Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường nha trang, tỉnh khánh hòa - Pdf 20

- i -
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình, em đã
nhận được rất nhiều sự đóng góp ý kiến, động viên, giúp đỡ từ phía gia đình, người
thân, thầy cô, bạn bè,…Chính vì thế, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất
đến tất cả mọi người.
Đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô Trường Đại học Nha
Trang nói chung và Khoa Kinh tế nói riêng, đã truyền đạt những kiến thức cơ bản
và bổ ích trong suốt quá trình học tập vừa qua của em.
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn Th.S Nguyễn Ngọc Duy – Người trực tiếp
hướng dẫn em thực hiện khóa luận này. Thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt
quá trình làm đề tài, giúp em có được cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề mình nghiên
cứu.
Qua đây, em cũng xin cảm ơn anh Tuấn – Trưởng phòng kinh doanh của Công
ty TNHH Tín Thịnh, chị Thủy – Nhân viên phòng kinh doanh và chị Liên – Nhân
viên phòng kế toán của Công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17; cùng các bác,
các cô, chú, các anh, chị ở cảng Hòn Rớ, chợ Đầm, chợ Vĩnh Hải, chợ Phước Hải
đã giúp đỡ em thực hiện và hoàn thiện các bảng câu hỏi nghiên cứu, giúp em có căn
cứ để thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Và cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm,
động viên em hoàn thành khóa luận này.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn ! Nha Trang, tháng 07 năm 2011
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Ánh Dũng
- ii -

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Khánh Hòa 33
2.2.1 Tình hình sản xuất sản phẩm thủy sản Khánh Hòa 34
2.2.2 Tình hình tiêu thụ 36
2.3 Tình hình tiêu thụ cá ngừ 37
2.3.1 Giới thiệu cá ngừ 37
2.3.2 Tình hình tiêu thụ cá ngừ Việt Nam 39
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI
NHA TRANG 42
3.1 Cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 42
3.1.1 Các tác nhân trong chuỗi cá ngừ sọc dưa 43
3.1.2 Tình hình cạnh tranh mặt hàng cá ngừ sọc dưa của các tác nhân trong
chuỗi giá trị 55
3.1.3 Quá trình hình thành giá 58
3.2 Các thể chế, chính sách ảnh hưởng đến ngành thủy sản và nghề cá ngừ Việt
Nam 59
3.3 Phân tích chi phí – lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc
dưa tại Nha Trang 62
3.3.1 Ngư dân 62
3.3.2 Chủ nậu vựa 63
3.3.3 Người bán sỉ cấp 1 64
3.3.4 Người bán sỉ cấp 2 65
3.3.5 Người bán lẻ 66
3.3.6 Công ty chế biến 67
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VỊ THẾ CẠNH TRANH CHUỖI GIÁ TRỊ
CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG 74
4.1 Giải pháp 1: Thiết lập cơ chế hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa
Nha Trang 74
4.2 Giải pháp 2: Tổ chức hợp tác ngang giữa các ngư dân khai thác 78
- iv -
4.3 Giải pháp 3: Tăng cường liên kết giữa các công ty chế biến xuất khẩu thủy

- v -
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các nhân tố của SCP 10
Bảng 1.2: Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu 10
Bảng 3.1: Chi phí – lợi nhuận của ngư dân 63
Bảng 3.2: Chi phí – lợi nhuận của chủ nậu vựa 63
Bảng 3.3: Chi phí – lợi nhuận của người bán sỉ cấp 1 65
Bảng 3.4: Chi phí – lợi nhuận của người bán sỉ cấp 2 66
Bảng 3.5: Chi phí – lợi nhuận của người bán lẻ 66
Bảng 3.6: Chi phí – lợi nhuận của công ty chế biến 67
Bảng 3.7: Tổng hợp chi phí – lợi nhuận của chuỗi cá ngừ sọc dưa Nha Trang 69

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1: Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp. Nguồn: [3] 4
Hình 1.2 : Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP 9
Hình 1.3: Mô hình 5 lực lượng. Nguồn: [2] 17
Hình 2.1: Các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn năm 2010 32
Hình 2.2: Xuất khẩu cá ngừ 11 tháng đầu năm 2010 40
Hình 3.1 Ngư dân tại cảng Hòn Rớ 43
Hình 3.2 Hoạt động của nậu vựa tại cảng Hòn Rớ 47
Hình 3.3 Người bán sỉ tại cảng Hòn Rớ 49
Hình 3.4 Người bán lẻ tại chợ Đầm 51
Hình 3.5 Quang cảnh công ty Cổ phần Nha Trang Seafood – F17 52
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 42
Sơ đồ 4.1: Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa 76
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài

Là một loài thuộc họ cá ngừ, hiện nay cá ngừ sọc dưa nằm trong số ít các loài
cá ngừ được đánh bắt ở dưới mức tối đa cho phép và còn tiềm năng khai thác cao.
Với sản lượng khai thác được quanh năm phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, cá ngừ
sọc dưa đem lại nguồn thu nhập lớn cho các tác nhân tham gia vào quá trình sản
xuất và phân phối sản phẩm này. Tuy nhiên, làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh
tranh lâu dài cho mặt hàng này là câu hỏi không những cho các tác nhân trong chuỗi
mà còn cho cả những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.
Xuất phát từ các vấn đề ở trên, em thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp là
“Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa”. Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ giải quyết được các mục tiêu đặt ra và đề
xuất các chính sách nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh cho chuỗi giá trị cá ngừ sọc
dưa tại thị trường Nha Trang, Khánh Hòa.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm
- Phân tích cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
- Đánh giá cách thức vận hành thị trường của các tác nhân trong chuỗi giá trị
cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
- Xác định phân phối lợi ích của các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao tính cạnh tranh cho toàn chuỗi giá trị mặt
hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa bao
gồm: ngư dân, chủ nậu vựa, công ty chế biến, người bán sỉ cấp 1, người bán sỉ cấp
2, người bán lẻ.
- Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Thời gian tiến hành điều tra là tháng 04/2011 với số liệu thu thập được của năm
2010.
- 3 -
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu:

lần lượt các hoạt động của chuỗi, mỗi sản phẩm nhận được một số giá trị. Các hoạt
động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý
sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng. Các hoạt động bổ trợ nhằm hỗ trợ
cho các hoạt động chính [2].

Hình 1.1: Chuỗi giá trị áp dụng cho một doanh nghiệp. Nguồn: [3]
Hậu
cần ra
ngoài
- 5 -
Các hoạt động chính: bao gồm hậu cần đến, sản xuất, hậu cần ra ngoài,
marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng.
1

Hậu cần đến: Những hoạt động liên quan đến việc nhận, lưu trữ, dịch chuyển
đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn
kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp
Sản xuất: là hoạt động chuyển nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm hoàn

Cũng đứng trên góc độ xem xét chuỗi giá trị của một ngành, tác giả Nguyễn
Thị Trâm Anh đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản: “Chuỗi giá
trị sản phẩm thủy sản được hiểu là sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi, bao
gồm nhà cung ứng đầu vào (ngư dân / hộ nuôi trồng thủy sản và người cung ứng
dịch vụ như con giống, thức ăn, thuốc, tín dụng, kỹ thuật ), nhà mua bán trung
gian, nhà chế biến, nhà nhập khẩu, nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng
thông qua dòng chảy sản phẩm trước và dòng thông tin phản hồi sau” [5].
Nhìn chung, một ngành có thể được ví như một doanh nghiệp lớn, mỗi doanh
nghiệp trong ngành có thể xem như bộ phận nhỏ của doanh nghiệp lớn đó, tham gia
vào một số công đoạn để chế biến từ đầu vào thành đầu ra cung cấp cho thị trường.
Một số ngành có thể có nhiều chuỗi giá trị gia tăng khác nhau liên quan đến các sản
phẩm khác nhau. Trong mỗi chuỗi giá trị gia tăng như vậy, phần đóng góp của mỗi
công đoạn sẽ có giá trị khác nhau. Phân tích chuỗi giá trị ngành giúp ta nhìn ra giá
trị của mỗi công đoạn, nhận diện xu hướng biến đổi của từng công đoạn và điều cốt
lõi nhất là những yếu tố làm ra giá trị cho mỗi công đoạn. Từ đó giúp các doanh
nghiệp trong chuỗi ngành có thể đánh giá bản thân và các doanh nghiệp khác trong
chuỗi mạnh yếu chỗ nào, nhìn ra cơ hội tạo ra giá trị tốt nhất để khai thác [6].
1.2 Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, trước tiên
cần hiểu qua về khái niệm chuỗi cung ứng. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về
chuỗi cung ứng được nhắc đến, có thể kể đến một số khái niệm như:
Bài giảng của GS. Souviron về quản trị chuỗi cung cấp: “Chuỗi cung cấp là
một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên - 7 -
và phía dưới trong các quá trình và hoạt động khác nhau sản sinh ra giá trị dưới hình
thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng” [7].
Theo Ganeshan & Harrison “chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình
bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người

không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho,
nhà bán lẻ và khách hàng của nó.
Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng:
Mọi người sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ
chức. Khi con người nhấn mạnh đến họat động sản xuất, họ xem chúng như là các
quy trình sản xuất; khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọi chúng là
kênh phân phối; khi họ nhìn ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị; khi
họ nhìn nhận về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi nó là chuỗi nhu
cầu; khi tập trung vào sự dịch chuyển nguyên vật liệu gọi là chuỗi cung ứng [3].
Theo khái niệm thì chuỗi cung ứng là sự nối tiếp nhau của các quá trình và
các hoạt động nhằm mục đích có được những sản phẩm từ trạng thái ban đầu
(nguyên liệu), để đưa nó từ nhà máy đến tay khách hàng. Chuỗi cung ứng cũng có
thể bao gồm việc vận chuyển từ khách hàng đến các công ty tái chế sau khi sử dụng
nó. Chuỗi cung ứng liên quan đến nhu cầu của khách hàng, nó sẽ thay đổi tùy thuộc
vào nhu cầu của khách hàng.
Trong khi đó chuỗi giá trị là sự kế tiếp nhau của quá trình, các hoạt động và
dịch vụ nhằm tăng giá trị cho mặt hàng đó. Nó không những chỉ bao gồm các
bước tạo ra sản phẩm mà còn cung cấp các dịch vụ cho khách hàng như dịch vụ
khách hàng hoặc bảo hành. Định nghĩa chuỗi giá trị được hiểu là giá trị của sản
phẩm phụ thuộc vào sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vào chất lượng sản xuất
và phụ thuộc vào dịch vụ kèm theo.
Như vậy, chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng tuy khác nhau nhưng lại bổ sung cho
nhau. Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của
chuỗi. Đối với mỗi khách hàng khác nhau, phụ thuộc vào việc họ trả bao nhiêu cho
các đặc tính của sản phẩm đó mà tổng giá trị của chuỗi sẽ khác nhau.
- 9 -
Chuỗi cung ứng phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, được đưa ra bởi chuỗi
giá trị. Chuỗi giá trị đó sẽ quyết định chuỗi cung ứng dựa vào những gì mà khách
hàng quan tâm đến [10].
1.3 Mô hình SCP (Structure - Conduct - Performance)


Kết quả thực
hiện thị trường
- 10 -

Các nhân tố trong của cấu trúc SCP được thể hiện trong bảng 1.1:
Bảng 1.1: Các nhân tố của SCP
Nhân tố cấu trúc Nhân tố vận hành Nhân tố kết quả
Những trung gian
trong hệ thống kênh
marketing
Những cản trở gia
nhập và ra khỏi ngành
Sự tham gia của người
mua và người bán
Phân loại chất lượng
Phân tích thông tin thị
trường
Cấu trúc kênh thị
trường
Cơ sở hình thành giá
Nguyên tắc điều phối
thị trường
Hoạt động mua vào
Hoạt động bán ra
Vận chuyển
Dự trữ
Thương lượng
Tiến hành
Thông tin

Quá trình hình thành giá.
Hoạt động mua vào.
Hoạt động bán ra.
Thương lượng.
Các thể chế, chính sách
liên quan.
Phân tích giá trị tăng
thêm và giá trị tạo ra để
nhận biết đâu là giá trị
kinh tế được tạo ra
trong một chuỗi giá trị.
- 11 -

Những yếu tố của cấu trúc thị trường:
Khi phân tích cấu trúc thị trường thì điều trước tiên cần được xem xét đó là các
tác nhân có liên quan đến thị trường cá ngừ sọc dưa. Những thông tin thu thập được
từ đối tượng này sẽ cung cấp một bức tranh tổng quát về các kênh tiêu thụ sản phẩm
cá ngừ sọc dưa bắt đầu từ ngư dân đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Các kênh tiêu
thụ sẽ giúp cho việc xác định mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia trên thị trường.
Bên cạnh đó, đề tài còn tập trung xem xét tính cạnh tranh trên thị trường thông
qua phân tích các tiêu chí:
- Sự tồn tại các rào cản thâm nhập và xuất ngành: sự tồn tại các rào cản gia
nhập và xuất ngành ảnh hưởng đến mối quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
hiện tại và các đối thủ tiềm ẩn. Nếu không có các rào cản gia nhập và xuất ngành,
các đối thủ mới có thể dễ dàng gia nhập thị trường làm tăng tính cạnh tranh trên thị
trường hoặc rời bỏ thị trường. Ngược lại, nếu thị trường tồn tại các rào cản gia nhập
và xuất ngành mức độ cao, các rào cản này đảm bảo cho các doanh nghiệp đang tồn
tại một sự bảo vệ để tránh được sự cạnh tranh đến từ các đối thủ tiềm ẩn.
- Sự khác biệt về sản phẩm: ở đây những người bán sẽ dựa vào các tiêu chí
khác nhau để phân định sự khác biệt giữa những sản phẩm của họ với các sản phẩm

Lợi nhuận
Lợi nhuận trên chi phí gia tăng

=

Chi phí gia tăng1.4 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Michael E. Porter
1.4.1 Khái niệm cạnh tranh
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận trong mọi hoạt
động đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực
của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng
suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng
làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Thuật ngữ này được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như
kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được
nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện
thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác
- 13 -
nhau. Chính vì vậy mà cạnh tranh có rất nhiều khái niệm khác nhau ở nhiều khía
cạnh khác nhau, cụ thể:
2

Theo từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh được định nghĩa là “tranh đua giữa những
cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, những phần thắng
về mình”.
Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học “cạnh tranh – sự đấu tranh đối lập giữa
các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên
cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”.

(người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng
với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều
kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ [13].
Theo Michael E. Porter, cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh
tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh
nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong
ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi [13].
Tóm lại, cạnh tranh là khái niệm dùng để chỉ sự tranh đua giữa các cá nhân, tổ
chức, cùng hoạt động trong một kĩnh vực, để giành phần hơn (về thị trường, khách
hàng, lợi nhuận…), phần thắng về mình.
Như vậy, cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu
cực. Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động
hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và
phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến cạnh tranh,
giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn.
Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh
tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành
mạnh giữa các chủ thể kinh doanh.
1.4.2 Lợi thế cạnh tranh
3

Lợi thế cạnh tranh và việc nghiên cứu lợi thế cạnh tranh một cách có hệ thống
mới chỉ được bắt đầu ở những năm 1980 đến nay và có nhiều quan điểm khác nhau
về lợi thế cạnh tranh:

3
Nội dung này chủ yếu tham khảo từ [12]
- 15 -
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, thì các yếu tố sản xuất, như:
đất đai, vốn, lao động, những yếu tố tài sản hữu hình là nguồn lực quan trọng để tạo

Nội dung phần này tham khảo tại [2]
- 16 -
nhau và với hoạt động cụ thể cũng như cách liên kết các hoạt động ấy với hoạt động
của nhà cung cấp, khách hàng. Nghiên cứu những nguyên nhân tiềm tàng của lợi thế
trong một hoạt động cụ thể: lý do tại sao một doanh nghiệp đạt chi phí thấp hơn,
bằng cách nào mà các hoạt động tạo ra giá trị hữu hình cho người mua. “Lợi thế
Cạnh tranh” biến chiến lược từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu
trúc nhất quán của những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tư tưởng
kinh doanh quốc tế hiện nay. Cấu trúc mạnh mẽ đó cung cấp những công cụ hữu
hiệu để hiểu được ảnh hưởng của chi phí và vị thế tương đối về chi phí của công ty,
của ngành.
Michael E. Porter chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt
động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của
nhà cung cấp và cả các hoạt động của khách hàng nữa. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh
của Porter mang đến cho chúng ta công cụ để phân đoạn chiến lược một ngành kinh
doanh và đánh giá một cách sâu sắc logic cạnh tranh của sự khác biệt hóa. Nó nhấn
mạnh rằng đa số vị thế cạnh tranh tốt bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau. Lợi thế
dựa trên một số ít các hoạt động dễ bị phát hiện và bắt chước bởi các đối thủ cạnh
tranh. Lợi thế có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi
ích cho người mua là tương đương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so
với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn.
Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của MichaelE. Porter:
Năm 1979, trên tạp chí Harvard Business Review đã xuất bản mô hình Poter’s
five focers với nội dung là tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh. Sau
khi ra đời mô hình được xem là công cụ hữu dụng và có hiệu quả trong việc tìm
hiểu nguồn gốc lợi nhuận. Nó cung cấp các chiến lược cạnh tranh trong kinh doanh
để doanh nghiệp duy trì và gia tăng lợi nhuận
Trong bất cứ ngành nghề nào, cho dù là ở phạm vi trong nước hay quốc tế,
ngành sản xuất hay dịch vụ, quy luật cạnh tranh đều thể hiện qua năm lực lượng
(xem hình 1.3):

xuất của doanh nghiệp. Khách hàng bao gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà
Nguy cơ từ những
đối thủ mới
Năng lực
đàm phán

của người
mua
Nguy cơ sản
phẩm/dịch
vụ thay thế
Năng lực
đàm phán

của nhà
cung cấp
CÁC ĐỐI THỦ
TIỀM ẨN
KHÁCH
HÀNG
SẢN PHẨM
THAY THẾ
NHÀ
CUNG ỨNG
NH
ỮNG ĐỐI THỦ CẠNH
TRANH TRONG NGÀNH Cạnh tranh hiện tại giữa

liệu, các loại dịch vụ phương tiện vận chuyển, thông tin,… Việc các nhà cung cấp
- 19 -
đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp về: số lượng, chất lượng,
chủng loại, giá cả, các điều kiện cung cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành,
doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả.
Ngược lại, trong một số trường hợp, có thể gây áp lực cho hoạt động của doanh
nghiệp.
Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Mức độ tập trung của nhà cung cấp thể hiện ở quy mô và số lượng các nhà
cung cấp. Số lượng nhà cung cấp quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm
phán của họ đối với ngành nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Nếu thị trường có
một vài nhà cung cấp lớn sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh mạnh ảnh hưởng tới sản xuất
của toàn ngành. Ngược lại, khi trên thị trường thị phần của các nhà cung ứng được
chia nhỏ thì sức ép cạnh tranh sẽ được giảm xuống, khả năng ảnh hưởng tới ngành
của một nhà cung ứng là không nhiều.
- Tầm quan trọng của nhà cung ứng thể hiện ở số lượng sản phẩm mà họ
cung ứng, sự khác biệt về sản phẩm cung ứng, khả năng thay thế của các nhà cung
cấp, chi phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành.
Sự hiểu biết thông tin về nhà cung cấp cũng giúp cho doanh nghiệp có quyết
định đúng đắn nhất về sự lựa chọn nhà cung ứng. Trong thời đại bùng nổ thông tin
hiện nay, điều đó cũng là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp giảm sức ép cạnh
tranh từ nhà cung ứng.
Đối thủ tiềm ẩn:
Michael E. Porter cho rằng các đối thủ tiểm ẩn là những doanh nghiệp hiện tại
chưa tham gia vào ngành nhưng có khả năng cạnh tranh trong tương lai nếu họ
quyết định gia nhập ngành. Về mọi phương diện các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
chưa bằng các đối thủ trong ngành. Tuy nhiên họ có hai điểm mà chúng ta cần chú ý
là: có thể biết được điểm yếu của đối thủ hiện tại; và có tiềm lực tài chính, công
nghệ mới để sản xuất các sản phẩm mới.
Đối thủ tiềm ẩn ít hay nhiều, áp lực họ gây ra cho ngành mạnh hay yếu còn

thủy sản [14].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status