồm có các bô phận là các ống dẫn nước hình trụ chạy dọc có
cấu tạo xốp, có khả năng tạo ra các tế bào amip, tham gia chức phận bài tiết
và các tấm sàng có khả năng lọc nước.
Hệ thần kinh có 3 bộ phận khác nhau, cấu tạo đối xứng toả tròn: 1) Bộ
phận chủ yếu là mạng thần kinh miệng hay được gọi là hệ thần kinh ngoài


Cơ quan cảm giác nhìn chung kém
phát triển. Cơ quan thị giác và
thăng bằng chuyên hoá ở dạng
đơn giản. Bên cạnh đó có các tế
bào cảm giác như xúc giác, khứu
giác và vị giác nằm rải rác ở chân
ống, tua miệng
Nhìn chung hệ thần kinh của
động vật Da gai còn giữ nhiều nét
cổ, thể hiện mạng thần kinh miệng
và mạng thần kinh dưới da còn
nằm trong biểu mô hay nằm ngay
dưới biểu mô. Xu hướng tập trung
thần kinh thành hạch không rõ.
Chỉ có động vật Da gai mới
có mô liên kết biến đổi hay được
gọi là mô gom (catch tisue). Đặc
tính của mô này là khi bị kích
thước thì chúng thoắt cứng hay
thoắt mềm. Khả năng biến đổi
nhanh chóng này giúp cho động
vật Da gai có thể bắt mồi, di
chuyển và tự cắt phần cơ thể để
thoát thân khi bị kẻ thù tấn công.
Hình 11.6 Hệ thần kinh Da gai (theo Dogel)
A. Thần kinh Sao biển; B. Cắt ngang một cánh
của Huệ biển; 1. Hệ thần kinh ngoài; 2. Hệ
thần kinh dưới da; 3. Hệ thần kinh trong; 4.
Dây thần kinh bên cánh; 5. Chân ống; 6. Rãnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status