194
Đuôi kiếm sống ở vùng nước biển nông, độ sâu phổ biến là 4 – 10m,
đôi khi chúng phân bố sâu vào vùng cửa sông. Thức ăn của chúng là trai,
ốc, giun đốt, động vật không xương sống khác sống ở đáy và tảo. Hiện nay
còn lại 5 loài là Xiphosura polyphemus phổ biến ở vùng biển bắc và Trung
Mỹ, Tachypleus gigas ở vịnh Thái lan, T. tridentatus phân bố khá rộng, T.
hoeveni ở quần đảo Molucca. Ở vùng biển nước ta thường gặp loài
Carcimoscorpius rodunticauda và Tachypleus tridentatus (họ
Xiphosuridae). Vào tháng 7 - 8 sam lên bãi cát để sinh sản. Sam đực bám
vào sam cái, sam cái đào hố đẻ trứng, sam đực tưới tinh dịch thụ tinh.
Trứng lớn 1,5 – 3,3mm, giàu noãn hoàng, được cát giữ độ ẩm và nhiệt đới.
Sau khoảng 6 tuần thì trứng nở thành ấu trùng giống trưởng thành nhưng
thiếu đuôi. Sau nhiều lần lột xác hình thành sam trưởng thành.
Đuôi kiếm được dùng làm phân bón ở một số vùng biển châu Mỹ,
còn ở Đông Nam Á thì được dùng làm thức ăn. Gần đây máu của loài sam
Tachypleus gigas được dùng để chế một loại thuốc thử có giá trị thương
mại cao được gọi là LAL (limulus amoebocyte lysate) dùng để kiểm tra
nội độc tố do vi khuẩn gram âm sống trong ruột tiết vào máu (thuốc này có
độ nhạy rất cao, có thể dùng thay thế vaxin thỏ vẫn được dùng trước đây.
2. Lớp Hình nhện (Arachnida)
Là nhóm động vật chuyển lên sống trên cạn, thích nghi với điều kiện
khô hạn, xuất hiện phổi sách và khí quản, ống manpighi, vuốt chân, thụ
tinh bằng bao tinh Hiện nay được biết có khoảng 40.000 loài.
2.1 Cấu tạo và sinh lý
2.1.1. Đặc điểm phân đốt và cấu tạo phần phụ
Cơ thể có 2 phần là đầu ngực (prosoma) và bụng (opisthosoma), nối
với nhau một eo nhỏ. Đầu ngực có 6 đôi phần phụ (1 đôi kìm, 1 đôi chân
xúc giác, 4 đôi chân bò). Bụng (opisthosoma) là phần biến đổi nhiều nhất
có 1 hay 2 đôi lỗ thở của phổi sách và nhiều đôi nhú tơ. Sơ đồ cấu tạo có
phần đầu ngực có 6 đôi phần phụ là đặc điểm chung của Hình nhện. Sự
Hình 9.10 Sự phân đốt và phần phụ của Hình nhện (theo Lange)
A. Bọ cạp; b. Đuôi roi; C. Nhện; D. Nhện lông; E. Ve bét cổ; I. Đầu ngực; II. Bụng
trước; III. Bụng sau; 1-19 Thứ tự các đốt; k. Kìm; cxg. Chân xúc giác; cb. Chân bò
Hệ hô hấp khác nhau: Ở nhện cổ hô hấp bằng phổi sách (bọ cạp có 4
đôi, đuôi roi, nhện có 2 đôi). Số còn lại hô hấp bằng khí quản, một số lại
có cả phổi sách và cả khí quản. Khí quản được hình thành từ phần lõm
của lớp vỏ ngoài, có nguồn gốc độc lập với túi phổi, không có quan hệ về
nguồn gốc với phần phụ.
Hệ tuần hoàn có sơ đồ cấu tạo chung của ngành. Số đôi lỗ tim giảm
dần cùng với mức độ tập trung của các đốt.
Hệ thần kinh theo kiểu cấu tạo chung của ngành, mức độ tập trung
thần kinh tùy theo nhóm, phụ thuộc vào mức độ tập trung các đốt. Giác
quan của hình nhện khá phong phú gồm cơ quan cảm giác ánh sáng, cơ
học, hoá học. Mắt hình nhện kém phát triển (có 1 – 5 đôi mắt đơn), chỉ
phân bố được vật đứng yên hay chuyển động trong phạm vi gần. Riêng 196
nhóm nhện nhảy mắt khá phát triển có thể phân biệt được hình khối của
vật. Hình nhện có rất nhiều lông cảm giác bao gồm: Lông rung
(trichobotricum) có số lượng ổn định trên chân xúc giác và chân bò hay
trên thân. Gốc lông rung nằm trong hốc, có lớp vỏ mỏng làm tăng độ rung
của lông trước chấn động nhỏ. Cơ quan vị giác và khứu giác hình đàn nằm
Phần lớn hình nhện đẻ trứng trong hốc, trong kén mang theo người
hay giữ trong hang, một số ít đẻ con. Trứng của hình nhện thường lớn,
giàu noãn hoàng, phân cắt bề mặt và xác định. Phôi nhện và phôi bọ cạp
còn có rõ 12 đốt: Có 8 – 9 đốt bụng, 5 – 6 đốt trước có nhú mầm phần phụ 197
Trong quá trình phát triển các đốt
Cơ thể chia làm 3 phần rõ rệt
(đầu ngực, bụng trước và bụng sau).
Mặt lưng đầu ngực trước có giáp cứng, mặt bụng có 6 đôi phần phụ.
Phần bụng trước có 8 đốt, đốt thứ 3 có lược sinh dục, 4 đốt tiếp theo có lỗ
thở, hô hấp bằng túi phổi. Bụng sau nhỏ, kéo dài, có 5 đốt, không có phần
phụ, tận cùng là telson mang tuyến độc. Chất độc nằm trong tuyến độc
hình trứng ở telson, chủ yếu là nơtrôtôxin thường rất độc, gây thương tổn
hệ thần kinh và chất hêmôragin gây tím máu và làm chết từng phần của cơ
thể. Ví dụ như bọ cạp Androctonus ở Bắc Phi, Centrurus ở Mehicô vết đốt
có thể làm chết người. Đẻ con, con non đẻ ra có rau thai bao bọc. Sau khi
được sinh ra, bọ cạp con chui ra khỏi rau thai rồi treo lên lưng mẹ ẩn náu
một tuần lễ. Bọ cạp phổ biến ở vùng nhiệt đới. Ban ngày chúng ẩn náu
dưới lá, hốc cây, kẽ lá, đến đêm mới bắt mồi. Ăn giáp xác, côn trùng
198
giác biến thành chân bám có chức năng bám và nắm chắc con mồi, đôi
chân thứ 4 có cấu trúc cảm giác đặc biệt ở mặt trong đốt gốc được gọi là
vợt háng. Môi trên và môi dưới gắn với nhau làm thành vòi ngắn (hình
9.14B). Nhện lông dinh dưỡng bằng cách hút dịch lỏng đã được tiêu hoá
ngoài, ăn thịt và rất háu ăn (động vật nhỏ và cả chim, ếch nhái nhỏ,
chuột ). Phân bố ở vùng nhiệt đới nóng và khô, có rất nhiều ở Châu Phi.
Hiện nay biết có khoảng 600 loài. Ở Việt Nam đã gặp loài Dinorhax
rostrum dài 2 – 3cm, màu đỏ sẫm có nhiều lông, kìm to, khoẻ.
Hình 9.14 Đại diện của một số bộ Hình nhện (theo Dogel và Abrikokov)
A. Đuôi roi Telyphonus caudatus; B. Nhện lông Galeodes aranneoides; C. Bọ cạp giả
Chelifer caneroides; d. Chân dài Phalangium opilio
2.3.4 Bộ Đuôi roi (Uropigi hay Pedipalpi)
Là những động vật hoạt động về đêm và thích sống ở những nơi ẩm
ướt. Cơ thể có màu nâu, kích thước lớn (dài tới 7cm). Phần đầu ngực dài,
bụng gồm 12 đốt, 3 đốt sau hẹp và kéo dài thành 1 roi. Đôi chân ngực 1
biến đổi thành cơ quan xúc giác (hình 9.14A). Chúng không có tuyến độc
bắt mồi bò và dạng lưới hình tấm (hay bánh xe) dùng để chăng trên không,
bắt các động vật bay. Nhện còn dùng tơ để dệt chuông để trú và lặn xuống
nước, dệt bọc trứng, dùng để phát tán
Bộ lớn, hiện nay biết khoảng 20.000 loài, chia thành 3 phân bộ:
+ Liphistimorpha còn giữ nhiều đặc điểm cổ như bụng phân đốt, có
2 đôi phổi sách, 2 đôi nhú tơ Phân bố ở vùng Viễn Đông.
+ Mygalomorrpha: Bụng không phân đốt nhưng vẫn có 2 đôi phổi.
Sống trong hang hay trên cây vùng nhiệt đới.
+ Araneomorpha: Bụng không phân đốt. Thở bằng phổi sách, khí
quản hay cả 2. Gồm phần lớn nhện hiện sống.
Ở Việt Nam nhện phân bố khắp nơi. Các loài phổ biến như Theridon
rufipes, Heteropoda pressula, Menemerus bivitatus thường gặp trong nhà.
Nhện tơ vàng (Nephila maculata), nhện gai (Gasteracantha propingua),
nhện sừng (Gasteracantha arculata) thường gặp trong rừng. Loài
Latouchia cunicularia, Avicularia sp (nhện hốc) thường gặp trong hang
hốc phía nam. Loài Salticus manducator có hình dạng giống kiến.
2.3.7 Bộ Ve bét (Acarina)
Hiện tượng phân đốt chỉ gặp ở một số ve bét cổ (Endostigmata,
Paleacarina) với 7 đốt phần đầu ngực và 6 – 8 đốt phần bụng. Phần lớn ve
bét hiện sống, cơ thể tập trung thành một khối, dấu vết phân đốt chỉ còn lại 201
trên tấm giáp, tơ Tuy nhiên có thể nhận biết phần đầu ngực qua 6 đôi
phần phụ đặc trưng. Kìm và chân xúc giác biến đổi thành cơ quan miệng
(có thể phân biệt 2 kiểu là kiểu nghiền hút thấy ở nhóm động vật sử dụng
thức ăn rắn, kiểu đốt hút ở nhóm ký sinh hút máu. Là nhóm động vật rất
da dạng về môi trường sống, về hoạt động thụ tinh, về quá trình phát triển:
Về môi trường sống: Chúng có thể sống trong đất, thảm mục, trong nước,
ký sinh ngoài hay ký sinh trong ở động vật và thực vật. Có vai trò gây và
trùng và động vật có xương sống. Đại diện có loài Trombicula deliensis 202
truyền bệnh sốt mò ở người, ký sinh trên chuột nhà.
Mạt (Gammasoidea): Sống tự do trong đất hay ký sinh hút máu. Đại
diện có Mạt chuột (Ornithonyssus bursa) có thể tấn công người.
Ve (Ixodoidea): Có nhiều loài ký sinh gây bệnh cho người. Hiện nay
biết 2 họ là Ve mềm (Argasidae) ký sinh hút máu ở bò sát, chim, thú và họ
Ve cứng (Ixodidae) ký sinh hút máu gây bệnh nguy hiểm cho người.
Thường gặp ve bò (Boophilus microplus, ve chó Rhipicephalus
sanguineus.
3. Lớp Nhện biển (Pantopoda)= Nhện chân trứng (Pycnogonida)
Lớp này còn có tên gọi là lớp Nhện chân trứng (Pycnogonida). Kích
thước cơ thể thay đổi. Có loài lớn tới 30cm sống ở đáy bùn của vùng Bắc
cực, trong khi đó nhiều loài có kích thước nhỏ cỡ vài mm. Cơ thể chia làm
3 phần là đầu, ngực và bụng. Đầu kéo dài về phía trước thành vòi, có lỗ
miệng ở tận cùng, phần phụ đầu gồm có đôi kìm, đôi chân xúc giác và đôi
chân mang trứng, có 2 đôi mắt trên nhú mắt. Ngực thường 4 đốt (có thể tới
5 – 6 đốt), mỗi đốt có một đôi chân. Bụng thường tiêu giảm, tuy nhiên
nhện biển hoá thạch có phần bụng có 7 đốt. Một số loài đầu và ngực dính
với nhau tạo thành phần đầu ngực. Thân bé nên một số phần của nội quan
nằm trong các đốt gốc chân (các nhánh của ruột giữa, một phần của tuyến
sinh dục ) (hình 9.15).
4. Nguồn gốc và tiến hoá của Có kìm
Căn cứ vào các đặc điểm phát triển phôi sinh và cấu tạo cơ thể, rõ
ràng giữa các ngành phụ Trùng ba thùy, Có kìm có quan hệ mật thiết.
Trong ngành phụ Có kìm thì lớp Giáp cổ là nhóm động vật xuất hiện sớm
nhất có cấu trúc cơ thể giống với bọ cạp, còn Đuôi kiếm thì xuất hiện
muộn hơn, nhưng cấu trúc cơ thể và đặc điểm phát triển lại gần với Trùng
ba thùy. Phần lớn Hình nhện xuất hiện vào kỷ Cacbon nhưng cũng có các
đại diện gặp từ Devon. Có kìm cũng gặp hoá thạch cùng với Trùng ba
thùy từ các địa tầng từ đầu Cambri, phần lớn sống ở biển nhưng có khi gặp
cả ở nước lợ và nước ngọt.
Như vậy có thể cho rằng Có kìm tách khỏi Trùng ba thùy từ tiền
Cambri và vào thời kỳ cực thịnh của Giáp lớn đã có xuất hiện Có kìm trên
cạn. Có kìm biến đổi theo hướng ổn định số đốt (phần đầu ngực có 6 đôi
phần phụ, thu gọn cơ thể bằng cách thu gọn bụng sau, tiêu giảm phần phụ
và tập trung đốt).
Biến đổi mới thích nghi với đời sống trên cạn của Có kìm là hình
thành tầng cuticun chống thoát nước, chuyển mang sách thành phổi sách,
chuyển sang thụ tinh trong qua nhiều khâu trung gian như nhờ bao tinh,
bầu tinh, chuyển hoạt động ban đêm sang hoạt động ban ngày
Bước tiến hoá nổi bật nhất là từ môi trường nước chuyển lên trên
cạn với mọi nơi, mọi chỗ. Nhóm Nhện và Ve bét có độ phong phú về số
loài và môi trường sống cao nhất. Tiến hoá của Nhện còn gắn chặt với sự
hình thành tơ để bắt mồi và làm tổ, còn tiến hoá của bét là giảm bớt kích
thước cơ thể và biến thái phức tạp, do vậy khả năng thích nghi với điều
kiện môi trường của Ve bét được tăng cao. 204
IV. Phân ngành Có mang (Branchiata)
Hiện biết khoảng 20.000 loài, chỉ có 1 lớp.
phần gốc làm nhiệm vụ giữ và xé mồi, nhánh trong và nhánh ngoài), năm
đôi chân bò (làm nhiệm vụ chuyển vận nên nhánh ngoài tiêu biến hẳn.
Một số bọn có chân bơi biến thành cơ quan tự vệ và tấn công, giáp xác
Mười chân có thêm nhánh bên dưới dạng lá mang ở gốc chân. Mặt trên
đầu ngực có một giáp cứng bảo vệ - giáp đầu ngực là một nếp gấp của vỏ
cơ thể, phía trước có chủy đầu. 205
Bụng có 7 đốt (trừ nhóm Leptostraca bụng gồm có 8 đốt), thay đổi
muối can xi (cácbônat hay phốtphat) ở trạng thái không định hình hay tinh
thể nên vỏ rất cứng (tôm, cua). Vỏ giáp của giáp xác sống nổi còn có thêm
nhiều lông, gai để tăng diện tiếp xúc với nước. Các mấu lồi trong
(apoderma) của vỏ sẽ hình thành nên bộ xương trong làm chỗ bám cho cơ
là tế bào mang sắc tố (chromatophore). Sắc tố chủ yếu là một hỗn hợp
caroten gọi là zooerythrin. Ở giáp xác cao còn có guanin (monôaminô –
mônôxypurin) coi như sắc tố trắng. Ví dụ như sắc tố cyanocristalin quyết
định màu lơ của tôm hùm, khi bị đun nóng cyanocristalin sẽ biến thành
zooerythrin có màu đỏ do vậy khi luộc hay rang của, tôm thì chúng
chuyển sang màu đỏ tươi (hình 9.17).
1.1.3 Hệ hô hấp
Là mang nằm ở các đôi chân ngực hay chân bụng, có dạng tấm hay
dạng sợi. Hoạt động hô hấp nhờ dòng nước chảy liên tục qua mang. Mang
có mối quan hệ chặt chẽ với hệ tuần hoàn. Ở giáp xác thấp (Copepoda,
Ostracoda ) thì không có cơ quan hô hấp riêng biệt. Do cơ thể nhỏ bé, lớp
cuticun mỏng nên có thể thực hiện trao đổi khí qua bề mặt cơ thể. 206 Hình 9.17 Cấu tạo vỏ cơ thể Giáp xác (theo Barnes)
mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của hệ hô hấp. Bộ phận chủ yếu là
một ống lưng, có phần phình có khả năng co bóp, được gọi là tim. Tim có
lỗ tim và xoang tim. Máu sau khi chảy ra khỏi tim thì chảy vào trong các
xoang hở ở các nội quan của cơ thể (hệ tuần hoàn hở). Ở giáp xác thấp thì
hệ tuần hoàn kém phát triển. Ví dụ như Daphnia không có mang, chỉ có
tim, Copepoda không có hệ tuần hoàn. Ở giáp xác cao hệ tuần hoàn phát
triển, nhất là bọn Mười chân (Decapoda). Tim của chúng hình ống hay
hình túi nằm ở mặt lưng, có xoang bao tim (đây là phần còn lại của thể
xoang. Ngoài ra còn có hệ mạch máu phức tạp chuyển máu từ tim về các
cơ quan của cơ thể, về mang rồi từ mang theo khe hổng về xoang bao tim.
Máu giáp xác có thể đông, ở giáp xác cao thì có sắc tố hemôglobin có
nhân kim loại là đồng (Cu) còn ở giáp xác thấp thì nhân sắt (Fe).
1.1.6 Hệ bài tiết
Hình 9.18 Nội quan của tôm càng Macrobrachium
đổi ở các nhóm giáp xác khác nhau. Ở giáp xác thấp thì thần kinh theo
kiểu bậc thang, còn giáp xác cao thì biến đổi theo hướng tập trung theo
chiều ngang (hai hạch xích lại gần nhau), hay theo chiều dọc (hình thành
hạch dưới hầu gồm 3 đôi hạch hàm). Ví dụ như ở Tôm càng, cơ thể có 20
đốt nhưng chỉ có 13 hạch thần kinh (1 não, 1 hạch dưới hầu, 5 hạch ngực,
5 hạch bụng, 1 hạch đuôi). Ở giáp xác cũng phát triển hệ thần kinh giao
cảm. Giác quan khá phát triển. Cơ quan cảm giác xúc giác và vị giác, đó là
các tơ tập trung trên râu và trên các phần phụ khác nhau. Cơ quan thăng
bằng là các bình nang. Cơ quan thị giác là các mắt đơn và mắt kép, cấu tạo
khá phức tạp. Tuỳ theo nhóm giáp xác mà có thể có cả 2 loại mắt hay chỉ
có một loại mà thôi (hình 9
.19).
1.1.8 Hệ sinh dục
Giáp xác thường phân tính, một số ít nhóm lưỡng tính như Ciripedia
sống bám và Isopoda ký sinh. Tuyến sinh dục thường chập làm một. Hiện
tượng dị hình chủng tính biểu hiện khá rõ ở giáp xác thấp. Tinh trùng có
cấu tạo đặc biệt (hình 9.20B). Quá trình thụ tinh thay đổi tuỳ loài. Một số
giáp xác có túi chứa tinh, con đực phóng tinh trùng trực tiếp vào cơ quan
sinh dục của con cái, một số khác qua bao tinh và dùng đôi chân bụng thứ
nhất và thứ 2 của con đực. Ở con cái thường có tuyến tiết chất dịch hoà tan
vỏ bao tinh và thường dùng chân ôm trứng. Số lượng trứng thay đổi tủy 209
loài (từ vài trăm đến hàng ngàn hay hàng trăm ngàn trứng). đuôi. Giai đoạn phát triển tiếp theo có sự sai khác với giun đốt là các tế
bào lát thành thể xoang đã được hình thành và bị phân tán tạo thành các cơ
quan có nguồn gốc từ lá phôi giữa như tim, cơ, mô liên kết, xoang thứ sinh
nhập với phần còn lại của xoang nguyên sinh tạo thành xoang hỗn hợp
(mixocoelum) (hình 9.21). Sau giai đoạn phôi, giáp xác biến thái phức tạp.
Giáp xác sinh sản hữu tính
nhưng ở một số giáp xác thấp lại
có khả năng xử nữ và có hiện
tượng xen kẽ thế hệ theo mùa.
Trứng phát triển phụ thuộc vào
lượng noãn hoàng nhiều hay ít.
Trứng giàu noãn hoàng thì phân
cắt bề mặt. Phôi phát triển ở giai
đoạn đầu như giun đốt: Dải tế
bào phôi giữa tạo thành 2 đốt ấu
trùng (đốt mang đôi râu 2 và đốt
mang đôi hàm trên) nằm phía sau
đốt mang mắt và đôi râu 1. Sau
đó mới hình thành các đốt sau ấu
trùng từ vùng sinh trưởng phía
Hình 9.20 Tuyến sinh dục của tôm
(theo Dogel)
A. Potamobius astacus; B. Tinh trùng Galathea
1. Phần kép; 2. Phần đơn; 3. Ống dẫn tinh; 4.
phôi. Ví dụ như Cua bể nở ngay ra ấu trùng zoea, tôm nước ngọt nở ngay
ra tôm con.
Ấu trùng giáp xác là thành phần quan trọng của sinh vật nổi ở biển
và ở nước ngọt. Chúng là thức ăn chủ yếu của nhiều loài thủy hải sản.
1.3 Phân loại và các đại diện quan trọng
Trước đây việc phân loại lớp Giáp xác chủ yếu dựa vào kích thước
và số đốt của cơ thể, không bao hàm tính chất tiến hoá. Ví dụ như người ta
đã chia thành 2 phân lớp là Giáp xác thấp (Entomotraca) bao gồm những
giáp xác kích thước nhỏ, số đốt không cố định, ranh giới các phần cơ thể
không rõ ràng, thiếu phần phụ bụng, phát triển có biến thái và Giáp xác
cao (Malacostraca) bao gồm các giáp xác có số đốt cố định, có phần phụ
bụng, mắt kép có cuống, có giáp đầu ngực, biến thái phức tạp. Hiện nay có
nhiều ý kiến khác nhau về hệ thống phân loại của giáp xác. Lớp Giáp xác
hiện nay biết khoảng 20.000 loài, chia làm 6 phân lớp.
1.3.1 Phân lớp Chân chèo (Remipedia)
Động vật thuộc nhóm này là giáp xác cổ, chỉ mới được phát hiện gần 211
đây (vào những năm 80 của thế kỷ 20), sống trong hang hốc của các đảo
có nguồn gốc núi lửa thuộc quần đảo Haoai, cách ly với nước biển. Cơ thể
có nhiều đốt, dài, mới nhìn giống con rết, mỗi đốt mang một đôi chi nhiều
nhánh. Đại diện có giống Speleonectes (hình 9.23A).
14. Tu
y
ến râu
1.3.2 Phân lớp Giáp đầu (Cephalocarida)
Là nhóm giáp xác cổ, mới được phát hiện vào năm 1957 ở bờ biển
Bắc Mỹ. Kích thước bé (2,5 – 5mm), sống trong bùn đáy biển nông. Đầu
có bờ sau trùm lên đốt ngực đầu tiên, không có mắt, râu trong và râu ngoài
dạng 2 nhánh, râu ngoài ở phía sau miệng. Hàm trên kém phát triển, hàm
dưới I và II chưa điển hình, còn giống chân ngực, có 2 nhánh. Thân dài,
gồm 10 đốt ngực, mỗi đốt mang 1 đôi chân và có 9 đốt bụng, không có
chân, tận cùng là chạc đuôi (hình 9.23B). 212
vẫn có thể sinh sản trong môi trường nước lợ hay nước ngọt trong thời
gian ngắn. Thường sinh sản đơn tính, trứng có vỏ bền, có thể giữ được
một vài năm và có thể phát triển bình thường khi gặp điều kiện thuận lợi.
Loài này được nhân nuôi để làm thức ăn cho nghề nuôi trồng thủy sản.
Bộ Có mai (Notostraca): Có mai (giáp) phủ kín phần đầu ngực, số
đốt nhiều (tới 40 đốt), sống ở vùng nước ngọt vùng ôn đới. Đại diện có
loài Triops cancrformis. Hiện đang tồn tại phổ biến ở vùng biển ôn đới
nhưng hoá thạch đã phát hiện được từ kỷ Triat (cách đây 200 triệu năm).
Bộ Vỏ giáp (Conchostraca): Có 2 vỏ giáp bao kín cơ thể và có cơ
khép vỏ phía đầu. trứng có thể chống chịu cao với điều kiện môi trường
không thuận lợi nên có thể tồn tại ở các thủy vực tạm thời như ruộng lúa
nước có 1 vụ. Đại diện có các loài Cyslestheria hislopi, Eulimnadia
brasilliensis thường gặp ở ao hồ ruộng lúa ở Việt Nam.
Bộ Râu ngành (Cladocera): Cơ thể có 2 vỏ giáp bọc kín, nhưng phần
đầu phân hoá thành mỏ. Râu 2 phát triển, chẻ thành 2 nhánh có nhiều lông
là cơ quan bơi. Râu 1 bé, tiêu giảm ở con cái. Có hiện tượng xen kẽ sinh
sản đơn tính với sinh sản hữu tính. Sinh sản đơn tính là con cái đẻ Trứng
không thụ tinh, được chứa trong phòng trứng ở mặt lưng con vật. sinh sản
hữu tính là con cái có trứng thụ tinh có vỏ dày được bảo vệ tốt có thể tồn
tại lâu được gọi là trứng nghỉ (ephippium), chờ đến khi có điều kiện thuận
lợi thì phát triển thành con non. Nhờ có hiện tượng xen kẽ này mà râu
ngành có số lượng lớn trong thủy vực, chúng là thành phần thức ăn quan
trọng cho các loài thủy sản (Moina, Daphnia ). Hình dạng của một số râu
ngành phụ thuộc vào thời gian các tháng trong năm (hiện tượng biến hình
chu kỳ - cyclomorphose). Chính điều này đã gây ra sự nhầm lẫn trong
phân loại râu ngành. Ví dụ như gần 100 loài được công bố trước đây của
giống Bosmina thực chất chỉ là các "dạng" mùa của 2 loài mà thôi.
Hiện biết 400 loài sống ở nước mặn và nước ngọt. Ở Việt Nam có
khoảng 50 loài râu ngành nước ngọt và 2 loài sống ở nước mặn hay nước
lợ. Đại diện có các loài Daphnia carinata, Simocephalus elizabethae, lu
Hình 9.24 Giáp xác sống tự do và ký sinh (theo Dogel và Jadin và Gerd)
A. Derochelicaris remanei; B. Cyclops strenuus; C. Diaptomus; D. Harpacticoida; E.
Ergasi
. Đầ
s peregrinus; G. Lamproglena compacta; H. Achteres; 1. Mắt; 2. Râu 1; 3. Râu
2; 4 u phức tạp; 5. Bốn đốt ngực tự do; 6. Đốt sinh dục ở bụng; 7. Túi trứng; 8.
Ch
ạ
c đuôi
;
9. Ru
ộ
t
;
10. Cơ
d
ọ
c n
gự
c
;
11. Tu
y
ến trứn
đôi chân ngực dạng 2 nhánh và có mắt đơn và mắt kép. Đại diện có loài
Argulus foliaceus (rận cá), ký sinh ở cá nước ngọt, gây hại lớn cho nghề
nuôi cá. Trong phát triển có đặc trưng là trứng nở thành ấu trùng sai khác
không đáng kể so với trưởng thành.
Bộ Chân tơ (Cirripedia): Nhóm giáp xác sống ở biển, ấu trùng bơi
lội tự do trong nước, còn trưởng thành thì sống định cư hay ký sinh nên
thay đổi hình dạng nhiều. Trưởng thành có râu 1 và phần trước đầu biến
đổi thành cơ quan bám, râu 2 và mắt kép tiêu giảm, chân ngực có cấu tạo 2
nhánh dài với nhiệm vụ lọc và đưa thức ăn tới miệng. Bụng không phát
triển. Có các mảnh đá vôi phủ kín một phần hay toàn bộ cơ thể. Phần lớn
Chân tơ lưỡng tính, có cơ quan giao phối dài ở cuối bụng. Về nguồn gốc
của lưỡng tính có thể cho rằng lúc đầu, một số Chân tơ đơn tính do con
đực bé hơn con cái nên con đực thường chuyển vào sống ký sinh ở con
cái, từ đó hình thành nên cá thể lưỡng tính. Một số Chân tơ ký sinh có
trưởng thành mất hẳn cấu tạo điển hình của giáp xác, tuy nhiên vẫn giữ ấu
trùng đặc trưng là nauplius, cipris. Việt Nam khá phong phú về khu hệ
Chân tơ, chúng phân bố rộng ở các vùng triều và vùng cửa sông. Các
giống thường gặp là Lepas (Sen biển), Balanus (sun), Scalpellum, Mitella
sống bám và giống (Sacculina) ký sinh ở cua.
1.3.5 Phân lớp Giáp trai (Ostracoda)
Chỉ có một bộ là bộ Giáp trai (Ostracoda). Cơ thể có 2 vỏ giáp như
vỏ trai, ít đốt: 2 - 3 đốt ngực, bụng không phân đốt, chạc đuôi. Đầu có đủ 5
đôi phần phụ, có mắt đơn, không có tim và mang. Ostracoda phân tính,
phát triển qua ấu trùng nauplius. Hiện nay biết khoảng 2.000 loài, sống ở
nước mặn và nước ngọt, hoá thạch của chúng từ Cambri. Ở Việt Nam 216
thường gặp Strandesia uenoi, Heterocypris anomata, Stenocypris
malcolmsoni, Delerocypris sinensis.
nhánh, đôi 1 biến đổi thành chân - hàm. Chân bụng là chân bơi, đôi chân
bụng thứ 6 có cơ quan thăng bằng. Mắt kép có cuống. Mang nằm trên
phần phụ ngực. Con cái mang trứng ở ngực, trứng phát triển trong này tới
con non mới rời cơ thể mẹ. Thức ăn của Chân chẽ là vi sinh vật, tảo và
giáp xác nhỏ. Chân chẽ là thức ăn quan trọng của cá. Hiện nay biết khoảng
500 loài. Đại diện có giống Mysis.
Bộ Bơi nghiêng hay Chân khác (Amphipoda): Cơ thể thường dẹp 217
bên, phần đầu thường gắn liền với 1 – 2 đốt của ngực, mắt kép không có
cuống, không có vỏ giáp đầu ngực. Phân tính, trứng thụ tinh được giữ
trong khoang trứng nằm ở dưới ngực, phát triển thành con non mới rời cơ
thể mẹ. Hiện biết khoảng 4.500 loài, sống ở đáy hay trôi nổi ở biển, nước
ngọt và một số sống ký sinh. Ở Việt Nam, Bơi nghiêng còn ít được nghiên
cứu, có khoảng 40 loài thuộc các giống Corophium, Crandidirella,
Kamaka ở khu nước ngọt và nước lợ ven biển. Có các giống ở biển như
Ampelisa, Byblis, Hyale, Hyperia, Caprella. Chúng đều là thức ăn quan
trọng của cá.
Bộ Hình tôm (Euphausiacea): Thoạt nhìn giống tôm nhỏ nhưng sai
khác là gáp đầu ngực không che kín gốc chân ngực và mang, chân ngực 2
nhánh, không có chân hàm, có cơ quan phát quang đặc trưng trên cuống
mắt, gốc chân ngực và các đốt bụng. Con cái đẻ trứng vào nước hay dính
vào chân bơi, phát triển qua ấu trùng nauplius. Sinh sản nhanh. Ví dụ như
loài Euphausia pellucida là thức ăn chủ yếu của cá voi vùng Nam cực. Ở
Việt Nam thường gặp loài Pseudophausia latifrons.
Bộ Mười chân (Decapoda): Bao gồm các giáp xác có kích thước cơ
thể lớn, sống ở nước ngọt, nước lợ và biển, một số it sống trên cạn. Đầu
nguyên thủy có mắt kép có cuống và 2 đôi râu Tất cả các đốt ngực hợp với
phần đầu tạo thành đầu ngực, có giáp đầu ngực (tôm) hay biến đổi thành
Cancer, Scylla, Varuna, Uca, Oxypoda Đại diện của nhóm tôm Hùm có
các giống như Homarrus, Palinurus, Astacus. Đại diện của nhóm tôm Ký
cư có các giống như Birgus latro (cua dừa), Pagurus, Coenobita. Giáp xác
Mười chân là đối tượng nuôi trồng rất có gía trị và là đối tượng khai thác
quan trọng ở nhiều nước.
1.4 Tầm quan trọng của giáp xác
Do phân bố rộng, giáp xác giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái
là trung gian chuyển hoá vật chất, ăn mùn bã hữu cơ, thực vật, vi sinh vật
và động vật bé để tạo nên hợp chất hữu cơ có chất lượng cao hơn.
Hoá thạch của giáp xác (Conchostraca, Ostracoda) đã tìm thấy từ
nguyên đại Cổ sinh, có giá trị chỉ thị địa tầng và tìm kiếm dầu khí.
Nhiều giáp xác lớn là đối tượng khai thác có giá trị cao của ngành
hải sản. Sản lượng khai thác hàng năm lên tới 1,9 triệu tấn, chủ yếu là tôm
biển. Trong tự nhiên giáp xác là nguồn thức ăn rất quan trọng của nhiều
loài cá ăn đáy và ăn nổi. Ví dụ như loài Euphausia superba là thức ăn chủ
yếu của cá voi Nam cực. Một số loài giáp xác nhỏ thuộc các giống
Daphnia Moina được nuôi nhân tạo làm thức ăn cho cá nuôi.
Tác hại của giáp xác không nhỏ. Bao gồm các loài sống bám như hà,
sun (bộ Chân tơ), các loài đục gỗ như Limnoria, Chelura gây hại cho vỏ
tàu thuyền dưới nước. Các loài Chân kiếm, Chân đều, Mang đuôi ký sinh
ở cá, là vật chủ trung gian cùa nhiều loài sán lá, sán dây. Cua núi là vật
chủ trung gian cho các loài sán phổi. Loài cua Eriocheir sinensis di nhập
vào biển Ban tích đục phá đê biển. Tôm gõ mõ (Alpheidae) thường phát ra
tiếng động gây nhiễm loạn thông tin đường biển
Ở Việt Nam hiện nay đã biết khoảng 1.600 loài giáp xác. Các họ có
thành phần loài phong phú và có giá trị kinh tế cao như Tôm he
(Penaeidae), Tôm hùm (Palinuridae), Cua bơi (Portunidae), Cua rạm
(Grapsidae), Còng, cáy (Ocypodidae), tôm bọ ngựa (Squillidae) Nhiều
loài được khai thác trực tiếp, một số loài khác được nuôi để xuất khẩu.
Tôm he (Panaeidae): Biển Việt Nam hiện nay biết khoảng 77 loài,