i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG PHAN LÊ DIỄM HẰNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN LÊ DIỄM HẰNG
CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM
Tôi tên Phan Lê Diễm Hằng, học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh Khóa
2009, Trường Đại học Nha Trang xin cam đoan:
Mọi tài liệu, số liệu dùng phân tích, tính toán và dẫn chứng trong luận văn thạc sĩ
là chính xác, trung thực, hợp lệ và không vi phạm pháp luật.
Tôi thực hiện nội dung luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh.
Nha Trang, ngày 20 tháng 07 năm 2012
Phan Lê Diễm Hằng
iv
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
PHẦN MỞ ĐẦU x
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Kết cấu đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 5
1.1.1. Khái niệm lợi thế cạnh tranh 5
1.1.2. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 6
1.1.3. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter 9
1.2. Lý thuyết về chuỗi giá trị 12
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị 12
1.2.2. Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 14
1.2.3. Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị 14
1.2.4. Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu 16
1.2.5. Phương pháp phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 20
1.2.6. Phương pháp phân tích chuỗi giá trị dựa vào ứng dụng mô hình SCP 22
1.3. Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài 25
1.3.1. Nghiên cứu nước ngoài 25
1.3.2. Nghiên cứu trong nước 27
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 32
2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 32
vi
4.2. Tổ chức vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh trong ngành 60
4.2.1. Phương thức giao dịch mua bán và thanh toán trên thị trường 60
4.2.2. Quy trình xác lập giá mua bán 61
4.2.3. Tiếp cận thông tin thị trường 63
vii
4.2.4. Hoạt động kiểm soát chất lượng sản phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc 65
4.2.5. Tình hình cạnh tranh trong ngành 67
4.2.5.1. Rào cản ngành và mức độ cạnh tranh 67
4.2.5.2. Mức độ khác biệt của sản phẩm 70
4.2.6. Tác động của các qui định và chính sách đến các tác nhân trong chuỗi 70
4.3. Kết quả thực hiện thị trường 75
4.3.1. Phân tích chi phí và lợi nhuận biên cho mỗi tác nhân 75
4.3.2. Phân tích cơ cấu giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị cá
ngừ sọc dưa tại Nha Trang 79
4.3.2.1. Chuỗi cung ứng cho thị trường xuất khẩu 79
4.3.2.2. Chuỗi cung ứng cho thị trường nội địa 82
Chương 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
5.1. Thảo luận kết quả 87
5.2. Khuyến nghị 89
5.3. Kết luận 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 100
Phụ lục A: Bảng câu hỏi phỏng vấn công ty chế biến cá ngừ sọc dưa 100
Phụ lục B: Bảng câu hỏi phỏng vấn nậu vựa thu mua cá ngừ sọc dưa 101
Phụ lục C: Bảng câu hỏi phỏng vấn ngư dân khai thác nghề lưới rê (lưới cản) 103
Phụ lục D: Bảng câu hỏi phỏng vấn người bán sỉ cá ngừ sọc dưa 106
Bảng 4.5. Đánh giá cạnh tranh ngành chế biến và xuất khẩu cá ngừ sọc dưa ở Nha
Trang 69
Bảng 4.6. Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi 76
Bảng 4.7. Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị từ
ngư dân đến công ty chế biến xuất khẩu 80
Bảng 4.8. Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong chuỗi từ ngư dân –
nậu vựa – nhà nhập khẩu 82
Bảng 4.9. Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong kênh nội địa giữa các
tác nhân ở kênh nội địa 84
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh 6
Hình 1.2. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia 9
Hình 1.3. Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình 16
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATPDEA: Andean Trade Promotion and Drug Eradication Act
Bộ NN&PTNNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CL: chất lượng
Chi cục KT & BVNLTSKH: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa
CV: Đơn vị công suất máy tàu (mã lực)
EU: European Union
EC: European commission
FAO: Food and Agriculture Organization
GDP: Gross domestic product
GSO: General Statistical Ofiice
HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Points
IO: Industrial Organization
IUU: Illegal, unreported and unregulated fishing
KHAFA: Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa
NAFIQAD: Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản
NGTKKH: Niên giám thống kê Khánh Hòa
SCP: Structure – Conduct – Performance
Sở NN & PTNTKH: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khánh Hòa
SPS: Hiệp định vệ sinh kiểm dịch động thực vật
TSCĐ: Tài sản cố định
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TNHHMTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UNIDO: United Nations Industrial Development Organization
VASEP: Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
1
PHẦN MỞ ĐẦU
4,3 tỉ USD (FAO, 2011a) và đóng góp 4% GDP của cả nước - chiếm 19,8% trong cơ
cấu GDP nông nghiệp và giải quyết việc làm cho trên 1 triệu lao động - chiếm 4% lực
lượng lao động của cả nước (Nguyên Khải, 2011).
2
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có bờ biển dài hơn 200 km và
gần 200 hòn đảo. Dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV, 2005)
đánh giá vùng biển Khánh Hòa có khoảng 600 loài cá, trong đó có khoảng 50 loài có
giá trị kinh tế cao. Loài cá nổi chiếm một tỷ trọng cao với khoảng 115.800 tấn và mức
sản lượng khai thác bền vững khoảng 38.000 tấn/năm (ALMRV, 2005). Đây là những
điều kiện rất tốt cho ngành thủy sản Khánh Hòa phát triển. Sản lượng thủy sản khai
thác biển tăng bình quân 1,3%/năm từ năm 2001 đến 2009 và chiếm khoảng 73% -
88% tổng sản lượng thủy sản của cả tỉnh (Sở NN&PTNTKH, 2009a). Năm 2009, sản
lượng khai thác của Khánh Hòa khoảng 72.301 tấn và tạo việc làm cho hơn 31.000 lao
động (Sở NN&PTNTKH, 2009b). Số lượng tàu cá của toàn tỉnh tăng từ 4.812 chiếc
lên 12.802 chiếc (15%/năm) trong giai đoạn 2001-2009 và công suất máy tăng khoảng
18%/năm (Chi cục KT&BVNLKH, 2009). Hiện nay, Khánh Hòa có khoảng 44 doanh
nghiệp xuất khẩu thủy sản và đứng thứ 4 cả nước với kim ngạch xuất khẩu hàng năm
đạt hơn 300 triệu USD.
Mặc dù có nhiều lợi thế và đạt được những thành quả to lớn, nhưng ngành thủy
sản Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách
thức. Sự phát triển thiếu tính bền vững là nguy cơ lớn nhất đối với hoạt động sản xuất
và phân phối sản phẩm thủy sản khai thác ở nước ta trong thời gian qua. Nguyên nhân
thứ nhất là những bất cập và khó khăn liên quan đến chính sách quản lý, qui hoạch và
tổ chức thực hiện quản lý, kiểm soát nghề cá đã dẫn đến sự phát triển quá mức đội tàu
đánh bắt với cường lực khai thác lớn làm cho nguồn lợi biển ngày càng cạn kiệt và sản
lượng khai thác ngày càng giảm (Pomeroy, 2010). Thứ hai là các yêu cầu khắt khe từ
các nước nhập khẩu về vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc xuất xứ
(Duy và ctv, 2012a). Chính những đòi hỏi cao của người tiêu dùng nên nhiều rào cản
tranh lâu dài, có tính bền vững, cho chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang
cũng như để tối đa hóa giá trị và lợi ích cho các đối tượng liên quan là câu hỏi không
những cho các tác nhân trong chuỗi mà còn cho cả những nhà nghiên cứu và hoạch
định chính sách.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn nghiên cứu về chuỗi giá trị và đề xuất phương
pháp nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển cho nghiên cứu này.
- Xác định cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
- Đánh giá cách thức tổ chức, vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh mặt
hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
- Phân tích phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị.
- Đề xuất giải pháp nâng cao vị thế cạnh tranh cho toàn chuỗi giá trị mặt hàng cá
ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
1
Tên tiếng Anh là Skipjack tuna và tên khoa học là Katsuwonus pelamis
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa bao
gồm: ngư dân, chủ nậu vựa, công ty chế biến, người bán sỉ và người bán lẻ.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản mặt hàng cá
ngừ sọc dưa được thực hiện trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Các
câu hỏi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn tập trung vào trả lời các mục tiêu nghiên cứu
trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu:
Porter (1980) cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị phần trên thị trường và bản chất
của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang
có. Nhưng để giành thắng lợi trên thị trường các chủ thể kinh doanh cần có lợi thế
cạnh tranh (Porter, 1985). Theo Porter (1985), lợi thế cạnh tranh là khả năng cung cấp
giá trị cao hơn cho khách hàng so với đối thủ cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng cao cho
doanh nghiệp. Vì vậy, lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “quyền
lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong cạnh tranh.
Ở phạm vi không gian rộng hơn, trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của
Porter (1990), lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, là những lợi thế của
ngành, của quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương
trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh
tranh trực tiếp. Nhưng ngược lại, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức
cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế và sức cạnh tranh của một ngành lại xuất
phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành. Porter (1985) cũng cho
rằng lợi thế cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp không chỉ nằm ở mỗi hoạt động,
mà còn ở mối liên kết giữa các hoạt động với nhau. Vì vậy, xây dựng lợi thế cạnh
tranh cần dựa trên sự liên kết hợp tác dọc giữa các tác nhân trong chuỗi tạo giá trị cho
khách hàng.
Porter (1990) khẳng định rằng sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh
doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao
động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành. Lý luận của Porter
(1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên
góc độ các doanh nghiệp trong ngành tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà
nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh
quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể. Do đó, lợi thế cạnh tranh
một ngành hàng trên thị trường quốc tế không chỉ cần có sự liên kết hợp tác giữa các
6
tác nhân trong chuỗi giá trị, mà còn cần sự hợp tác hỗ trợ của các bên có liên quan
Hình 1.1. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh 2
Nội dung phần này tham khảo tại Porter (1980)
Nguy cơ đe dọa từ
những đối thủ mới
Quyền lực
đàm phán
của người
mua
Nguy cơ đe dọa từ
sản phẩm/dịch vụ
thay thế
Quyền lực
đàm phán
của nhà
cung cấp
CÁC ĐỐI THỦ
TIỀM ẨN
nguyên liệu cá đầu vào có thể là ngư dân đánh bắt, các chủ nậu vựa, các nhà bán
buôn… Việc các nhà cung cấp đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào về số lượng, chất
lượng, chủng loại, giá cả, các điều kiện cung cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành,
hay doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả.
Quyền lực của nhà cung cấp phụ thuộc vào: (i) mức độ tập trung của nhà cung
cấp thể hiện ở quy mô và số lượng các nhà cung cấp. Số lượng nhà cung cấp quyết
định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành nói chung và
mỗi tác nhân nói riêng; (ii) số lượng sản phẩm mà họ cung ứng, (iii) mức độ khác biệt
về sản phẩm cung ứng, (iv) sự sẵn có của sản phẩm thay thế, (v) chi phí chuyển đổi
nhà cung cấp và (vi) khả năng hội nhập dọc thuận chiều của nhà cung cấp.
Đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại là cơ sở để đánh giá mức độ cạnh tranh trong
ngành. Cường độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong một ngành nói chung
thường phụ thuộc vào các yếu tố: (i) số lượng và quy mô của các đối thủ hoạt động
trong ngành; (ii) tốc độ tăng trưởng ngành; (iii) chi phí cố định và chi phí lưu kho; (iv)
chi phí chuyển đổi; (v) mức độ khác biệt hóa sản phẩm; (vi) các rào cản gia nhập và
rút lui khỏi ngành.
8
Khi các đối thủ cạnh tranh lớn chiếm giữ một vị trí quan trọng trên thị trường và
tính chất tập trung của ngành cao thì họ có khả năng thống lĩnh thị trường và có quyền
lực trong đàm phán với hệ thống cung cấp hay tạo hệ thống phân phối tập trung.
3
Khi
chỉ có một số ít đối thủ nhưng chiếm giữ một thị phần lớn thì thị trường trở nên ít cạnh
tranh, thị trường tiến gần đến tình trạng độc quyền. Trái lại, khi không có đối thủ nào
có được thị phần quan trọng, thị trường sẽ bị phân tán, nhưng mức độ cạnh tranh trong
ngành sẽ gay gắt hơn và các đối thủ thường cố gắng gia tăng phần thị phần của mình.
Vì vậy, thị trường ở các ngành này thường diễn ra các cuộc chiến cạnh tranh về giá cả.
công ty chế biến thủy sản xuất khẩu cần tìm ra một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, mang
lại hiệu quả bền vững mà khó có đối thủ nào có thể thực hiện được. Xây dựng một
chuỗi giá trị gắn kết bền vững giữa các tác nhân (các nhà cung ứng và khách hàng)
được xem là giải pháp lâu dài cho ngành thủy sản Việt Nam nói chung và Nha Trang,
Khánh Hòa nói riêng.
1.1.3. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter
4
Porter (1990) cho rằng khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào năng
lực của các ngành trong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó. Các công ty tạo ra
được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là do áp lực và thách
thức mà môi trường quốc gia đó tạo ra. Các công ty trong một ngành tạo lập được lợi
thế cạnh tranh nhờ vào môi trường trong quốc gia đó tạo ra được áp lực cạnh tranh
giữa những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trong nước, các nhà cung ứng nội địa năng động
và những khách hàng trong nước có nhu cầu và đòi hỏi cao.
Hình 1.2. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia
Lý thuyết “lợi thế cạnh tranh quốc gia” của Porter (1990) giải thích tại sao một số
công ty nhất định tại một số quốc gia cụ thể lại có khả năng cạnh tranh cao hơn các
xuất cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, vốn và các điều
kiện về khí hậu, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng. Một số quốc gia xuất khẩu sẽ sử dụng
nhiều các yếu tố đầu vào cơ bản mà họ có sẵn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh ban
đầu. Các nhân tố sản xuất tiên tiến là những yếu tố do mỗi quốc gia tạo ra trong quá
trình phát triển kinh tế như nguồn lao động có kỹ năng cao hoặc các yếu tố chuyên
môn hóa hóa. Các nhân tố tiên tiến có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn
so với các yếu tố cơ bản (Porter, 1990).
Điều kiện về nhu cầu nội địa:
Porter (1990) cho rằng tình trạng hoàn hảo của khách hàng và các kênh phân
phối nội địa có một tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho một ngành
công nghiệp tại một quốc gia. Khi nhu cầu của khách hàng càng phức tạp, càng đặc thù
và đòi khỏi khắt khe về sản phẩm hoặc dịch vụ thì càng thúc đẩy các công ty phải gia
tăng cải tiến và đổi mới. Nếu khách hàng càng có những phản ảnh về sản phẩm, hệ
thống phân phối thì các công ty trong ngành càng có điều kiện nhận dạng những điểm
yếu của mình để khắc phục, đồng thời hiểu biết yêu cầu của khách hàng nhiều hơn và
có thể xác định được nhu cầu mới trong tương lai tại thị trường nội địa cũng như nước
ngoài. Bởi vì áp lực yêu cầu khắt khe của nhu cầu nội địa, thông qua cạnh tranh các
doanh nghiệp trong ngành có khả năng xây dựng được năng lực cạnh tranh của mình
trước khi tham gia kinh doanh quốc tế.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan:
Năng lực cạnh tranh của các công ty trong nước được gia tăng nhờ vào tình trạng
hoàn hảo của các nhà cung cấp nội địa (Porter, 1990). Một công ty có quan hệ cùng
phối hợp hoạt động với những nhà cung cấp hàng đầu tại địa phương thì càng có điều
kiện và cơ hội thực hiện các cải tiến của mình. Ví dụ một công ty chế biến thủy sản
xuất khẩu có thể nâng cao được chất lượng sản phẩm của mình bởi vì nó có mối quan
11
hệ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung cấp đầu vào tại địa phương có thể cung ứng
nguyên liệu chất lượng tốt, giá rẻ và giao hàng nhanh chóng. Bên cạnh những nhà
12
động đến nhu cầu của người mua, đưa ra những chính sách khuyến khích cạnh tranh
hay trong việc định hướng phát triển những ngành công nghiệp có liên quan và hỗ trợ
cho ngành có lợi thế cạnh tranh.
Các cơ hội cũng có khả năng làm thay đổi các điều kiện của mô hình kim cương.
Những thay đổi có lợi về chi phí đầu vào, tỷ giá hối đoái, quyết định chính trị của các
chính phủ nước ngoài hay sự tăng mạnh của cầu trên thế giới có thể tạo ra những lợi
thế trong cạnh tranh và có tác dụng thúc đẩy những giai đoạn mới mạnh mẽ. Các cơ
hội rất quan trọng vì chúng có khả năng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch
chuyển vị thế cạnh tranh một doanh nghiệp hoặc một ngành.
Tóm lại: Mô hình kim cương của Porter (1990) đã lý giải những lực lượng thúc
đẩy sự đổi mới và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trên thị trường. Bốn
nhóm nhân tố quan trọng trong mô hình được phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh
quốc tế của các doanh nghiệp trong ngành. Sự “cộng hưởng” của chúng cùng với
những tác động của Chính phủ và khả năng khai thác cơ hội thúc đẩy doanh nghiệp
trong ngành hoạt động hiệu quả hơn và giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường
quốc tế.
1.2. Lý thuyết về chuỗi giá trị
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị
Theo Porter (1985), chuỗi giá trị là chuỗi tất cả các hoạt động từ khâu đầu tiên
đến khâu cuối cùng trong doanh nghiệp mà chúng tạo ra giá trị cho sản phẩm hoặc
dịch vụ. Các hoạt động tạo giá trị bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động hỗ
trợ. Mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm một giá trị nhất định cho sản phẩm cung
ứng cho khách hàng và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Các hoạt động chính là các
hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để
cung cấp cho khách hàng, bao gồm: hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần ra ngoài,
vận hành theo mục tiêu tối đa hóa giá trị sinh ra trong chuỗi (Kaplinsky và Morris,
2001; Jacinto và Pomeroy, 2011). Trong bất kỳ chuỗi giá trị nào thì mỗi thành viên của
chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành
viên trong chuỗi có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích
đó. Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau.
Mỗi thành viên góp thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào
sự thỏa mãn của khách hàng. 14
1.2.2. Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản
phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối
cùng (Ganeshan và Harrison, 1995). Trong chuỗi cung ứng , sản phẩm đi qua tất cả
các hoạt động theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả
cũng như giá trị. Như vậy, dựa vào định nghĩa ta thấy rằng chuỗi giá trị và chuỗi cung
ứng không có sự khác nhau vì chúng đều là chuỗi của sự nối tiếp nhau các quá trình và
các hoạt động giữa các tác nhân liên quan nhằm tạo ra sản phẩm/dịch vụ hoàn chỉnh
cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.
Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị đang được các
nhà khoa học quan tâm hơn so với chuỗi cung ứng (Feller và ctv, 2006). Mục tiêu
chính của phân tích chuỗi giá trị là tối đa hóa giá trị tạo ra cho khách hàng và tối đa
hóa lợi ích cho các bên có liên quan cũng như lợi ích trên toàn chuỗi giá trị, và phát
triển bền vững qua thời gian (Feller và ctv, 2006; De Silva, 2011). Trong khi đó, chuỗi
cung ứng trọng tâm vào chi phí và hiệu quả của các hoạt động hậu cần trên toàn chuỗi.
Hay nói cách khác, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là tối thiểu hóa chi phí và
nguồn lực cung cấp sản phẩm trên cơ sở cắt giảm tới mức có thể các trung gian và các
khoản chi phí trong hoạt động phân phối nhằm đáp ứng nhanh nhất, thuận tiện nhất và
hiệu quả nhất nhu cầu của người tiêu dùng (Feller và ctv, 2006; De Silva, 2011). Trong
gồm việc nâng cấp sản phẩm liên quan đến chất lượng, sự đa dạng hóa mẫu mã, chủng
loại, nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh lâu dài cho chuỗi. Khả năng cải tiến chuỗi giá trị
dựa vào nhiều yếu tố như sự phân phối lợi ích trong chuỗi, phương cách giao dịch và
trao đổi thông tin, rào cản gia nhập ngành, cơ chế quản lý của Nhà nước, những rào
cản và tiêu chuẩn trong thương mại, các yếu tố liên quan đến văn hóa và tập quán kinh
doanh
- Phân tích chuỗi giá trị cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của việc thiết lập cấu
trúc mối quan hệ giữa các bên có liên quan, cơ chế phối hợp và vận hành trong chuỗi
giá trị. Điều này là quan trọng cho việc hình thành chính sách quản lý để nâng cao vị
thế cạnh tranh của chuỗi, khắc phục các điểm yếu và tạo nhiều giá trị gia tăng cho
ngành (Kaplinsky và Morris, 2001).
Với vai trò ưu việt trong cạnh tranh trên toàn cầu từ việc phân tích chuỗi giá trị,
nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các quốc gia cho nhiều ngành như: ngành công
nghiệp xe hơi (Humphrey và Memedovic, 2003), ngành sản xuất xe đạp (Galvin và
Morkel, 2001), ngành công nghệ điện tử (Sturgeon, 2002), ngành trang sức (Gereffi và
Memodovic, 2003). Nhóm nghiên cứu VDCWG (Value Chain Dynamics Working
Group) ở Trường Đại học Cambridge đã thực hiện nhiều nghiên cứu cho một số ngành
ở Mỹ như: ngành công nghiệp truyền thông, ngành dịch vụ điện thoại di động, thiết bị