PHẦN I
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
I. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
1. Khái niệm
Thu nhập là một phạm trù trừu tượng. Để hiểu rõ về thu nhập, ta có thể tìm
hiểu chung về một số đặc điểm của thu nhập:
- Thu nhập luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã
hội - thể hiện tính sở hữu của thu nhập.
- Thông thường việc xác định thu nhập của chủ thể khác nhau trong môt
thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức giá trị - là hình thức thông qua
đó có thể biết được tổng số thu nhập từ các nguồn khác nhau của một cá nhân
hay một pháp nhân khác.
- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân
phối lại thu nhập quốc dân.
Qua các đặc điểm trên, có thể đưa ra khái niệm chung về thu nhập:
Thu nhập là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật của các tổ
chức hoặc cá nhân nhận được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, từ
lao động, từ quyền sở hữu quyền sử dụng về tài sản, tiền vốn mà có hoặc các
khoản thu nhập khác mà xã hội dành cho trong một thời kỳ nhất định thường là
một năm.
Căn cứ vào tiêu thức khác nhau người ta chia ra các loại thu nhập nhằm đáp
ứng các yêu cầu quản lý khác nhau như thu nhập công ty, thu nhập cá nhân, thu
nhập thường xuyên, thu nhập không thường xuyên, thu nhập từ lao động và các
thu nhập khác.
Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế
của các tổ chức và cá nhân. Thuế thu nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp
và thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) là một loại thuế trực thu đánh
vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh đều
là đối tượng điều chỉnh của thuế TNDN. Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu
vĩ mô nền kinh tế
Nói cách khác, thuế phải góp phần khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát
triển theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần
kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát
triển. Như vậy, với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng như nhau,
cùng bán giá bán trên thị trường như nhau, nếu cơ sở sản xuất nào càng hạ thấp
2
được giá thảnh sản phẩm, càng thu được nhiều lợi nhuận thì càng phát triển
mạnh, và ngược lại thì dễ dẫn tới bị phá sản.
- Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, Nhà nước
thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải
nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển
của một lĩnh vực ở một vùng nào đó.
- Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
Nhà nước cũng đưa ra thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt
hàng, lĩnh vực thể hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà
nước đối với những ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nền kinh tế.
- Không những chỉ khuyến khích đầu tư bằng việc định ra một thuế suất
hợp lý, mà thuế thu nhập doanh nghiệp còn được sử dụng là một biện pháp
khuyến khích bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà Nhà
nước cần tập trung khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, khai thác tiềm năng về vốn
trong dân cư và của các nhà đầu tư nước ngoài, hỗ trợ các doanh nghiệp khắc
phục khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất bằng việc sử dụng biện pháp miễn,
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức độ khác nhau.
3.3 Thuế TNDN là một công cụ của Nhà nước thực hiện chính sách công
bằng xã hội
Một trong những mục tiêu của thuế thu nhập doanh nghiệp là điều tiết thu
nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế thu nhập
vấn đề sau:
+ Nguồn gốc của thu nhập.
+ Địa điểm phát sinh thu nhập và thời hạn cư trú hoặc không cư trú của chủ
sở hữu thu nhập.
Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống cơ bản để xác định nghĩa vụ nộp thuế
thu nhập của một doanh nghiệp hay cá nhân tại một nước nào đó theo luật pháp
của nước đó. Hai hệ thống này là hệ thống xác định nghĩa vụ thuế của một đối
tượng dựa trên nơi thường trú và hệ thống dựa trên nguồn gốc thu nhập.
Đánh thuế trên cơ sở thường trú tức là phải xác định rõ thế nào là cơ sở
thường trú và thuế thu nhập sẽ được điều chỉnh trên toàn bộ thu nhập của doanh
nghiệp ở các quốc gia khác nhau không phân biệt lĩnh vực, thời gian phát sinh.
4
Nói cách khác cơ sở xác định khả năng chịu thuế của một công ty là dựa trên
khái niệm một công ty cư trú hay không cư trú ở một nước. Một công ty cư trú ở
một nước có nghĩa vụ kê khai toàn bộ thu nhập chịu thuế phát sinh ở trong nước
và ngoài nước. Còn công ty không cư trú, nhưng có cơ sở thường trú ở một nước
chỉ có nghĩa vụ kê khai thu nhập phát sinh tại nước đó.
Phương pháp đánh thuế dựa trên nguồn thu nhập (Đánh thuế trên cơ sở
xuất xứ) tức là chỉ có những thu nhập phát sinh trong lãnh thổ của cơ sơ sản xuất
kinh doanh đó bị đánh thuế.
Như vậy, việc đánh thuế dựa trên nguồn thu nhập sẽ có cơ sở tính thuế eo
hẹp hơn cách đánh thuế dựa trên tiêu chuẩn thường trú khi trên lãnh thổ 1 quốc
gia nào đó có nhiều công ty hoạt động kinh doanh của nước ngoài
+ Tính thường xuyên hay không thường xuyên của việc phát sinh thu nhập.
- Khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN cần phải quán triệt các nguyên tắc
cơ bản sau đây:
+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập bằng tiền, tức là chỉ những thu nhập được
tính ra bằng tiền mới đưa vào thu nhập chịu thuế, theo đó thì những thu nhập
dưới dạng hiện vật phải được tính thành tiền và những thu nhập nhận được từ
các lợi ích công cộng không được tính vào thu nhập chịu thuế.
a. Vốn thu hoạch lại: là số tiền thanh lý tài sản, nhượng bán tài sản. Có 3
quan điểm về việc đánh thuế đối với vốn thu hoạch lại:
- Quan điểm 1: Đánh 1 phần vào 1 số loại vốn thu hồi được, chủ yếu đánh
vào đất, cổ phần.
- Quan điểm 2: Không đánh thuế thu nhập vì nói không mang tính chất thu
nhập mà mang tính chất vốn.
- Quan điểm 3: Đánh thuế thu nhập trên toàn bộ khoản vốn thu hồi lại vì
người ta coi đó là khoản thu nhập.
Để đánh thuế chính xác, ở các nước có hệ thống thuế hiện đại, người ta cho
laọi trừ các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ như lạm phát). Ở các nước hệ thống thuế
chưa phát triển, đánh thuế trên toàn bộ khoản vốn thu hồi lại.
b. Lợi tức cổ phần: là một khoản thu nhập của doanh nghiệp do doanh
nghiệp đóng góp cổ phần vào công ty khác. Có 2 quan điểm:
- Quan điểm 1: Không nên đánh thuế vì trước khi nhận được lợi tức cỏ
phần, khoản này đã bị đánh thuế ở doanh nghiệp mà mình góp cổ phần.
6
- Quan điểm 2: Nếu coi đây là khoản thu nhập thì vấn đánh thuế.
Người ta đưa ra cách xử lý:
- Khấu trừ tiền thuế đã nộp ở khâu trước khi nhận được thu nhập.
- Đánh vào một phần thu nhập từ lợi tức cổ phần.
c. Lãi tiền gửi: Đây là khoản thu nhập của doanh nghiệp nên nên đánh thuế
thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu khuyến khích hoạt động cho vay vốn thì
không đánh vào lãi tiền gửi.
d. Thu nhập từ nước ngoài: nếu căn cứ vào tiêu thức thường trú thì nên
đánh. Tuy nhiên đây là khoản thu nhập từ nước ngoài đã bị đánh thuế thu nhập
doanh nghiệp của nước ngoài nên nếu đánh thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ dẫn
đến đánh trùng thuế, hạn chế đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.
e. Khấu hao tài sản cố định: là một yếu tố của hci phí nhưng được phân bổ
như thế nào trong từng năm khi tính thu nhập chịu thuế. Về nguyên tắc, tỷ lệ
khấu hao tài sản cố định nhằm mục đích tích luỹ và tính thuế phải tương ứng với
một doanh nghiệp hay một cá nhân nào đó hơn so với những quốc gia khác, tổ
chức khác hay đối tượng khác.
Nói cách khác, ưu đãi thuế là hình thức cho người nộp thuế được hưởng
những điều kiện thuận lợi khi thực hiện nghĩa vụ thuế.
3.2 Đặc điểm của các ưu đãi thuế
Ưu đãi thuế là một trong những bộ phận của chính sách ưu đãi nên nó
mang đầy đủ đặc điểm của chính sách ưu đãi. Ngoài ra nó còn có một số đặc
điểm chủ yếu sau:
- Chỉ có tổ chức quốc tế và các quốc gia mới có quyền đặt ra ưu đãi thuế
vì tổ chức quốc tế và quốc gia có quyền quản lý. Ưu đãi chỉ tồn tại khi nó thực
hiện được. Muốn vậy, đối tượng ban hành ra nó phải có quyền lực nhất định. Tổ
chức quốc tế có quyền lực quản lý trong phạm vi các quốc gia theo các cam kết
mà các quốc gia này đã ký kết; Nhà nước có quyền quản lý quốc gia trên mọi
8
phương diện hay nói cách khác có Nhà nước thì mới có thuế, mới có ưu đãi
thuế. Vì vậy, chỉ có tổ chức quốc tế và Nhà nước ở các quốc gia có quyền đặt ra
ưu đãi thuế.
- Ưu đãi thuế nhằm vào mục đích phát triển. Vì vậy, các tổ chức quốc tế,
các khu vực, Nhà nước ở các quốc gia đều đưa ra hệ thống ưu đãi thuế khác
nhau tuỳ hoàn cảnh của mỗi nước, tuỳ mục tiêu phát triển nền kinh tế trong từng
thời kỳ.
- Giới hạn về chủ thể và thời hạn ưu đãi thuế: Cũng như chính sách ưu
đãi, chính sách ưu đãi thuế nhằm mục đích nhất định thì phải có chủ thể nhất
định. Thời gian ưu đãi thuế cũng phải được tính đến để cho phù hợp với sự phát
triển của doanh nghiệp. Nếu thời gian quá ngắn thì các nhà đầu tư chưa có khả
năng khắc phục khó khăn nhưng nếu thời gian quá dài thì có khi không những
không có tác dụng lắm đối với kích thích đầu tư mà còn tạo ra nhiều mặt tiêu
cực vì chính sách ưu đãi nói chung và chính sách ưu đãi thuế nói riêng bên cạnh
những mặt tích cực thì còn có rất nhiều những hạn chế như: tạo ra sự mất công
bằng, gây méo mó nền kinh tế
chế lập ngưỡng xét duyệt tốt hơn cơ chế tự động vì cơ chế xét duyệt có thể tạo
cho cơ quan cấp ưu đãi nhiều linh hoạt trong việc xác định ưu điểm của từng
đơn xin hưởng ưu đãi. Tuy nhiên, trên thực tế việc xét duyệt có thể thiếu minh
bạch và tạo điều kiện cho nạn tham nhũng.
3.4 Phạm vi ưu đãi:
Ưu đãi thuế có thể chia thành 2 cấp độ:
+ Ưu đãi trên phạm vi Quốc tế: Là việc một tổ chức Quốc tế, một quốc
gia nào đó dành những điều kiện, những quyền lợi đặc biệt hơn về thuế cho một
hay một số quốc gia khác trong phạm vi một công ước Quốc tế, một hiệp định
song phương, đa phương… so với các quốc gia khác khi tham gia vào thương
mại Quốc tế.
10
+ Ưu đãi trên phạm vi quốc gia: Là việc một quốc gia dành những điều
kiện, những quyền lợi đặc biệt hơn về thuế cho một tổ chức, một doanh
nghiệp… nhằm khuyến khích hay hạn chế sự phát triển của một lĩnh vực, một
ngành nghề hay một mặt hàng nào đó… theo mục tiêu hoặc đường lối mà Chính
phủ đă đặt ra. Việc ưu đãi trên phạm vi quốc gia được Chính phủ các nước sử
dụng dưới hình thức luật, các văn bản dưới luật hay đơn giản chỉ là quy định của
một địa phương nào đó. Tuy nhiên, các quyết định mà Chính phủ các nước đưa
ra phải phù hợp với các nguyên tắc, các cam kết của các tổ chức Quốc tế mà
Chính phủ đã ký kết trong tiến trình tham gia vào thương mại Quốc tế.
3.5 Hình thức ưu đãi chủ yếu
Các nước có thể sử dụng nhiều hình thức ưu đãi thuế khác nhau với mức
độ ưu đãi khác nhau tuỳ theo mục tiêu cần thu hút đầu tư của mình, tuy nhiên
các dạng ưu đãi thuế cơ bản thường gồm:
3.5.1 Miễn giảm thuế có thời hạn
Ưu đãi thuế có các hình thức cụ thể, đó là: miễn, giảm tín dụng thuế đầu
tư, mức miễn trừ (mức tối thiểu không phải chịu thuế) v v. Chế độ ưu đãi về
thuế được thể hiện rõ nhất thông qua các quy định miễn giảm thuế. Miễn giảm
thuế là số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nước, song vì những lý
với các dự án đầu tư đạt đủ điều kiện.
3.5.3 Trừ chi phí đầu tư hoặc khấu trừ thuế; trợ cấp đầu tư và khấu hao
nhanh
Qui định tỷ lệ phần trăm của chi phí đầu tư ban đầu (ví dụ: chi phí nhà
xưởng, thiết bị) sẽ được trừ ngay trong chi phí của thời kỳ hiện hành, ngoài mức
khấu hao thông thường (biện pháp trừ chi phí) hoặc qui định tỷ lệ phần trăm chi
phí đầu tư sẽ được trừ vào nghĩa vụ thuế thu nhập công ty (biện pháp khấu trừ
thuế). Mục tiêu của loại ưu đãi này là nhằm khuyến khích việc đầu tư đối với
các nhà xưởng và thiết bị trong những ngành cần tập trung.
- Khấu hao nhanh: Là hình thức chi phí mua tài sản được khấu hao với
tốc độ nhanh hơn so với mức khấu hao được cho phép theo lịch trình khấu hao
thông thường. Nói cách khác nó cho phép trừ chi phí đầu tư trong những năm
đầu tiên nhanh hơn so với năm sau.
12
- Trợ cấp đầu tư: nhà nước chi từ ngân sách các khoản trợ cấp cho đầu tư,
kể cả những khoản đầu tư không mang lại lợi nhuận.
Xét về mặt hiệu quả, các quy định về khấu trừ đầu tư hay trợ cấp đầu tư
có thể tốt hơn so với miễn giảm thuế có thời hạn. Chi phí của các quy định này
có thể tính toán được và chi phí đó tương quan với số vốn đầu tư. Sự ưu đãi có
thể áp dụng đối với tất cả các hình thức đầu tư vốn hoặc chỉ có thể giới hạn đối
với một số loại hình nhất định như máy móc, thiết bị công nghệ thông tiên tiến,
hoặc đầu tư nghiên cứu – phát triển. Còn đối với việc miễn giảm thuế có thời
hạn thì lợi ích dành cho nhà đầu tư một phần phụ thuộc vào mối quan hệ giữa
quy định về ưu đãi với các nguyên tắc thông thường về khấu hao và giảm lỗ.
Trong trường hợp khi phần lớn các khoản đầu tư ban đầu có thể không mang lại
lợi tức trong những năm đầu, cộng với việc khấu hao nhanh sẽ không mang lại
lợi ích cho những nhà đầu tư mà ngược lại có thể làm tăng thêm gánh nặng về
thuế. Trong những trường hợp đó, việc thực hiện khấu trừ đầu tư trong những
năm đó sẽ thực sự trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
3.5.4 Trợ cấp tái đầu tư
tài sản có lợi thế là chi phí của việc miễn giảm có thể tính toán được. Còn về
phía các nhà đầu tư thì cho rằng hình thức này sẽ tạo ta lợi tức ngay lập tức và
có tính khả thi ngay cả khi không có lợi tức để đánh thuế. Hình thức ưu đãi này
nói chung thường được thực hiện trong một thời gian nhất định. Nó giống như
việc cấp tiền trong vòng một số năm và đặc biệt thích hợp với việc thức đẩy các
khoản đầu tư mới. Các ưu đãi kiểu này thường được áp dụng như một bộ phận
của chính sách phát triển vùng nói chung và nó thường do chính quyền địa
phương, chính quyền vùng quy định hơn là chính quyền trung ương.
3.5.9 Giảm thuế nhập khẩu và nghĩa vụ hải quan
Giảm thuế nhập khẩu và nghĩa vụ hải quan là một trong những hình thức
có sự khuyến khích cao nhất trong các hình thức ưu đãi đầu tư, đặc biệt là đối
với hàng hoá và tài sản thực hiện quá trình đầu tư. Hình thức ưu đãi này có
14
chung đặc điểm với miễn giảm thuế tài sản là không phụ thuộc vào khả năng có
lợi tức. Nó là một khoản tiền lớn có trước và tạo ra sự tiết kiệm ngay từ đầu cho
các nhà đầu tư. Miễn thuế quan thường được áp dụng đối với thiết bị nhập khẩu,
đôi khi đối với toàn bộ thiết bị vốn, trong một vài trường hợp nó được áp dụng
đối với một số nhất định các loại máy móc, thiết bị công nghệ tiến bộ kỹ thuật.Ở
một số nước, một nhà đầu tư khi góp vốn điều lệ vào một công ty mới thành lập,
được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sự miễn thuế
trong những trường hợp như vậy chỉ được thực hiện cho một số nhà đầu tư nhất
định, nên có thể gây nên sự bóp méo trong cạnh tranh và trái với những nguyên
tắc thương mại quốc tế. Việc miễn giảm thuế như trên không chỉ là thuế nhập
khẩu mà còn bao gồm các loại thuế khác thu ở khâu nhập khẩu như thuế giá trị
gia tăng.
3.5.10 Quy định khởi điểm thu thuế và mức miễn thu: thể hiện sự chiếu cố
những người có thu nhập thấp, có gia cảnh khó khăn…
3.5.11 Các đặc khu kinh tế
Các đặc khu kinh tế bao gồm nhiều hình thức và quy mô khác nhau, phục
vụ cho những mục đích nhất định: Khu miễn thuế xuất nhập khẩu, khu kinh tế tự
Thuế suất thấp là mức thuế suất được đưa ra thấp hơn mức thuế suất
thông thường (thuế suất phổ thông). Thuế suất cao hay thấp ngoài việc giải
quyết vấn đề tỷ lệ phân phối giữa Nhà nước và người nộp thuế, nó chủ yếu còn
phân biệt giữa Nhà nước và người nộp thuế, nó chủ yếu còn phân biệt rất tõ ràng
giữa những đối tượng nộp thuế khác nhau, qua đó, tạo ra sự có lợi hay bất lợi,
lợi lớn hay lợi nhỏ… nhằm khuyến khích hay hạn chế đối tượng nộp thuế nào
đó. Hay nói cách khác, thuế suất thấp là cong cụ giúp cho các nhà đầu tư dễ
nhận biết đầu tư vào khu vực nào thì được Nhà nước ưu đãi hơn. Về phía cơ
quan thuế thì việc tính toán số thuế phải nộp nhanh chóng hơn.
Tuy nhiên việc ban hành mức thuế suất thấp đối với các đối tượng được
ưu đãi thường thể hiện quá rõ ràng ưu ái của Chính phủ đối với các đối tượng
được ưu đãi, số tiền miễn giảm cũng lớn và vì vậy dễ gây nên tâm lý có sự phân
biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; Bên cạnh đó, việc tính toán số tiền thuế mà Nhà
nước cho các doanh nghiệp cũng khá phức tạp. Đối với các nhà đầu tư, ngay sau
thời gian áp dụng thuế suất giảm thì áp dụng ngay mức thuế suất thông thường
có chênh lệch khá lớn so với mức thuế suất giảm nên có thể dẫn đến tâm lý đột
ngột mất khoản lợi nhuận của các nhà đầu tư. Vì vậy, các nhà đầu tư thường tính
đầu tư trong thời gian được hưởng thuế suất thấp. Nếu thời gian chưa đủ để họ
thực hiện dự án thì họ sẽ không đầu tư.
Thuế suất thấp thường được sử dụng khi các nhà đầu tư đầu tư vào các
vùng khó khăn.
- Giảm tỷ lệ thuế:
Giảm tỷ lệ thuế là giảm tỷ lệ % nhất định trên mức thuế phải nộp. Điều
này thể hiện chính sách khuyến khích giúp đỡ hay chiếu cố. Ngược lại áp dụng
thuế suất luỹ tiến từng phần, luỹ tiến toàn phần lại thể hiện chính sách hạn chế
hay trừng phạt.
17
Về cơ bản, giảm tỷ lệ thuế cũng giống như thuế suất thấp nhưng nó
thường gắn với thời gian hưởng ngắn hơn. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể tính
toán được số tiền mà Nhà nước cho miễn giảm một cách nhanh chóng. Nó
áp dụng loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của từng đối tượng nộp thuế không
phân biệt khoản thu nhập đó có nguồn gốc từ đâu.
Thứ hai: Do xung đột về quyền đánh thuế giữa các quốc gia. Một trong các
quyền của Nhà nước là quyền ban hành các sắc thuế. Để chính sách thuế được
thực hiện hiệu quả, Nhà nước phải ban hành các sắc thuế dựa trên một số
nguyên tắc nhất định. Trên thực tế, việc đánh thuế thường được căn cứ trên
nguyên tắc nguồn thu nhập hoặc nơi cư trú, do tồn tại hai nguyên tắc trên cộng
với sự khác nhau về mức độ phát triển kinh tế và chính sách áp dụng của từng
nước đã dẫn tới sự xung đột. Các trường hợp xung đột thường là:
- Xung đột hai quốc gia về nguồn: Xảy ra khi hai hoặc nhiều quốc gia cùng
khẳng định quyền đánh thuế của mình trên cùng một đối tượng chịu thuế vì cho
rằng thu nhập đó có nguồn gốc từ nước họ.
- Xung đột giữa quốc gia là nguồn hình thành nên thu nhập và quốc gia nơi
cư trú: Xảy ra khi một quốc gia khẳng định quyền đánh thuế đối với nguòn thu
nhập phát sinh tại nước này, còn nước kia lại khẳng định quyền của mình đối
với đối tượng nộp thuế vì đối tượng nộp thuế đó cư trú tại nước mình.
- Xung đột giữa hai quốc gia cư trú: Xảy ra khi hai quốc gia cùng khẳng
định quyền đánh thuế đối với đối tượng nộp thuế, vì đối tượng nộp thuế cùng cư
trú tại hai quốc gia.
Ngoài ba trường hợp đã nêu trên, đánh thuế trùng còn có thể xảy ra do kết
quả của việc các quốc gia định nghĩa về “thu nhập” không giống nhau và áp
dụng những nguyên tắc tính thuế cũng như tính thời gian khác nhau.
4.2 Ảnh hưởng của việc đánh thuế trùng:
Đánh thuế trùng tạo ra một lực cản đối với sự phát triển không chỉ một
quốc gia mà cho cả quá trình phát triển kinh tế quốc tế.
19
a. Đối với nước đầu tư trực tiếp:
Nước đầu tư được hiểu là nơi xuất phát các khoản đầu tư trực tiếp. Đây là
những nước phát triển, có tích luỹ vốn lớn với công nghệ cao lại đi liền với các
mặt hạn chế về đất đai, tài nguyên và đây cũng chính là nơi các công ty đa quốc
việc Nhà nước từ bỏ quyền đánh thuế và như thế đã phàn nào từ bỏ chủ quyền
quốc gia của mình đối với một khoản thu nhập nhất định.
b. Biện pháp cam kết quốc tế
Biện pháp cam kết quốc tế được hình thành nhằm thoả mãn yêu cầu của các
bên trong vấn đề đánh thuế trùng, trong đó, các bên tham gia cam kết đồng
nghĩa với việc từ bỏ hoặc giới hạn một phần quyền đánh thuế của mình đối với
khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đầu tư nước ngoài, chuyển giao công
nghệ và phân công lao động quốc tế. Hình thức biểu hiện các cam kết quốc tế có
thể ở những mức độ và phạm vi khác nhau, nhưng nhìn chung được biểu hiện
bằng các hiệp định mang tính quốc tế, mà cụ thể là các Hiệp định thuế.
Trong các Hiệp định thuế hiện hành có một số phương pháp chủ yếu được
thực hiện nhằm xoá bỏ việc đánh thuế trùng của nước, nơi mà đối tượng nộp
thuế là đối tượng cư trú. Đó là:
b.1 Phương pháp miễn thuế:
Theo phương pháp này, đối tượng nộp thuế là người cư trú ở một nước thì
không bị thu thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập mà đối tượng đó đã
nộp thuế ở nước khác. Phương pháp này có 2 hình thức áp dụng là:
- Phương pháp miễn thuế toàn phần: có nghĩa là nước có đối tượng nộp
thuế cư trú không đánh thuế thêm đối với thu nhập phát sinh mà đã bị đánh thuế
ở nước ngoài.
- Phương pháp miễn thuế luỹ tiến: có nghĩa là nước có đối tượng nộp thuế
cư trú tuy không bị đánh thuế thêm đối với thu nhập phát sinh mà đã bị đánh
thuế ở nước ngoài nhưng vẫn cộng thu nhập đó với thu nhập phát sinh ở trong
21
nước để xác định mức thuế suất và dùng thuế suất đó tính thuế đối với người có
thu nhập phát sinh trong nước.
b.2 Phương pháp trừ thuế: Nội dung của phương pháp này là nước mà đối
tượng nộp thuế là người cư trú khi tính thuế trên tổng thu nhập của đối tượng
nộp thuế thì cho trừ vào số thuế phải nộp ở nước cư trú số thuế đã nộp ở nước
ngoài. Phương pháp này cũng có 2 hình thức áp dụng là:
- Các công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường
trú tại Việt Nam (Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài ở Việt Nam là cơ sở
kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước ngoài tiến hành một phần hay
toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam).
Như vậy việc xác định đối tượng nộp thuế TNDN dựa trên 2 căn cứ:
23
- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh phải đóng trên lãnh thổ Việt Nam
(bao gồm cả các cơ sở thường trú của các công ty nước ngoài, các tổ chức nước
ngoài tại Việt Nam) và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp;
- Phải có thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh đó.
Hiện nay, các hộ gia đình kinh doanh cá thể ở Việt nam không đăng ký
thành lập pháp nhân và các cá nhân hành nghề tự do hiện đang là đối tượng chịu
thuế thu nhập doanh nghiệp. Về lâu dài, nhóm này cần phải được chuyển sang
chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo công bằng với các cá
nhân có thu nhập khác trong nền kinh tế và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy
nhiên, ngưỡng thu nhập để tính thuế thu nhập còn cao nên trước mắt chỉ đưa
những đối tượng thuộc nhóm nộp thuế ấn định sang nộp thuế thu nhập cá nhân,
còn các hộ gia đình kinh doanh cá thể và các cá nhân hành nghề tự do nộp theo
kê khai thì tạm thời vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập doanh
nghiệp.
3. Đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN
Đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN bao gồm:
Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đều là đối tượng
điều chỉnh của Luật thuế TNDN nhưng để nhằm hỗ trợ và khuyến khích phát
triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đặc biệt đối với loại hình kinh doanh vừa
và nhỏ, thực hiện chính sách hỗ trợ và giảm bớt khó khăn cho nông dân, nên
Nhà nước quy định một số đối tượng có sản xuất, kinh doanh nhưng không
thuộc diện nộp thuế TNDN. Gồm:
- HTX, tổ hợp tác có thu nhập từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thuỷ sản.
Chú ý:
- Thu nhập chịu thuế của những thể nhân và các pháp nhân mang quốc tịch
Việt Nam (trong đó bao gồm cả các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài) là toàn
bộ thu nhập phát sinh ở trong nước và ở nước ngoài;
- Thu nhập chịu thuế của các “cơ sở thường trú” của các Công ty nước
ngoài và cá nhân người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam là thu nhập phát
sinh tại Việt Nam.
Trong trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về phương pháp xác định thu
nhập chịu thuế đối với cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của Hiệp
định đó.
- Thu nhập chịu thuế được tính bằng đồng Việt Nam.
- Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch. Trường hợp cơ sở kinh
doanh áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế xác định
theo năm tài chính áp dụng. Kỳ tính thuế của cơ sở kinh doanh mới thành lập và
kỳ tính thuế cuối cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản được
xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Cụ thể
là : Trường hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên của cơ sở kinh doanh mới thành lập
và kỳ tính thuế năm cuối cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình
doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá
sản có thời gian ngắn hơn 90 ngày thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo
(đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước đó (đối
25