Đặc điểm phân bố thủy văn và khối nước vùng biển thềm lục địa nam bộ việt nam - Pdf 20

Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình làm đồ án tốt nghiệp, được sự giúp đỡ của Ban Chủ
Nhiệm Khoa Khai Thác, các anh chị phòng Vật Lí Biển, thư viện Viện Hải Dương
Học … Đặc biệt được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, của Thầy Tiến Sỹ
Nguyễn Bá Xuân, để em hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp của mình.
Nhân đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô, các anh chị và
các bạn.
Nha trang 2/11/2005
Sinh viên thực hiện

Trần Văn Vụ

LỜI NÓI ĐẦU

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com

o
75’E.
Do khả năng và thời gian có hạn nên bài luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu
sót, em mong nhận được những góp ý và nhận xét của các thầy, cô, các bạn sinh
viên để em tiếp tục hoàn thiện bài luận văn này.

Nha Trang, 2 tháng 11 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Vụ
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH

Mùa bão có xu thế chậm dần từ Bắc vào Nam, trung bình mỗi năm có khoảng 0.15
cơn bão đổ vào vùng Nam bộ này, chủ yếu vào các tháng XI- XII.
- Mùa mưa ở Nam Bộ bắt đầu kéo dài từ cuối tháng IV cho đến giữa tháng
XI, lượng mưa rất lớn vào tháng VIII, IX và tháng X. Lượng mưa trung bình tháng
dao động từ 0.6- 338mm. Khu vực ven bờ trung bình trên 180mm, khu vực Côn
Đảo trên 300mm. Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1346,8- 2095,4mm. Trung
bình một năm( chỉ tính cho những tháng đặc trưng: I, IV, VII, X) có 371 giờ mưa,
năm có thời gian mưa nhiều nhất là 276,4mm và chỉ xảy ra một lần vào năm 1986,
ứng với xuất bảo đảm khoảng 3%.
I.2 Đặc điểm các điều kiện thuỷ văn- khối nước
Nhiệt độ và độ muối của nước biển là những yếu tố quan trọng. Chúng
thường xuyên biến đổi theo không gian và thời gian. Sự biến đổi đó được gây ra
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
bởi các quá trình địa vật lý phức tạp. Nghiên cứu nguyên nhân biến đổi và qua đó
tìm ra các quy luật phân bố theo không gian và biến đổi theo thời gian là những vấn
đề hết sức quan trọng, là yêu cầu bức thiết của nhiều ngành kinh tế quốc dân, quốc
phòng.
Thềm lục địa phía nam( vùng giao lưu giữa nước ngoài khơi và lục địa).
Nằm ở vĩ tuyến 11
0
bắc đến mũi Cà Mau. Đây là vùng biển nông, đáy thoải với
nhiều cửa sông, nhất là hệ thống sông Cửu Long. Nước của vùng biển này được
hình thành chủ yếu do sự xâm nhập của nước từ Biển Đông vào. Trường nhiệt-
muối ở đây trên thực tế là đồng nhất theo không gian. Sự chênh lệch về nhiệt độ
giữa khu vực phía bắc và khu vực phía nam, giữa tầng mặt và tầng đáy ở vùng này
là không đáng kể.
Vào mùa đông đường đẳng trị nhiệt độ 25.5
0

Trên mặt cắt nhiệt độ song song với đường bờ ở thềm lục địa nam Việt Nam,
vào tháng II và tháng VII, vùng trước cửa sông Cửu Long, nhiệt độ hầu như đồng
nhất quanh năm. Còn vùng ngoài khơi Phan Rang– Phan Thiết, quan sát thấy sự
nâng lên của đường đẳng nhiệt và đó là“Dấu hiệu“ của hiện tượng nước trồi.
Phân bố mặt rộng
Phân bố mặt rộng của nhiệt độ cũng được xem xét cho mỗi cấu trúc nước
riêng biệt trong hai mùa chính: Mùa đông và mùa hè.
Trong lớp tựa đồng nhất bề mặt: Mùa đông các đường đẳng nhiệt có hướng
Đông Bắc– Tây Nam. Xu thế nước lạnh từ phía bắc tràn xuống phía nam rõ rệt. Các
đường đẳng trị cho thấy sự xâm nhập của nước nhiệt độ thấp vào vịnh Thái Lan.
Mùa hè “phông” nhiệt độ khá cao( 29
0
C). Không gian tương đối đồng nhất trên toàn
Biển Đông. Nhiệt độ trung bình là 28,9
0
C. Tâm nhiệt độ thấp, ngoài khơi Trung Bộ
Việt Nam với nhiệt độ 27- 28
0
C( liên quan đến nước trồi).
Phân bố nhiệt độ trên thềm lục địa nam Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc
của dòng lạnh từ phương bắc và có liên quan đến nước trồi, dải nhiệt độ thấp 25-
26
0
C trong mùa đông dọc bờ biển Việt Nam kéo xuống phía nam.
Trong lớp nước dưới tầng mặt(50- 250m) phân bố nhiệt độ ở lớp đột biến
này phức tạp hơn. Vì kết hợp cả tính bất đồng nhất theo phương thẳng đứng lẫn
phương nằm ngang khá lớn khoảng 2.0- 3.0
0
C/100km. Ngược lại gradient theo
hướng trục Biển Đông( Đông Bắc– Tây Nam) rất nhỏ. Mùa hè xu thế nước ấm chảy

C/m trong mùa hè. L ớ p
gradient độ mặn âm, lớp trung gian độ mặn thấp, độ mặn giảm tương đối đều đặn
theo độ sâu và hầu như không có biến đổi mùa. Biên dưới của lớp này thường ở độ
sâu 700- 800m.
Lớp độ mặn tăng chậm với độ sâu: Lớp này hầu như không đổi trong năm.
Biên dưới của nó là 3000- 3500m.
Lớp độ mặn tăng không đáng kể cho tới đáy: Độ mặn khá đồng nhất trong
không gian.
Phần lục địa phía nam là những nơi có nước sông trực tiếp đổ vào, thêm vào
đó các yếu tố xáo trộn động lực cũng đóng vai trò quan trọng trong phân bố thẳng
đứng của độ mặn. Một cách sơ lược ta có thể chia thành hai kiểu cấu trúc độ mặn
đặc trưng cho hai khu vực địa lý khác nhau. Kiểu ven bờ và vùng cửa sông chịu ảnh
hưởng trực tiếp của nước lục địa, có lớp đột biến độ mặn sát mặt và độ mặn tăng
không đáng kể ở tầng đáy. Kiểu xa bờ và vùng cửa vịnh có độ mặn khá đồng nhất ở
lớp mặt và tăng nhanh theo độ sâu ở lớp sát đáy. Kiểu đầu phổ biến trong mùa mưa.
Kiểu sau chiếm ưu thế trong mùa khô.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
Nguồn gốc và sự lan truyền độ mặn được thể hiện khá rõ trên các mặt cắt dọc
và ngang Biển Đông. Cấu trúc độ mặn đặc biệt như lớp cực đại độ mặn, lớp cực tiểu
độ mặn thường có dạng“ lưỡi“ hoặc dạng“ khép kín”.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
Phân bố mặt rộng
Trong lớp mặt gradient độ mặn trên tầng mặt lớn nhất ở vùng ven bờ. Độ
mặn ở đó biến động từ 20‰- 33‰ chính những nơi này đã hình thành và tồn tại các
khối nước nhạt ven bờ, vùng khơi độ mặn không chênh lệch nhiều giữa các vùng
nhưng xu thế chung là độ mặn phía đông cao hơn phía tây.

0
C; S‰ = 34,3‰).
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
- Biến tính đặc trưng ven bờ: Mang chỉ tiêu nhiệt muối lạnh và nhạt của loại
nước từ vịnh Bắc Bộ và ven bờ Trung Bộ chảy tràn xuống biển Đông Nam Việt
Nam trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc yếu dần và thời kỳ chuyển mùa từ tháng II
đến tháng V.
Cơ chế xâm nhập của loại nước này xuống vùng biển Đông Nam Việt Nam
là sự giải phóng năng lượng do bị ức chế trong thời kỳ trước bởi loại nước của dòng
Đông Bắc ngoài khơi. Sự chênh lệch về chỉ tiêu độ muối gần 1‰ giữa biến tính đặc
trưng ngoài khơi và biến tính đặc trưng ven bờ thể hiện qua sự phân phối đối nghịch
nhau trên biểu đồ T- S( T
0
C= 26.3
0
C và S‰= 33.4‰).
- Biến tính đặc trưng Đông- Hè: Vừa mang chỉ tiêu nhiệt độ cao của khối
nước mặt Tây Nam, vừa mang chỉ tiêu độ muối cao của khối nước Đông Bắc< biến
tính nóng và mặn>. Trong suốt thời gian tồn tại khối nước biến tính Đông– Hè có
chỉ tiêu nhiệt độ biến đổi từ 29.3
0
C đến 30.5
0
C và độ mặn từ 33.9‰- 34.2‰. Thực
chất của loại nước này chính là biến tính của khối nước ngoài khơi bị hâm nóng
trong quá trình vận chuyển xuống phía nam.
Nói tóm lại loại nước tầng mặt Đông Bắc là một trong hai loại nước tầng mặt
chính chiếm ưu thế trong không gian và thời gian, có cơ chế vận hành phức tạp và

biệt của loại nước cực đại độ muối. Đó là hiện tượng nước trồi.
Tháng IX- X là thời kỳ chuyển gió từ Tây- Nam sang Đông- Bắc. Loại nước
tầng mặt Tây- Nam theo đà phát triển liên tục đến thời kỳ này đã đạt đến 14 vĩ độ
bắc giữ vai trò chủ yếu và áp đảo trên vùng biển Đông Nam Việt Nam. Loại nước
biến tính đặc trưng Đông– Hè, do sự lấn át của khối nước mặt Tây Nam đã thu hẹp
phạm vi ảnh hưởng ở vùng ngoài khơi phía 14 vĩ độ bắc. Loại nước này trong thời
kỳ gió mùa Đông Bắc sắp tới sẽ giảm dần chỉ tiêu nhiệt độ và tăng dần chỉ tiêu độ
muối để biến trở lại thành loại nước biến tính đặc trưng ngoài khơi. Loại nước cực
đại độ muối trong thời kỳ này đã chìm xuống ở độ sâu 90m nên sự ảnh hưởng của
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
nó biến đổi yếu ớt ở tầng mặt và tầng 30m. Đối với vùng nước nhạt cửa sông Cửu
Long do sự tăng lên cực đại của lưu lượng nước sông trong mùa mưa nên phạm vi
ảnh hưởng của nó là lớn nhất trong năm. Đường đẳng trị độ muối 32‰ phát triển ra
ngoài khơi dưới hai dạng lưỡi nước vươn dài từ cửa sông Tiền Giang và Hậu Giang
theo hướng đông và đông bắc.
Nhưng đến thời kỳ tháng XI- XII khi đã có gió mùa Đông Bắc thịnh hành thì
loại nước tầng mặt Tây Nam bị loại nước tầng mặt Đông Bắc đẩy lùi về phìa nam
và bị chia cắt thành hai trung tâm phân bố. Trung tâm thứ nhất với hàm lượng 50-
70% nằm tiếp giáp với loại nước nhạt vùng cửa sông Cửu Long. Trung tâm thứ hai
với hàm lượng cao hơn 70- 90% nằm ở ngoài khơi vùng biển. Loại nước biến tính
đặc trưng ngoài khơi trong thời kỳ này có đặc trưng chuyển động khá phức tạp.
Dưới sự tác động của những đợt gió mùa Đông Bắc cực mạnh, từng bộ phận của
loại nước này có thể tách ra khỏi khối liên tục trôi độc lập giữa các loại nước khác
nhau, cũng như trong thời kỳ tháng IX- X, trong thời kỳ này vai trò tham gia xáo
trộn thẳng đứng của khối nước cực đại độ muối biểu hiện yếu ớt ở tầng mặt và tầng
30m. Đối với loại nước nhạt vùng cửa sông Cửu Long do lượng nước sông giảm
xuống so với thời kỳ trước nên phạm vi ảnh hưởng của nó bị thu hẹp lại dần.
Bước sang thời kỳ tháng II- III năm sau, do trường gió mùa Đông Bắc yếu

nước mặn và lạnh từ phía bắc xuống.
Điều này chứng tỏ dòng nước từ lục địa ảnh hưởng đến nước tầng mặt của
vùng biển nghiên cứu. Ba yếu tố nước tầng mặt chịu tác động mạnh:
+ Dòng chảy lạnh và mặn từ bắc xuống eo Luzon và eo Đài Loan xâm nhập
vào phía tây Biển Đông.
+ Hiện tượng nước trồi mạnh ven bờ, thềm lục địa Miền Trung và nam Việt
Nam trong mùa hè.
+ Dòng nước từ lục địa.
I.3 Đặc điểm hoàn lưu khu vực nghiên cứu
Đây là khu vực có đoạn bờ biển có nhiều sông ngòi chảy ra, đặc biệt là các
hệ thống sông lớn: Như hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long.
Hệ thống dòng chảy vùng Đông Nam Bộ là kết quả tác động của các hệ
thống gió mùa của chế độ dòng triều và dòng chảy sông về mùa mưa.
Về mùa đông dòng chảy thịnh hành ở vùng này có hướng Tây Nam với vận
tốc trung bình khoảng 50- 60cm/s, lớn nhất khoảng 75cm/s. Hướng Tây Nam có tần
xuất lớn nhất khoảng trên dưới 60%. Sau đó là hướng tây có tần xuất khoảng 20%.
Ngoài ra còn quan sát thấy các dòng chảy vuông góc với bờ, vừa từ bờ ra và vừa từ
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
biển vào, với tần xuất đều nhỏ và xấp xỉ bằng nhau. Song về vận tốc dòng hướng từ
biển vào có vận tốc lớn hơn dòng chảy từ bờ chảy ra.
Về mùa hè bức tranh dòng chảy đối lập với bức tranh dòng chảy về mùa
đông. Dòng chảy có hướng từ Tây Nam về Tây Bắc với vận tốc trung bình khoảng
50- 60cm/s, lớn nhất khoảng 70cm/s. Hướng Đông Bắc và hướng Đông– Đông Bắc
có tần xuất xấp xỉ bằng nhau và mỗi hướng có tần xuất khoảng 30%. Hướng Đông
có tần xuất nhỏ hơn hai hướng dòng chảy nêu trên một ít và xấp xỉ bằng 25%.
Trong tháng IV thuộc mùa chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè dòng chảy
có hướng rất phân tán. Về mùa này vừa có dòng chảy, chảy về hướng Bắc – Đông
Bắc với tốc độ không lớn chỉ khoảng 12-15cm/s. Vừa tồn tại dòng chảy có hướng

- Nước trồi dải ven bờ và thềm lục địa do gió mùa Tây Nam gây ra.
- Nước trồi do hiện tượng phân kỳ nước ở các tâm xoáy thuận tây Biển
Đông. Loại nước trồi thứ hai này tồn tại trong cả mùa hè và mùa đông. Trong mùa
hè nước trồi thường có tâm áp sát bờ, còn trong mùa đông thì xa bờ. Và nước trồi
mạnh ven bờ có khả năng tồn tại từ tháng V đến tháng IX hàng năm.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
Đặc điểm phân bố và cấu trúc nhiệt muối vùng nước trồi
- Theo phân bố trung bình nhiều năm nhiệt độ nước tầng mặt tại tâm nước
trồi có thể hạ xuống dưới 24.5
0
C, và độ mặn tăng lên trên 34.2‰. Trên thực tế nhiệt
độ thấp hơn nhiều.
Nhiệt độ tầng mặt tại tâm nước trồi có thể đạt 21.76
0
C giá trị này tương
đương với nhiệt độ nước tầng 75-100 m ở những vùng không có nước trồi của Biển
Đông.
- Dưới tác động của dòng nước trồi mạnh các mặt đẳng nhiệt và đẳng mặn bị
nâng lên cao một cách đáng kể.
- Những dị thường nhiệt độ và độ muối trung bình nhiều năm do nước trồi
gây nên ở biển so với các giá trị trung bình vĩ tuyến của Biển Đông, được chỉ rõ ở
hình vẽ. Từ đó thấy nhiệt độ trung bình nhiều năm của nước tầng mặt ở tâm nước
trồi có thể thấp hơn 4
0
C. Độ muối cao hơn 1,2‰ so với giá trị trung bình vĩ tuyến
Biển Đông. Thời điểm dị thường nhiệt độ mặt biển có thể đạt tới 7.0
0
C so với“
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
CHƯƠNG II
SỐ LIỆU SỬ DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II.1 Số liệu sử dụng
II.1.1 Vùng nghiên cứu
Vùng biển thềm lục địa Nam Bộ Việt Nam, nằm ở phía tây nam của Biển
Đông. Có giới hạn vĩ độ 6.75
0
- 11.75
0
Bắc, kinh độ 103.75
0
-112.75
0
Đông. Phía bắc
vùng nghiên cứu giáp với biển Miền Trung, phía đông giáp với vùng khơi Biển
Đông, phía tây nam là vịnh Thái Lan.
Thềm lục địa Việt Nam có dạng tương tự như hình dạng lãnh thổ trên đất
liền. Rộng ở hai đầu và thắt lại ở giữa( từ Đà Nẵng đến Phan Rang) khu vực này
đường đẳng sâu chỉ cách bờ biển có 30km và khi xa bờ 250km đã gặp một vực sâu
quá 3000m.
Từ bản đồ địa hình ta có thể khái quát hóa địa hình thềm lục địa Nam Bộ Việt
Nam thành ba khu vực có đặc điểm hình thái khác nhau:
- Khu vực phía bắc đảo Phú Quý hẹp dốc và có dạng phân bậc cao thành các
bậc thềm.
- Khu vực phía nam, tây đảo Phú Quý có địa hình tương đối dốc phức tạp.

II.1.2 Tài liệu sử dụng
Để xây dựng các bản đồ tạo nền phục vụ cho việc tính toán, nghiên cứu, em
đã sử dụng số liệu nhiệt độ và độ muối do Viện Hải Dương Học cung cấp. Nguồn
số liệu này được lấy từ cơ sở dữ liệu CSDL VODC. Đây là CSDL biển Quốc Gia.
Nguồn số liệu này bao gồm 6.440 chuyến khảo sát, thực hiện đo đạc trên 135.671
trạm đo, trong khoảng thời gian từ 16/ 01/ 1989 đến 25/ 05/ 1999. Trong đó yếu tố
nhiệt độ được đo trên 123.215 trạm, bao gồm 495.166 số liệu. Các số liệu nhiệt độ,
độ muối này được trung bình hoá cho từng ô vuông có các cạnh 0.5
0
*0.5
0
. Trong
luận luận văn này chỉ giới hạn các trạm đo và nguốn số liệu sử dụng ở vùng biển
thềm lục địa Nam Bộ Việt Nam.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
II.2 Phương pháp nghiên cứu
Vấn đề xác định kích thước trung bình hóa theo không gian và thời gian với
nguồn số liệu hiện có là việc làm cần thiết để xây dựng các bản đồ phân bố yếu tố
Hải Dương Học đủ chi tiết và tin cậy. Kích thước trung bình hóa theo thời gian hiện
nay vẫn là trung bình mùa chứ không phải là trung bình tháng bởi vì: Thứ nhất số
liệu thủy văn trong các tháng Mùa Đông thường ít và phân bố không đều trên toàn
Biển Đông nói chung và vùng biển thềm lục địa Nam Bộ Việt Nam nói riêng so với
mùa hè. Thứ hai trường gió- yếu tố khí tượng chi phối mạnh mẽ sự phân bố trường
thủy văn Biển Đông cũng có hai mùa rõ rệt: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây
Nam. Với ý tưởng trên từ các số liệu có được của các yếu tố nhiệt độ, độ muối trong
các tháng nhiều năm ta chia thành các mùa sau: Mùa hè thủy văn( gió mùa Tây
Nam) gồm các tháng VI, VII, VIII. Mùa đông thủy văn( gió mùa Đông Bắc) gồm
các tháng XII, I, II. Các tháng III, IV, V và IX, X, XI tương ứng với hai mùa chuyển

gió Tây Nam( mùa hè) và tháng IV, X đại diện cho thời kỳ chuyển mùa.
Cơ sở lý thuyết
T- S đường cong là một trong những hình thức biểu hiện bằng đồ thị sự phân
bố thẳng đứng của nhiệt độ và độ muối tại các trạm thuỷ văn.
Để xây dựng T- S đường cong trong trường hợp của các trục toạ độ T và S.
Mỗi một tầng của trạm biểu diễn bằng một điểm theo số liệu đo đạc của T và S. Bên
cạnh các điểm của các tầng người ta ghi độ sâu và qua tất cả các điểm người ta nối
lại thành một đường cong T và S.
Khối nước đồng nhất trong trường của hệ trục toạ độ T và S được mô tả bằng
một điểm. Hai khối nước đồng nhất nằm kề nhau, trong trường hợp không có sự xáo
trộn giữa chúng với nhau, thì có thể biểu hiện chúng bằng các điểm riêng biệt.
Tuy nhiên do hậu quả xáo trộn liên tục với nhau ở ranh giới các khối nước,
tạo thành hỗn hợp giữa chúng. Các đặc trưng T và S của hỗn hợp này liên quan với
các đặc trưng của khối nước, được gọi là T- S tỷ lệ, nhận được từ các công thức xáo
trộn đã biết.
T

-T
B
/T
A
-T

= S

-S
B
/S
A
-S

Trường hợp thường gặp nhất là trường hợp khi khối nước nằm giữa B nhỏ
hơn khá nhiều theo sự kéo dài trên phương thẳng đứng so với các khối nước nằm
bên rìa A và B. Do đó khối nước nằm giữa xáo trộn với các khối nước bên cạnh.
Thay đổi các đặc trưng của mình trong toàn bộ độ dày cột nước của nó. Kết quả của
tác động đó đã làm cho đường gấp khúc ABC trở thành đường cong.
Sự thay đổi nhiệt độ và độ muối ở trong các khối nước do hậu quả trao đổi
rối. Theo phương thẳng đứng được biểu thị các phương trình sau:
∂T/∂t= K∂
2
T/∂Z
2
và ∂S/∂t= K∂
2
S/∂Z
2

Ở đây: t- Thời gian
Z- Độ sâu
K- Hằng số trao đổi rối
Giải các phương trình này khi có điều kiện ban đầu và điều kiện biên của các
khối nước. Xtokman( 1943) nhận được biểu thức của sự xáo trộn 3 khối nước. Một
trong 3 khối nước đó thì khối nước nằm giữa nhỏ hơn, theo mức độ kéo dài theo
phương thẳng đứng. Hàng loạt các kết luận mang tính chất thực hành quan trọng
cho phép bằng cách xây dựng các biểu đồ phân tích các khối nước bằng các đường
cong T- S.
Những kết luận cơ bản
Trong thời gian đầu của sự xáo trộn giữa các khối nước đường cong T-S là
một đường gấp khúc, bao gồm các đường thẳng nối các khối nước đã được xác
định.
Các điểm của các đường cong T-S còn nằm cách khá xa đối với các ranh giới
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUPDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bá Xuân
SVTH: Trần Văn Vụ Lớp: 43HDH
III.1. Đặc điểm phân bố mặt rộng của trường nhiệt độ và độ muối ở vùng biển
thềm lục địa nam bộ việt nam
Biển Đông nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên ở đây có hai mùa gió
chính rõ rệt. Và hậu quả là các đặc trưng thuỷ văn và động lực của vùng biển chịu
tác động mạnh mẽ của hai mùa gió này. Theo cách gọi phổ biến nhất thì đó là mùa
gió Tây- Nam và mùa gió Đông- Bắc. Vùng biển Nam Bộ Việt Nam nằm trong
Biển Đông nên cũng thể hiện rõ tính chất của hai loại gió mùa này.
Như đã nêu ở phương pháp nghiên cứu, trong phần trình bày về phân bố mặt
rộng của trường nhiệt độ và độ muối trên vùng biển Nam Bộ trong các tháng nhiều

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status