đặc điểm phân bố cá nổi và cấu trúc nhiệt – muối ở vùng biển miền trung - Pdf 15

Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 1

PHẦN 1: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

1.1.THờI GIAN VÀ NộI DUNG THựC HIệN
Thời gian thực hiện đề tài: Từ ngày 14-3-2005 đến ngày 25-6-2005
-Nơi thực hiện đề tài: Viện Hải Dương Học Nha Trang
Nội dung thực hiện đề tài: Đặc điểm phân bố cá nổi và cấu trúc nhiệt –
muối ở vùng biển Miền Trung .
Với các công việc cụ thể sau:
Thống kê và phân tích sự phân bố, biến đổi năng suất đánh bắt một
số loài cá nổi có giá trị kinh tế cao trong nghề lưới rê ở vùng nước
ven biển miền Trung (Từ Đà Nẵng đến Bình Thuận)
Phân tích cấu trúc nhiệt-muối( theo không gian và thời gian ) ở vùng
biển miền Trung.
Phân tích,đánh giá quan hệ định tính giữa sự phân bố và tập trung cá
với đặc điểm cấu trúc nhiêt- muối.
Đề xuất khả năng dự báo sự tập trung cá theo cấu trúc nhiệt –muối.
Phân tích thống kê và thể hiện trên phần mềm GIS.

1.2.CÁC Dữ LIệU Sử DụNG
Do thời gian hạn chế không thể tham gia khảo sát trên biển, nhưng được sự
cho phép của các thầy và lãnh đạo Viện Hải dương học, chúng tôi được sử dụng
các nguồn dữ liệu đã công bố và chưa công bố của một số đề tài đang được lưu trữ
tại Viện, để thực hiện các nội dung nói trên của luận văn tốt nghiệp. Dưới đây là
các nguồn dữ liệu chủ yếu đã sử dụng trong luận văn:
1. Nguồn dữ liệu chủ yếu là dữ liệu thô của chương trình hợp tác giữa Việt
Nam - Nhật Bản ( JICA- Cơ quan hợp tác hải ngoại của Nhật). Tất cả có

phần mềm( Mapinfor, excel và Surfer) mà thành.

Bảng 1: Cơ sở dữ liệuchủ yếu ở vùng biển miền Trung (1995-1997)

STT Thời gian
khảo sát
Vị trí và nội dung khảo
sát
Cơ sở dữ liệu
1

2
3
4
31/10-21/12/95

08/5-23/6/96
06/9-26/10/96
05/5-26/6/97
+ Khảo sát nguồn lợi xa
bờ vùng Miền Trung và
Đông Nam Bộ:từ độ sâu
40m ra tới 112
0
00’E và
8
0
00’-18
0
00’N

tời…Ngoài ra người ta còn sử dụng các thiết bị tự động (phương pháp áp suất thuỷ
tĩnh, phương pháp đo sâu hồi âm…).
-Quy toán kêt quả quan trắc:
+ Nếu đo bằng dụng cụ cơ học thì:

Trong đó:
h
1
: Số đo khi đầu sóng đi qua(m)
h
2
: Số đo khi chân sóng tiếp theo đi qua(m)

+ Nếu đo bằng nhiệt kế đảo :

Trong đó:
B: Là hệ số nén, là mức tăng trung bình chiều cao cột thuỷ ngân
khi áp suất tăng nên 1KG/cm
2

Pm: Mật độ trung bình của cột nước từ mặt biển đến độ sâu thả máy
Tu: Số đọc đã quy toán của nhiệt kế đo sâu
Tv: Số đọc đã quy toán của nhiệt kế đảo nước sâu.

Đo nhiệt độ và lấy mẫu nước:
- Nhiệt độ nước biển biến đổi do những nguyên nhân (sự hấp thụ năng lượng
bức xạ mặt trời của lớp nước bề mặt, sự bức xạ nhiệt của mặt biển, sự bay hơi, sự
trao đổi nhiệt với khí quyển…
- Dụng cụ quan trắc là: Nhiệt kế thuỷ ngân để đo nhiệt độ tầng mặt, nhiệt kế
nước sâu và máy lấy nước để đo nhiệt độ và lấy mẫu nước ở các tầng chuẩn (nhiệt

.
10
n
LV
V
.
0
=
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 4
n - Tổng số bi rơi vào các vách ngăn của hộp la bàn
Quan trắc sóng:
- Sóng có thể do gió, thuỷ triều, do địa trấn, sóng tàu…
- Mối tương quan giữa tốc độ, độ dài và chu kỳ sóng là:

(m/s)

- Dụng cụ quan trắc sóng là: Mắt thường, dùng máy sóng ký GM- 16, Máy sóng
ký GM- 62.
- Quy toán kết quả qua trắc sóng:
+ Độ cao sóng quan trắc theo cọc nổi là: H = H1 – H2

+ Chu kỳ sóng là:

Xác định chỉ số sinh học của cá:
Chiều dài thân cá được phổ biến là chiều dài đo từ mút mõm đến mút đuôi
vây(Lt), ngoài ra trong phân tích hình thái còn sử dụng chiều dài chuẩn(Ls)


PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 5
Ngừ, Kiếm, Nục Heo,…), cá đáy và gần đáy có tập tính di chuyển thẳng đứng
theo ngày đêm (cá Hồng, Lượng, Trác,…). Trong đó, nhóm cá nổi ven bờ va cá
nổi di cư chiếm ưu thế về sản lượng khai thác trong vùng nghiên cứu ( chiếm trên
80% tổng sản lượng khai thác). Chính vì vậy, trong luận văn tập chung nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến một vài đối tượng thuộc nhóm cá nổi di cư với phương
tiện khai thác là lưới rê trôi.
Qua thực tiễn khai thác và nghiên cứu cho thấy, những điều kiện môi
trường bên ngoài đóng vai trò quyết định đến tập tính, khả năng bổ xung, sự sinh
tồn, sinh trưởng và phát triển của cá. Nhằm thực hiện mục tiêu đề ra, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu những điều kiện bên ngoài tác động đến năng xuất đánh bắt cá,
mà cụ thể ở đây là các yếu tố hải dương học nói trên.
Để nghiên cứu các yếu tố hải dương học tác động đến hiệu quả khai thác cá
thì cần thiết phải có đại lượng làm chuẩn để đặc trưng cho mức độ khai thác. Ở
đây, qua khảo sát thực tế sản xuất, đề tài chọn yếu tố năng xuất trung bình cá khai
thác được của nghề lưới rê đối với cá nổi di cư đại dương trong một năm để làm
đơn vị chuẩn so sánh các mức độ năng xuất khai thác khác nhau.
Tuy nhiên trong thực tế có những sai khác giữa sản lượng khai thác và mật
độ tập chung cá. Ví dụ: ở một vị trí đánh bắt nào đó có các yếu tố hải dương học
(nhiệt độ, độ muối, độ sâu, chất đáy, dòng chảy, ) thích hợp cho sự tập trung cá,
nhưng lại cho năng xuất khai thác thấp đối. Điều này cho thấy rằng mối quan hệ
tổng hợp giữa năng xuất đánh bắt cá với các yếu tố môi trường.
Vì những lý do nói trên ta cần xem xét nhóm các yếu tố hải dương học tác
động đến năng xuất đánh bắt cá nổi với nhóm các yếu tố này bao gồm: nhiệt độ
nước, độ muối, ôxy hòa tan, độ sâu, chất đáy

2.1.1.Đặc điểm khí hậu
Vùng biển miền Trung cũng như biển nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến
Bắc bán cầu, phía Nam gần xích đạo, phía Bắc gần với vùng ôn đới. Khí hậu thời
tiết vùng biển nước ta chịu ảnh hưởng luân phiên của cả khối khí miền cực đới
khô lạnh từ phía Bắc di chuyển xuống và những khối khí nóng ẩm từ phía Nam di
chuyển lên. Do đó, khí hậu ở đây vừa mang tính chất của miền ôn đới vừa mang
tính chất của miền nhiệt đới. Ngoài ra,vùng biển Việt Nam còn tiếp giáp với đại
dương lớn là Thái Bình Dương ở phía Đông và phía Nam, đồng thời tiếp giáp với
hai đại lục địa Âu – Á, nên chế độ khí hậu vừa mang tính chất biển vừa mang tính
chất lục địa.
Mặt khác, nước ta vừa dài lại vừa hẹp, có bờ biển uốn cong kéo dài gần
3.620km, trải dài từ Bắc vào Nam và chia làm nhiều đoạn với những đặc điểm địa
hình khác nhau. Dọc theo ven biển nước ta có nhiều sông lớn nhỏ, trung bình cứ
20km lại có một cửa sông. Chính hệ thống sông ngòi này (nhất là hệ thống sông
Hồng và sông Cửu Long) đã tạo nên điều kiện khí hậu khác nhau ở mỗi vùng và
làm thay đổi các đặc trưng khí tượng hải văn vùng ven biển [4, 5].
Gió:
Gió phản ánh cơ chế hoàn lưu của hệ thống các khối không khí luân phiên
nhau. Ơ vùng biển nước ta chế độ gió tương ứng với chế độ khí áp và đặc điểm địa
hình ven biển.
Chế độ gió vùng biển miền Trung từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cũng có
những nét tương tự như vùng biển từ Nghệ An đến Thừa Thiên – Huế, vì do ảnh
hưởng của địa hình nên gió Đông bắc bị lệch hướng sang hướng Bắc hoặc Tây
bắc. Tốc dộ gió trung bình 2,5- 3m/s, tốc độ gió lớn nhất đạt tới 18 – 20m/s.
Từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 6 hướng gió thịnh hành Đông đến Đông
Nam, tốc độ gió trung bình 3- 4m/s, tốc độ gió mạnh nhất khoảng 22- 24m/s.
Giai đoạn cuối tháng 6 đến tháng 9 gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh trên
toàn vùng biển này, hướng gió thịnh hành Tây hoặc Tây Nam, tốc độ trung bình
3,5- 4m/s, gió mạnh nhất đạt 24-26m/s [4,5].


Đông mạnh mẽ hơn trong những tháng mùa Hè và ở phía Bắc sự biến động của
nhiệt độ không khí rõ rệt hơn các vùng phía Nam.
Gió mùa Đông Bắc khi thổi đến vùng biển miền Trung đã yếu nên nhiệt độ
không khí trong mùa ở phía Nam thường cao hơn khu vực phía Bắc, nhiệt độ
không khí trung bình 23-25
0
C, cao nhất là 27-29
0
C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là
34- 36
0
C, có năm tới 37-39
0
C ( Đà Nẵng 39,9
0
C ngày 30/7/1979), thấp nhất 17-
19
0
C, có năm xuống thấp nhất 12
0
C [4,5].

2.1.2. Thuỷ văn biển
Nhiệt độ nước:
Nhiệt độ của các vùng nước giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cá.
Nhiệt độ quyết định sự phân bố, ảnh hưởng đến sự trao đổi, đến cường độ bắt mồi
và quá trình hoạt động khác của cá như dinh dưỡng, di cư, sinh sản, sinh
trưởng, Ở đa số các loài cá, thân nhiệt chỉ sai khác với nhiệt độ bên ngoài của
môi trường khoảng 0.5-1
0

C và thấp nhất vào tháng 1 trung bìnhl
à 22
0
– 24,7
0
C.
Vào thời kì gió mùa Đông Bắc (xem Hình 3, 4):
Từ tháng 1- 3 nhiệt độ trung bình trong toàn vùng tăng dần theo hướng từ bờ
ra khơi và từ Bắc vào Nam. Nhiệt độ nước tầng mặt dao động trong khoảng 21,5
0

– 28,5
0
C, thấp nhất ở dải ven bờ từ 14 – 17
o
C, khu vực ngoài khơi và phía Nam từ
24,5 – 28,4
0
C.
Vào thời kì gió mùa Tây Nam (xem Hình 5, 6):
Nhiệt độ nước tầng mặt cao, trung bình 27 – 30,2
0
C. Trong tháng 7 tại khu
vực Mũi Dinh thuộc trung tâm nước trồi nhiệt độ xuống tới 23,72 – 23,83
0
C. Khu
vực phía Bắc và ngoài khơi nhiệt độ lên tới 30,2
0
C.



SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 9

Cấu trúc nhiệt - muối theo phương thẳng đứng (xem Hình 10 - 22):
Phân bố nhiệt độ nước theo độ sâu và theo 2 mùa gió ở vùng nghiên cứu như
sau:
-Lớp đồng nhất.
-Lớp nhảy vọt.
-Lớp chuyển tiếp.
-Lớp giảm chậm theo độ sâu.
Cấu trúc nhiệt độ nước biển hoàn toàn thấp đổi theo mùa thời tiết, sự thay
đổi này tồn tại đến độ sâu 200m.
Vào mùa gió Tây Nam lớp đồng nhất nhiệt độ ở độ sâu từ 15 – 100m, mùa
gió Đông Bắc nó nằm ở độ sâu 50 – 120m. Các lớp đồng nhất nhiệt độ có độ dày
cực đại ở các vùng nước đồng nhất chìm và cực tiểu ở vùng nước trồi. Độ dày của
lớp nhiệt tăng hay giảm phụ thuộc vào tác động của gió mùa và hiện tượng của
nước trồi, nước chìm. Độ dày của lớp nhảy vọt xác định trong mùa gió Tây Nam
là từ 20 – 50m, mùa gió Đông Bắc là 30 – 60m. Biến thiên thẳng đứng của nhiệt
độ trong lớp này vào mùa gió Tây Nam là 0,14 – 0,32
0
C/m. Còn trong mùa gió
Đông Bắc giá trị không vượt quá 0,20
0
C/m. Ở khu vực biển này thường xuất hiện
hiện tượng nước trồi hoặc những vùng nước nóng phía Bắc hoặc phía Tây Nam
của vùng biển này biến thiên nhiệt độ thẳng dứng ở lớp nước từ mặt đến 10m có
thể đạt tới 0,5 – 1
0
C/m. Ở độ sâu từ 200 – 300m nhiệt độ giảm chậm, tại độ sâu

C và thấp nhất vào tháng 1 trung
bình là 22 – 24,7
0
C.
Từ tháng 1 – 3 nhiệt độ trung bình trong toàn vùng tăng dần theo hướng từ
bờ ra khơi và từ Bắc vào Nam. Nhiệt độ nước tầng mặt dao động trong khoảng
21,5 – 28,5
0
C, thấp nhất ở dải hẹp ven bờ từ 14 – 17
0
C, khu vực ngoài khơi và
phía Nam từ 24,5 – 28.4
0
C.
Vào thời kỳ gió mùa Tây Nam: Nhiệt độ nước tầng mặt cao,trung bình 27 –
30,2
0
C. Trong tháng 7 tại khu vực Mũi Dinh thuộc vùng trung tâm nước trồi nhiệt
độ nước xuống tới 23,72 – 23,82
0
C. Khu vực phía Bắc và ngoài khơi nhiệt độ lên
tới 30,2
0
C. Cấu trúc nhiệt độ nước biển hoàn toàn thay đổi theo mùa thời tiết, sự
thay đổi này tồn tại dưới độ sâu 200m.
Vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc: Lớp đột biến nhiệt độ nằm ở độ sâu 50 –
120m.Các lớp đồng nhất nhiệt độ có độ dày cực đại ở các vùng nước đồng nhất
chìm và cực tiểu ở vùng nước trồi. Độ dày của lớp nhiệt tăng hay giảm phụ thuộc
vào tác động của gió mùa và hiện tượng của nước trồi. Độ dày của lớp nhảy vọt là
30 – 60m.


SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 11
qua yếu tố truyền sáng trong biển. Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng đến tập tính của
cá và thức ăn của nó đã đươc sử dụng trong những phương pháp đánh bắt khác
nhau có từ thời kỳ mà kỹ thuật khai thác cá chỉ mới phát triển sơ khai. Ngày nay
việc sử dụng ánh sáng để khai thác cá được ứng dụng manh mẽ.
Nhìn chung, nồng độ ôxy hòa tan trong vùng nghiên cứu là khá cao, điều
này là tốt cho sự sinh trưởng của các loài cá. Cũng như yếu hai yếu tố nhiệt độ và
độ muối, khi nước trồi hoạt động mạnh thì hàm lượng ôxy hòa tan trong vùng
cũng bị biến đổi mạnh, hàm lượng ô xy hòa tan ở vùng tâm nước trồi (phía Nam
vùng nghiên cứu) có thấp hơn các khu vực khác vào mùa gió Tây nam.
Trên vùng biển miền Trung hàm lượng ôxy trung bình năm từ 4,5-5ml/l (ở
tầng mặt) và từ 2,5-3,1ml/l (ở tầng đáy). Trong mùa gió Tây Nam điển hình là
tháng 6,7 hàng năm, hàm lượng ôxy trung bình tầng mặt là 4-5ml/l và tầng đáy là
2-3ml/l. Cùng thời gian này tại khu vực nước trồi hàm lượng ôxy giảm do khối
nước có hàm lượng ôxy thấp từ dưới sâu đi lên. Độ bão hoà trên toàn vùng biển
miền Trung đạt từ 98%- 105%.
Từ tầng mặt đến 75m hàm lượng ôxy thường đạt mức bão hoà. Từ 100m trở
xuống mức bão hoà của ôxy giảm từ 57%- 30%.
Theo phương nằm ngang, phân bố hàm lượng ôxy có xu thế chung là giảm
dần từ Bắc xuống Nam và từ bờ ra khơi.
Về mùa gió Đông Bắc hàm lượng ôxy cao hơn mùa trong mùa gió Tây
Nam ( cả tầng mặt và tầng đáy ) [4, 6].

2.1.3.Đặc điểm hoàn lưu biển (xem Hình 23, 24)
Do ảnh hưởng của gió mùa, hoàn lưu nước ở vùng thềm lục địa biển Việt
Nam cũng hình thành 2 hệ thống chính là: Hệ thống hoàn lưu nước mùa gió Đông
Bắc và hệ thống mùa gió Tây Nam. Trong mùa gió Tây Nam thì thời gian này
lượng mưa nhiều, nước từ lục địa đổ ra biển rất lớn đã ảnh hưởng đến hệ thống

thể lên tới 4.000 – 5.000m. Do vậy bức tranh dòng chảy ở vùng nghiên cứu cũng
khá đặc sắc. Dưới tác động trực tiếp của gió mùa Tây Nam cộng với các điều kiện
địa lí đã nêu trên, dòng chảy ở khu vực này đã tạo nên một xoáy thuận lớn ở vùng
biển miền Trung. Phía Bắc vùng biển miền Trung nước từ ngoài khơi đưa vào bờ,
một phần tách ra đưa vào Vịnh Bắc Bộ và một phần đi xuống phía Nam chảy song
song với đường bờ. Xuống tới vĩ độ 10
0
00’ – 11
0
00’ dòng chảy chuyển sang
hướng Tây Bắc – Đông Nam, càng ra ngoài khơi đng chảy có xu hướng song song
với vĩ tuyến, khi tới 111
0
00’E dòng chảy lại có hướng Nam- Bắc ngược lại với
hướng chảy ven bờ, chính vì vậy ở đây đã tạo nên một xoáy thuận lớn.
Vận tốc dòng chảy trong toàn vùng tương đối lớn, tốc độ trung bình khoảng
từ 30- 40cm/s, cực đại tới 75cm/s. theo độ sâu hướng chảy ít thay đổi. Tới độ sâu
200m ở vùng biển miền Trung vãn tồn tại xoáy thuận này. Đến tầng 200m vận tốc
dòng chảy chỉ còn bằng 1/3 vận tốc tầng mặt.
Hướng dòng chảy của khu vực này có những nét tương tự như mùa gió Tây
Nam. Dòng nước ngoài khơi biển Đông đi vào bờ, một phần được tách ra đi vào
Vịnh Bắc Bộ, phần còn lại đi xuồng phía Nam. Toàn vùng có một xoáy thuận lớn
mà từ đó nó chi phối tới hướng của hệ thống dòng chảy. Về cơ bản thì dòng chảy
ở khu vực này có những nét khác so với mùa gió Tây Nam, dòng nước từ phía Bắc
đi xuống với tốc độ mạnh được ép sát gần bờ tới vĩ độ 9
0
00’N mới đổi hướng. Vận
tốc dòng chảy gần bờ rất lớn, tốc độ cực đại lên tới 150cm/s, còn trung bình vào
khoảng 70cm/s, ở phía Đông của vùng xoáy thuận dòng chảy có hướng Nam –
Bắc nhưng vận tốc yếu hơn so với khu vực ven bờ.

Ở mùa chuyển tiếp từ mùa SW sang mùa NE ở phần phí bắc khu vực miền
Trung chế độ dòng chảy có nhiều nét tương tự như mùa Đông , còn ở nửa phần
phía nam ( gần đảo Phú Qúy ) chế độ dòng chảy có nhiều nét gần giống với bức
tranh mùa SW.

2.1.4.Hiện tượng nước trồi
Nước trồi là một hiện tượng tự nhiên đặc sắc của biển và đại dương, nó
phản ánh quá trình chuyển động thẳng đứng của nhiệt độ nước biển, trong đó nước
tầng sâu chuyển động lên mặt biển tạo lên vùng sinh thái thuận lợi cho việc tập
trung và phát triển của nguồn lợi sinh vật biển. Nước trồi có thể xuất hiện ở các
vùng khơi đại dương do tác động của các quá trình phân kỳ nước tai tâm hoàn lưu
xoáy thuận. Nước trồi còn xuất hiện ở các giải biển ven bờ do quá trình tác động
của địa hình đáy và gió.
Ở nước ta vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ từ lâu đã nổi tiếng là một vùng
biển có khả năng đánh bắt hải sản cao , mà một trong những nguyên nhân dẫn đến
là hiện tượng nước trồi ở nay.
Nguyên nhân gây lên hiện tượng nước trồi:
-Hai nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nước trồi là đặc điểm cấu tạo địa
hình bờ – đáy biển và tác động của gió mùa Tây Nam.
-Trong mùa hè khu vực này tồn tại hai loại gió chủ yếu là Tây – Nam và
gió Tây. Hướng của chúng tạo với đường bờ một góc thuận lợi cho hình thành
nước trồi
-Ngoài ra khu vực nghiên cứu còn tồn tại một xoáy thuận khí quyển khá ổn
định có khả năng gay nên hoàn lưu xoáy thuận của nước biển.
Phạm vi, chu kỳ,cường độ, dòng chảy của nước trồi:
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 14

thường nông, 1 – 3m rất hiếm khi lên tới 5 – 6m, hay bị ách tắc do lũ từ thượng
nguồn đổ về. Các đầm phá là nơi sinh sống của nhiều loài đặc sản kinh tế nước lợ,
lợ – mặn.
Địa hình thềm lục địa khu vựa biển miền Trung:
Chúng ta biết rằng độ sâu, địa chất đáy biển có ảnh hưởng đến tập tính cá và
nghề đánh cá. Muốn đánh bắt được nhiều cá, điều quan trọng nhất là phải biết
được sự phân bố các độ sâu, địa hình, địa chất đáy, Chính vì vậy, trong nghề
khai thác cá, người ta dùng đến các loại bản đồ có thể hiện các thông số trên như
cẩm nang cần thiết.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 15
Ngoài ra còn thấy, giữa các điều kiện địa chất và hiện tượng nước trồi có mối
quan hệ mang tính nhân quả. Ở đây điều kiện hình thái đường bờ và địa hình đáy
biển (sự phân khu, tính phân bậc, độ dốc bề mặt) là một trong các nguyên nhân
trực tiếp tạo nên hiện tượng nước trồi. Cấu trúc trầm tích, sự biến đổi các yếu tố
địa hóa trong vùng là hệ quả của nước trồi. Về điều kiện địa chất môi trường, tâm
nước trồi mạnh là vùng hầu như không có lắng đọng trầm tích hiện đại, chất đáy
thô, kích thước hạt lớn (các loại cát) rất nghèo chất hữu cơ , môi trường đáy biển
là môi trường ôxy hóa. Các vùng ven rìa xa tâm nước trồi chất đáy mịn hơn, hàm
lượng vật chất hữu cơ cao hơn . Đặc biệt do có mối tương quan nhân quả nên đáy
biển của vùng nghiên cứu được phân ra các vùng địa sinh thái khác nhau.
Vùng thềm lục địa khu vực biển miền Trung là vùng hẹp nhất nước ta và
phát triển thừa kế trên khung cấu trúc kiến tạo định hướng Bắc – Nam. Bề mặt
thềm lục địa dốc, các đường đẳng sâu từ 20-100m nước chụm sát vào nhau. Ven

lục địa khu vực này ở độ sâu 150m, chân sườn ở độ sâu 1000 – 1200m và
góc dốc trung bình 45’ – 1
0
.
Phía ngoài Bình Thuận – Ninh Thuận: Sườn lục địa mở rộng với giá trị
trung bình 60 – 80m, chân sườn nằm ở độ sâu 1000 – 1200m và góc dốc
trung bình là 45’ – 1
0
[4,5,6]
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 16

Chất đáy khu vực biển miền Trung:
Đây là giải đồng bằng hẹp với bề rộng khoảng 5 – 30 km. Bề mặt phân bố ở
độ sâu từ 25- 100m nước, phần trên của đồng bằng chịu ảnh hưởng của đới động
lực sóng biến dạng và phá huỷ. Do đó, vật liệu tích tụ ở đây thành phần hạt thô
chiếm tỷ lệ rất đáng kể, tạo cho đồng bằng có độ dốc lớn, hình thái nhấp nhô, gồm
có các trầm tích hạt thô (sạn, cát, các mảnh vụn sinh học…) phổ biến ở độ sâu
100m nước. Bề mặt đáy biển bị biến dạng lớn.

2.3.Sự BIếN ĐổI VÀ NĂNG SUấT ĐÁNH BắT MộT Số LOÀI CÁ NổI
CÓ GIÁ TRị KINH Tế ở VÙNG BIểN MIềN TRUNG
Trong số khoảng trên 2.000 loài cá cho tới nay đã xác định được ở khu vực
biển ven bờ Việt Nam, có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế, với có ý nghĩa là
những loài có sản lượng thường chiếm trên 1% tổng sản lượng đánh bắt.
Ơ vùng biển xa bờ (độ sâu lớn hơn 30-50m), các kết quả khoả sát bước đầu
của Viện Nghiên Cứu Thuỷ Sản trong thời gian 1998-1999 cho biết ở vùng biển

Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 17
thu vạch…
Họ cá ngừ Thunnidae Cá ngừ ồ,cá ngừ chấm,cá ngừ vằn,cá
ngừ vây vàng,cá ngừ bò,cá ngừ mắt to,
cá ngừ sọc dưa…
Họ cá bơn Cynoglossidae Cá bơn…
Họ cá bò giấy Balistidae Cá bò giấy…

Dựa vào dữ liệu của 4 chuyến khảo sát nguồn lợi cá biển bằng lưới rê có
kết hợp máy dò, đã tiến hành đánh cá mật độ cá (thông qua năng suất đánh bắt-
CPUE) và ước tính trữ lượng của một số đàn cá nổi. Vùng khảo sát là vùng biển
miền Trung, trong hai mùa gió Tây Nam (vào các tháng 3-8 hàng năm) và mùa
gió mùa Đông Bắc (vào các tháng 9-12 hàng năm), như sau:

2.3.1.Năng suất đánh bắt (xem Hình 25 – 27, 28 - 38)
Vào mùa gió mùa Tây Nam(SW) của năm 1996, năng suất đánh bắt(tình
theo số lượng cá thể) của các chủng loại hải sản theo thứ tự giảm dần như sau-cá
Nục Heo, Mực, cá Ngừ Ồ, cá Vền Răng To…nếu tính theo trọng lượng,năng suất
cao nhất là cá Nục Heo,cá Ngừ Vằn, cá Cờ, cá Ngừ Chù…Tuy nhiên,vào năm
1997 cao nhất về số lượng là cá Vền Răng To, cá Nục Heo, cá Ngừ Chù…nhưng
tính theo trọng lượng, năng suất cao nhất là cá Ngừ Vằn, cá Nục Heo, cá Cờ…
(xem Hình 25 - 27).
Rõ ràng, năng suất đánh bắt các nhóm loài hải sản có sự biến đổi theo mùa
rõ rệt.Ví dụ: như cá Ngừ Ồ chiếm vị trí thứ nhất hoặc thứ ba về số lượng vào mùa
khô(tháng 5, 6/96-97), nhưng chuyển sang mùa mưa(tháng 9,10/96), chúng lại
đứng vị trí thứ bảy về số lượng.



Phân bố năng suất đánh bắt cá Ngừ Vằn (Katsuwonus pelamis)
Năng suất cá đánh bắt 5 – 50, phân bố khá đồng đều ở các vùng. Vào mùa
gió SW, cá phân bố tập trung ở 2 vùng chính – miền Trung và Đông Nam Bộ.
Chúng xuất hiện chủ yếu ở vùng nước ngoài khơi quần đảo Trường Sa và vùng
ven bờ ĐBSCL. Vào mùa gió NE, cá phân bố chủ yếu ở miền Trung và khu vực
nước ngoài khơi ở phía Nam miền Trung.
Chiều dài thân cá đánh bắt là 230 – 710 mm, phổ biến là 290, 430, và 550 –
570mm. Trọng lượng thân 0,5 – 8,25 kg, phổ biến là 0,5; 1,75; và 4,25 kg.Vào gió
mùa NE, khu vực miền Trung cá thướng xuất hiện ở 3 nhóm chiều dài, nhỏ hơn
400mm, dao động quanh 400mm và 500mm.Phía Nam miền Trung cá thường xuất
hiện 2 nhóm chiều dài dao động ở 400mm và 500mm, đa số cá có kích thước nhỏ
250 – 290mm (nhỏ hơn 0,5 kg) xuất hiện chỉ ở vùng khơi.Vào gió mùa SW cá có
chiều dài thân lớn 400 – 500mm tập trung vùng nước ven bờ và nhóm cá có kích
thước nhỏ 279 – 290 kg ở vùng khơi.
Thành phần thức ăn chủ yếu là cá, mực. Cá sinh sản quanh năm, tập trung sinh sản
từ tháng 4 – 9 ở khu vực Bắc miền Trung (xem hình 31).

Phân bố năng suất đánh bắt cá Ngừ Bò(Thunnus tonggol):
Năng suất cá đánh bắt rất thấp 1-9. Cá xuất hiện thường xuyên ở vùng nước
ven bờ ĐBSCL và Đà Nẵng. Năng xuất đánh cá vào mùa gió Tây Nam cao hơn
vao mùa gió Đông Bắc.
Chiều dài thân cá đánh bắt là 230-430mm, phổ biến 250mmvà 300mm,
trọng lượng thân 0,3-1,5kg, phổ biến là 0,3kg. Vào gió mùa Đông Bắc năm 1996
chiều dài cá đánh bắt 370mm chiếm ưu thế (0,9kg). Vào gió mùa Tây Nam năm
1997 chiều dài cá đánhbắt nhỏ hơn 250mm(0,3kg) (xem hình 32).
Vào mùa gió Đông Bắc cá có tuyến sinh dục thành thục ở 2 năm tuổi ,mùa
gió Tây Nam tuyến sinh dục thành thục chỉ một năm tuổi.

Phân bố năng suất đánh bắt cá Ngừ Vây Vàng (Thunnus albacares):

Vào mùa gió Đông Bắc cá có tuyến sinh dục thành thục ở 0 năm tuổi, mùa
gió Tây Nam thì tuyến sinh dục thành thục ở 1 năm tuổi hoặc 2 năm tuổi.

Phân bố năng suất đánh bắt cá Nục Heo Cờ và Nục Heo Nhỏ
Cá Nục Heo Cờ (Coryphaena hippurus): Phân bố rộng khắp vùng Trung
Bộ và Đông Nam Bộ, nhưng mật độ cao nhất ở vùng nước ven biển Đồng Hới-Đà
Nẵng và ngoài khơi đồng bằng sông Cửu Long.
-Kích thước đánh bắt của cá Nục Heo Cờ:là 225-1.125mm(phổ biến
425mm) về chiều dài thân và 0.5-12.5kg (phổ biến là 0.75kg)về trọng lượng thân.
Kích thước chiều dài thân ca đánh bắt thường lớn (375-425mm) vào mùa gió Tây
Nam(SW)và nhỏ (dưới 275mm) vào mùa gió Đông Bắc (NE). theo các nghiên cứu
ở Nhật, cá Nục Heo Cờ tham gia sinh sản lần đầu, khi chiều dài thân cá lớn hơn
200-250mm. Như vậy, có thể suy ra phần lớn ca Nục Heo Cờ đánh bắt trong vùng
nghiên cứu là cá trưởng thành và đã tham gia sinh sản lần đầu. Thành phần thức ăn
của chúng chủ yếu là Mực và cá con.
-Phân bố năng suất đánh bắt của cá Nục Heo Nhỏ (Coryphaena equiselis): năng
suất đánh bất của cá Nục Heo Nhỏ thường thấp hơn cá Nục Heo Cờ. Cá Nục Heo
Nhỏ phân bố tập trung với năng suất thấp vào mùa gió Đông Bắc, còn trong mùa
gió Tây Nam cá phân tán khắp vùng nghiên cứu và năng suất khá cao so với mùa
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 20
gió Đông Bắc. Chiều dài than cá Nục Heo Nhỏ được phân tích trong thời kì khảo
sát là225-425mm, phổ biến là 325mm,trong lượng thân cá là 0,25-1,25kg, phổ
biến là 0,25kg.(xem hình 34, 35).

Phân bố năng suất đánh bắt cá cá Vền Răng To (Brama orcini):
Năng suất đánh bắt biến đổi trong khoảng 5-97, năng suất thường phân tán Bảng 3: Biến đổi năng suất khai thác (kg/đơn vị khai thác) của một số chủng
loại hải sản vùng Trung Bộ theo thời gian [2]
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 21

STT

Tên loài 5-6/96 9-10/96 5-6/97 Trung bình
1 Katsuwonus pelamis 418 531 806 585
2 Coryphaena hippurus 388 280 245 304
3 Auxis thazard 92 228 292 204
4 Istipphorus platypterus 202 120 163 162
5 Makara mazara 292 167 0 153
6 Makara indica 67 262 0 110
7 Auxis rochei 54 14 207 92
8 Sthenoteuthis
oualaniensis
119 58 81 86
9 Tetrapterus audax 0 0 232 77
10 Bramma orcini 56 130 27 71
11 Lobotes surinamensis 66 67 52 62
12 Thunnus tonggol 0 35 47 27
13 Thunnus albacares 4 69 7 27

28,1-30,3
0
C và 30,9-33,9‰. Năng suất đánh bắt cá cao mùa lạnh, vùng nước có độ
mặn cao.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 22
Nhìn chung, cá Ngừ Vằn là cá nôi, di cư đại dương, sống thành từng đàn ở
lớp nước bề mặt, phân bố chủ yếu ở vùng nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Thức ăn
là các loài cá,giáp xác, động vật chân đầu,động vật thân mềm, mực…Cá sinh sản
quanh năm, chiều dài cá ở ở lần thành thục sinh dục lần đầu là 400-500mm, cá cái
thành thục ở chiều dài 450-900mm, mỗi lần phóng ra khoảng 80.000-200.000
trứng, trứng nổi, kích thước lớn, cá sống ít nhất từ 8-12 năm.
Cá Ngừ Vằn là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế rất lớn ở vùng
biển Việt Nam, vì cậy không nên đánh bắt cá ở độ tuổi 1-2 năm và ở giai đoạn cá
đang thành thục sinh dục (theo tài liệu [2, 10, 14]).

Cá Ngừ Chù (Auxis thazard) và cá Ngừ Ồ(Auxis rochei):
Cá Ngừ Chù đạt kích cỡ cực đại 580mm, phổ biến 580mm, phổ biến
400mm, chúng phân bố chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cá thường
tập trung thành từng đàn lớn di cư vào vùng nước ven bờ Miền Trung vào tháng 3
và tháng 10 hàng năm. Mùa sinh sản vào thang 4-6 và tháng 8-9.
Cá Ngừ Ồ đạt kích cỡ cực đại là 500mm, phổ biến ở 300-350mm, cả hai
loài thường xuất hiện ở nhiệt độ 27-27,9
0
C
Thức ăn là cá nhỏ và Mực… chúng thường tập trung thành từng từng đàn
lớn cùng với ccs loìa cá Ngừ khác.

Thức ăn là các loài giáp xác, cá, đông vật chân đầu… (theo tài liệu [2, 10, 14]).

Cá Ngừ Chấm (Euthynnus affinis):
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 23
Theo tài liệu công bố cá đạt chiều dài thân cực đại là 1000mm, phổ biến là
600mm. chúng xuất hiện ở vùng nước chảy, nhiệt độ là 18-29
0
C, thường xuất hiện
ở vùng nứơc ven bờ. Thường kết thành đàn lớn với các loài cá Thu từ 100-5000 ca
thể. Thức ăn là các loài cá nhỏ đặc biệt là các loài cá Trích, Mực, Thực vật nổi…
Mùa sinh sản là từ tháng 11-3 năm sau và tháng 4-9 hàng năm. Ơ Việt
Nam, chiều dài thân cá đánh bắt là 200-640mm, phổ biến 360-600mm.
Tương quan giữa chiều dài thân cá và trọng lượng thân cá là:
W=0,00058*L
2,698
(W- là trọng lượng thân, L- chiều dài thân cá)
Vào mùa gió Tây Nam, cá phân bố ở vùng nước có nhiệt độ là 28,0-30,0
0
C
và độ mặn là 32,1-34,0‰. Ngược lại mùa gió Đông Bắc cá phân bố ở nhiệt độ là
28,1-30,0
0
C và độ mặn là 30,4-33,9‰ (theo tài liệu [2, 10, 14]).

Cá Ngừ Vây Vàng (Thunnus albacares):
Chiều dài thân cực đại 2080mm, phổ biến 1500mm. Chúng thường kết


Cá Nục Heo Cờ( Coryphaena hippurus) và cá Nục Heo Nhỏ( Coryphaena
equiselis):
Theo tài liệu FAO thống kê về sản lượng nhóm cá này trên thế giới là
20.000-40.000 tấn/năm. Loài cá này khá phổ biến ở khu vực biển Địa trung Hải và
vùng biển Nhiệt đới. Khi cá được ba tuổi chiều dài thân là1425mm, cá 4 năm tuổi
là 1525mm. cá thành thục sinh dục ở kích thước 350-550mm, cá thường sinh sản
vào tháng 11-7 năm sau và 2-3 lần trong năm, mỗi lần sinh sản khoảng 80.000-
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 24
200.000 trứng. Sau khi đẻ trứng khoảng 4-5 tháng tuổiâú trùng có chiều dài thân là
4-4,6mm. Con đực đạt kích thước 1260mm và con cái là1120mm khi được một
năm tuổi.
Nhìn chung, chung thường xuất hiện ở những vùng nước chẩy, khu vực ven
biển và thưưòng tập trung thành đàn ở tầng mặt. Chiều dài cực đại cá Nục Heo là
2100mm, phổ biến là 1000mm, thức ăn hầu hết là cá loài cá, động vật nổi, mực…
Cá Nục Heo Cờ thường xuất hiện ở lớp nước dưới bề mặt, nhiệt độ 28,1-
30,3
0
C và độ mặn là 30,9-33,9‰ vào mùa gió Đông Bắc , mùa gió Tây Nam cá
thường xuất hiện ở vùng nước có nhiệt độ giới hạn 26,3
0
C-30,4
0
C và độ mặn giao
động mạnh hơn 32,3-34,0‰.
Cá Nục Heo Nhỏ phân bố giộng khắp ở nhiệt độ 27,4-30,4

truờng, mà cần chú ý đến cơ chế sinh lý thích nghi của cá- môi trường.
Chúng ta có thể thấy sự thay đổi của các thông số môi trường nói chung và
( nhiệt độ, độ muối, dòng chảy ….) nói riêng thường đưa đến các biến đổi tương
ứng về sự phân bố, mức độ phân bố của cá và ảnh hưởng sâu sắc đến tập tính sinh
học, sinh lý của cơ thể cá. Trong điều kiện hiện nay thì các biến đổi môi trường
vật lý thường dễ dàng nhận biết hơn các biến đổi sinh học, chính vì lẽ đó người ta
thường dùng các biến đổi chỉ số môi trường để dự đoán các biến đổi sinh học.
Do đó, ý nghĩa thực tiễn quan trọng cuả việc xem xét tương tác cá- môi
trường là hiểu biết được tập tính hay phản ứng của cáđối với các yếu tố môi
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Đồ án tốt nghiệp @&? GVHD: T.S. Nguyễn Văn Lục

SVTH: Cao Thế Anh Lớp 43 Hải Dương Học
Trang 25
trường. Vì vậy, từ sự hiểu biết này chúng ta có thể thăm dò , dự báo các bãi tập
trung cá, cải tiến ngư cụ để nâng cao hiệu quả đánh bắt cá.
Anh hưởng của nhiệt độ đến cá:
Một trong những nhân tố quan trọng nhất của môi trường bên ngoài có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tập tính cá là nhiệt độ nước biển. Chình vì vậy
nhiều nhà khoa học có ý định gắn bó tập tính cá với nhiệt độ nước biển và những
thay đổi của nó. Trong môi trường hải dương , những thay đổi nhiệt độ dĩ nhiên
kèm theo những thay đổi của các nhân tố khác. Mặc dù vậy, trong đa số các
trường hợp nhiệt độ có thể là chỉ tiêu quan trọng nhất của các điều kiện sinh thái
trội hơn và luôn luôn thay đổi, và có thể sử dụng nhiệt độ như là một chỉ tiêu sinh
thái trực tiếp hoặc gián tiếp, cần phải kể đến không những nhiệt độ trong khoảng
biến thiên mà các građien nhiệt độ theo phương thẳng đứng và nằm ngang luôn
luôn thay đổi.
Nhiệt độ của các vùng nước giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cá.
Nhiệt độ quyết định sự phân bố, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất, đến cường độ bắt
mồi và các quá trình hoạt động khác của cá( như: dinh dưỡng, di cư, sinh sản,…).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status