Xác định hiện trạng xâm lấn và đặc điểm phân bố của cây trinh nữ thân gỗ. - Pdf 13

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khoa học nông nghiệp việt nam

Báo cáo tổng kết chuyên đề

Xác định hiện trạng xâm lấn
và đặc điểm phân bố của cây trinh nữ thân gỗ

Thuộc đề tài độc lập cấp nhà nớc
Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây
trinh nữ thân gỗ (mimosa pigra l.) ở việt namMã số: ĐTĐL 2005/02

Chủ nhiệm đề tài: TS . nguyễn hồng sơn

Vờn Quốc gia; chi Cục Bảo vệ thực vật; Sở Nông nghiệp; Sở Khoa học, Công
nghệ & Môi trờng của các tỉnhcũng nh tham khảo ý kiến của các nhà khoa
học và nông dân tại những địa bàn điều tra.
3.2. Điều tra thực địa: Tiến hành điều tra trên các vùng sản xuất, trong các
Vờn Quốc gia hay các vùng đất hoang hoá đại diện cho:
- Điều kiện địa lý: Điều tra ở các vùng sinh thái chủ yếu của Việt Nam
nh Hoà Bình, Yên Bái, Điện Biên, Đồng Tháp, Tiền Giang, Kiên Giang, Cà
Mau, Đồng Nai, Lâm ĐồngMỗi địa phơng điều tra 2 lần.
- Điều kiện sinh thái: điều tra ở các vùng đại diện cho từng kiểu khí hậu,
thành phần đất đai và các loại địa hình khác nhau.

4. Kết quả điều tra
4.1. Hiện trạng và đặc điểm phân bố
4.1.1. Tại Vờn Quốc gia Tràm Chim
Vờn Quốc gia Tràm Chim có diện tích là 7.588 ha nằm trong địa bàn của
huyện Tam Nông (Đồng Tháp). Đây là khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nớc
còn lại duy nhất của vùng Đồng Tháp Mời. Vờn có 5 khu vực ký hiệu từ A1
đến A5 là nơi bảo tồn các quần xã động thực vật, trong đó có 6 quần xã thực vật
và 198 loài chim kể cả những loài đặc biệt quý hiếm nh Sếu đầu đỏ.
* Mức độ xâm lấn của cây TNTG tại Tràm Chim

Theo chi Cục Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Đồng Tháp trớc năm 1980 cây TNTG
chỉ có ở huyện Tân Hồng, Hồng Ngự. Từ năm 1981 đến 1985 cây TNTG xuất hiện rải
rác ở Tam Nông, Thanh Bình. Từ năm 1991 đến 2003 cây TNTG mọc nhiều ở Tam
Nông. Riêng Vờn Quốc gia Tràm Chim (theo báo cáo của Vờn này) cây TNTG đã
xâm nhiễm rất nhanh: những năm 1984-1985 chỉ có một vài bụi trong Vờn Quốc gia,
đến nay cây TNTG đã xâm nhiễm một diện tích khá lớn khoảng 1.800 ha. Từ năm
1999 đến 2005 hàng năm diện tích bị cây TNTG xâm nhiễm cứ tăng lên với tỷ lệ gấp
1,5 -2 lần (bảng 1).


cao (12 cây/ m
2
) chiếm khoảng 15%. Phần lớn diện tích bị nhiễm (trên 55%) có mật
độ 4-5 cây/ m
2
, khoảng 25% diện tích bị nhiễm có mật độ 7-8 cây/m
2
và diện tích bị
nhiễm dới 1 cây/ m
2
dới 5% (bảng 2). Bảng 2
. Mức độ nhiễm cây TNTG ở vờn Tràm Chim năm 2005
Phạm vi biến động mật độ
Tỷ lệ diện tích bị nhiễm ở
mật độ tơng ứng (%)
Dới 1 cây/m
2
5
4 - 5 cây/m
2
55
7 - 8 cây/m
2
25
12 cây/m
2
15

cho thấy ở Vờn Tràm Chim phần lớn số cây TNTG (45%) có độ che phủ
khoảng 40-60%; khoảng 35% số cây TNTG có độ che phủ trên 60% và khoảng
20% số cây TNTG có độ che phủ thấp dới 40%.
* Về đặc điểm và phạm vi phân bố

Cây TNTG phân bố rải rác ở hầu hết cả 5 khu của Vờn Quốc gia Tràm
Chim (A1, A2, A3, A4, A5). Cây thờng mọc dọc theo các bờ kênh, dọc các
bàu, đầm sen và các đờng nớc chảy. Sự phân bố của cây không tập trung mà
thờng mọc rải rác và theo băng. Mỗi băng rộng từ 20-40 m. Giữa hai băng có
những khoảng trống thờng là những lạch nớc. Sự phân bố này có thể do ảnh
hởng của dòng chảy khi nớc lũ rút. Nhng theo thời gian, cây TNTG có thể
mọc lấn sang các khoảng trống tạo thành những vùng bị nhiễm liền khoảnh rộng
hơn. Cho đến nay, chỉ còn khu C (khu Hành chính của Vờn Tràm Chim) là khu
mới bị xâm nhiễm nên cây TNTG mọc dọc theo hai bên dòng nớc theo nh quy
luật trên, các khu còn lại trong Vờn Tràm Chim sự xâm nhiễm của cây TNTG
không tuân theo quy luật đó nữa mà chúng xâm lấn hầu nh toàn khu với tốc độ
lây lan rất nhanh.
Các khu A4, A3, A2 của Vờn Tràm Chim bị xâm nhiễm với tỷ lệ diện tích bị
nhiễm/ diện tích đất tự nhiên cao nhất vì ở cả 3 khu này tỷ lệ diện tích đất trống/ đất tự
nhiên vào mùa khô rất lớn, đặc biệt ở khu A4 vào mùa khô nớc rút hoàn toàn trên toàn
khu, vì vậy cây TNTG mọc trên toàn diện tích của khu với độ che phủ hơn 60%. Các cây
mới phát tán thờng mọc ở những nơi nớc cạn hơn, không bị che bóng, mọc ở các vùng
đất trống và khu vực đồng cỏ. ở những khu vực có cây tràm che kín bóng hoặc khu vực
nớc sâu nh đầm sen thì cây TNTG hầu nh không mọc đợc. Diện tích có điều kiện
nh vậy ở trong Vờn Tràm Chim là rất ít và hầu nh cố định. Điều này chỉ ra sự tiềm ẩn
một nguy cơ khá cao tiếp tục xâm nhiễm của cây TNTG ở Vờn Tràm Chim.
4.1.2. Tại vờn Quốc gia Cát Tiên
Vờn Quốc gia Cát Tiên rộng lớn với tổng diện tích 73.878 ha, đợc chia làm ba
khu Cát Lộc, Tây Cát Tiên và Nam Cát Tiên. Theo báo cáo của V
ờn Quốc gia Cát

Với diện tích rộng lớn hàng nghìn ha thuộc các xã La Ngà, xã Phú Túc, xã
Phú Ngọc thuộc huyện Định Quán, xã Vĩnh Cửu thuộc huyện Vĩnh Cửu, xã Trảng
Bom thuộc huyện Trảng Bom, xã Thống Nhất thuộc huyện Thống Nhất. Tại đây
vào cuối mùa khô đầu mùa ma nông dân thờng trồng lúa và nhiều loại cây
trồng khác nh ngô, sắncây TNTG xâm lấn một diện tích rất lớn ở đây khoảng
trên 1.000 ha. Ban đầu vào mùa lũ chúng xâm lấn các gò đồi trên cao và theo mực
nớc rút chúng xâm lấn dần tới sát mép nớc sông nên tạo thành những băng dài
với chiều rộng khoảng 20 - 30 m và chiều dài hàng trăm mét (từ sát khu dân c
tới mép sông). Đờng kính thân cây và độ che phủ tại những nơi đất cao cũng lớn
hơn những nơi đất thấp. Mật độ cây trên các gò đồi khoảng 4 5 cây/ m
2
với độ
che phủ trên 60%, mật độ cây tại những nơi đất thấp (gần mép nớc) khoảng 10
12 cây/ m
2
, cá biệt có những nơi mới xâm nhiễm mật độ cây lên tới 120 cây/ m
2
.
Hiện nay, cây TNTG xâm lấn hầu nh các vùng đất thuộc khu vực gò đồi
và dần lan sang các khu vực đất thấp hơn, nếu không có biện pháp ngăn chặn
kịp thời thì chỉ trong vài năm tới toàn bộ khu vực thuộc lu vực sông La Ngà sẽ
bị cây TNTG xâm nhiễm toàn bộ. Ngoài ra, cây TNTG còn mọc rải rác 2 bên bờ
mơng, suối và lơng rẫy của nông dân gây khó khăn cho hoạt động sản suất
nông nghiệp cũng nh nuôi trồng thuỷ sản của ngời dân.
4.1.4. Tại lòng hồ Hoà Bình
Đây là một lòng hồ có diện tích rộng lớn thuộc các huyện Cao Phong; Đà
Bắc; Mai Châu; Tân Lạc; Thị xã Hoà Bình. Cũng nh khu vực lòng hồ Thác Bà,
cây TNTG xâm nhiễm ở hai khu vực chủ yếu là các đảo giữa lòng hồ và các
vùng đất canh tác bán ngập nằm trong vành đai chứa nớc trong mùa ma. Cây
TNTG bắt đầu xuất hiện vào những năm 1995 1996, ban đầu chúng xâm lấn

nguồn hạt, đặc biệt trong môi trờng bán ngập nớc khả năng sinh sản và phát
tán của hạt cây TNTG rất nhanh đó nguyên nhân dẫn tới diện tích bị cây TNTG
xâm lấn tăng lên rất nhanh trong những năm vừa qua.
Qua điều tra tại 25 xã xung quanh khu vực lòng hồ thì hầu hết các xã đều bị
cây TNTG xâm lấn trong đó có 19 xã bị cây xâm lấn với mật độ cao. Hiện đã có
1.039ha trong tổng số 1.454 ha đất canh tác thuộc khu vực lòng hồ (chiếm
71.46%). Nếu tính theo tổng diện tích đất canh tác của toàn bộ các xã (kể cả khu
vực cao và khu vực lòng hồ) thì diện tích bị cây TNTG xâm lấn cũng đã xấp xỉ 7%.
Qua điều tra 19 xã bị cây TNTG xâm lấn thì có 6 xã bị xâm lấn với mức
độ cao đáng báo động đó là:
- Yên thành bị xâm lấn 113 ha
- Bảo ái bị xâm lấn 270 ha
- Mông Sơn bị xâm lấn 250 ha
Trong đó có Mông Sơn; Bảo ái; Yên Thành ở tình trạng khó kiểm soát đ-
ợc, còn 8 xã còn lại đó là: Thị Trấn Yên Bình; Tích Cốc; Phúc Ninh; Phú Thịnh;
Đại Minh; Mỹ Gia; Thanh Hà tuy cây TNTG mới chỉ xuất hiện lác đác, nhng
nguy cơ bị xâm lấn mạnh trong những năm tới là rất cao. Do đó chúng ta cần
phải cảnh báo sớm để ngăn chặn khả năng xâm lấn của cây TNTG.
Do kích thớc đờng kính thân cây bé nên mật độ cây TNTG ở Yên Bái khá
cao. Tại những vùng cây trởng thành 2-3 năm tuổi, mật độ TB có thể đạt 11,3 cây/
m2, cao nhất có thể lên tới 26 cây/ m2. Những vùng mới bị xâm nhiễm, mật độ cây
con có thể lên tới 270 cây/ m2.
4.1.6. Tại các tỉnh khác thuộc khu vực đồng bằng sông Mê Kông: Đây là khu
vực có nhiều điều kiện thuận lợi cho cây TNTG phát tán và xâm lấn vì vậy diện
tích xâm nhiễm đang có xu h
ớng gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên hiện nay
khu vực đáng báo động đó là vùng Đồng Tháp Mời thuộc địa phận các tỉnh
Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp với diện tích xâm lấn tơng ứng của mỗi
tỉnh xấp xỉ là 850, 600 và 550ha . Theo chi Cục Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Đồng
Tháp trớc năm 1980 cây TNTG chỉ có ở huyện Tân Hồng, Hồng Ngự. Từ năm

nhiễm mỗi tỉnh chỉ vào khoảng 150 đến 300 ha.

Bảng 4:
Diện tích xâm nhiễm của cây TNTG tại một số tỉnh miền núi
phía Bắc và vùng đồng bằng sông Mê Kông
(Số liệu điều tra năm 2005)
Địa phơng
Diện tích
nhiễm
(ha)
Ghi chú
Đồng Tháp 850
Phân bố chủ yếu ở huyện Tam Nông và
vùng đồng Tháp Mời. DT này không bao
gồm diện tích nhiễm của vờn quốc gia
Tràm Chim
Long An 600 Phân bố chủ yếu vùng đồng Tháp Mời
Tiền Giang 550 Phân bố chủ yếu ở vùng đồng Tháp Mời
An Giang 250
Thờng xuyên đợc tỉnh phát động phòng
trừ nên diện tích nhiễm đã đợc hạn chế
đáng kể
Kiên Giang 400
U Minh
Thợng
250
Phần đa lại diện tích bị tái nhiễm vì vờn đã
tiến hành phòng trừ thờng xuyên
Điện Biên 200 Cây mọc ở các thung lũng và ven sông
Sơn La 300

Trong khi đó, các vùng đất bán ngập thuộc hạ nguồn các dòng sông lớn
đang là các điểm nóng đáng báo động, tại một số địa phơng, cây TNTG đã phát
tán và gia tăng diện tích rất nhanh. Đặc biệt tại Quảng Trị, nhiều vùng đất bán
ngập dọc theo các đờng lộ hay các mơng nớc ở vùng thấp thuộc các huyện
Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng đã bị cây TNTG xâm lấn dày đặc, tạo thành
những vùng tập trung với diện tích xấp xỉ 1000ha.

một số tỉnh khác nh Huế,
Quảng Bình, Hà Tĩnh, Bắc Giang, cây TNTG đã bắt đầu phát tán và mọc thành
những dải tập trung với diện tích khá lớn.
4.2. Đặc điểm xâm nhiễm của cây TNTG ở một số vùng sinh thái chủ yếu
* Tại các vờn quốc gia:

Sự xâm nhiễm ban đầu của cây TNTG thờng diễn ra ở các khu vực đất
trống, không bị che bóng sau đó lan dần ra khu vực đồng cỏ. ở những khu vực
có cây tràm che kín bóng hoặc khu vực nớc sâu nh đầm sen thì cây TNTG hầu
nh không mọc đợc. Tại các khu vực có điều kiện thuận lợi, sự xâm nhiễm ban
đầu dọc theo các lạch nớc, các khu vực cao hơn vì cây TN thờng mọc ngay
sau khi nớc rút. Vì vậy, tại những vùng mới bị xâm nhiễm, cây thờng mọc
thành băng rộng từ 20-40 m phân bố theo dòng nớc. Tuy nhiên trong trờng
hợp bị xâm lấn nặng, cây có thể lan rộng và che phủ toàn bộ diện tích bề mặt.
Tại vờn quốc gia Tràm Chim: Cây TNTG phân bố rải rác ở hầu hết cả 5
khu của Vờn Quốc gia Tràm Chim (A1, A2, A3, A4, A5). Cây thờng mọc dọc
theo các bờ kênh, dọc các bàu, đầm sen và các đờng nớc chảy. Tất cả đê bao
xung quanh khu vực vờn Quốc gia Tràm Chim đều bị cây TNTG xâm lấn kể cả
những con kinh nhỏ nằm sâu trong nội đồng nh kinh Mời Nhẹ, kinh Bà Hồng,
kinh nhỏ song song với kinh Phú Hiệp thuộc khu A
1
. Ven bờ các con kinh chống
cháy trong nội đồng mới đào đến nay chỉ đợc khoảng một năm cũng bị cây

và chiều dài hàng trăm mét (từ sát khu dân c tới mép sông). Nguồn hạt cũng
đợc tích luỹ tại những khu vực cao, sau đó phát tán ra các khu vực thấp hơn cạnh
mép sông. Nhìn chung, đây là khu vực thuận lợi cho cây phát tán và xâm nhiễm
vì thảm thực vật che phủ hầu nh không có. Trong điều kiện mới bị xâm nhiễm
nhẹ, nông dân có thể chặt cây trớc khi mùa lũ về, sau khi lút thì tiến hành gieo
trồng ngay các cây trồng ngắn ngày nh lúa, ngô, rau và đậu các loại. Tuy nhiên
trong nhiều trờng hợp bị xâm nhiễm nạng nông dân không thể tiếp tục canh tác
đợc, cây sinh trởng và phát tán rất nhanh. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc
tích luỹ nguồn hạt và xâm nhiễm tiếp tục của cây TNTG.
* Tại các khu vực lòng hồ Thác Bà và Hoà Bình:
Cây TNTG xâm nhiễm
nặng trên tất cả các đảo giữa lòng hồ và các khu vực đất canh tác bán ngập thuộc
khu vực chứa nớc cho các nhà máy thuỷ điện.
Trên các khu vực đảo giữa hồ: Trong mùa ngập nớc, hạt TN thờng bám
vào các thảm cỏ và mô đất ven theo các bình độ thấp của các hòn đảo. Khi nớc
rút, hạt bắt đầu nảy mầm và sinh trởng, phát triển. Có thể nhận thấy rất rõ là khi
nớc dâng đến đâu, thì nguồn hạt tích tụ và phát tán đến đó. Trong tr
ờng hợp bị
ngập nớc hoàn toàn, TNTG có thể xâm nhiễm và che phủ toàn bộ các hòn đảo
thấp. Tại lòng hồ Hoà Bình, có những bình độ bị ngập trong nớc tới hàng vài
chục mét nhng cây TNTG vẫn tồn tại, ngay sau khi nớc rút cây lại bắt đầu tái
sinh. ở các khu vực nớc sâu, cây kết thành bè trôi nổi trên mặt nớc.
Tại các vùng canh tác bán ngập: đây thờng là các khu vực lòng chảo bằng
phẳng hay các khu vực đất canh tác dọc theo lạch nớc thông với khu vực lòng
hồ, vì vậy có điều kiện thuận lợi cho hạt trinh nữ phát tán và tích luỹ. Sự xâm lấn
ban đầu thờng xảy ra từ các khu vực đất công nh ven đờng đi, dọc theo bờ
mơng nớc, bờ ruộng hay các ruộng đất hoang hoá, các ruộng có điều kiện canh
tác đặc biệt khó khăn. Sau khi có nguồn hạt tích luỹ đủ lớn, cây TN bắt đầu phát
tán trên toàn bộ diện tích với mật độ thấp. Trong trờng hợp không đợc ngăn
chặn kịp thời, cây sẽ nhanh chóng xâm nhiễm và lất át toàn bộ diện tích canh tác.

: Bằng chứng về sự phát tán của cây TNTG theo
nguồn nớc có thể tìm thấy ở tất cả các khu vực bị TNTG xâm nhiễm nặng hiện
nay. ở các vờn quốc gia hay lu vực sông, vùng lòng hồ, cây TNTG đều xâm
nhiễm nặng ở các khu vực ngập nớc, trong khi đó tại các vùng đất cao hơn nhờ
bờ kinh, bờ sông mức độ phát tán và xâm nhiễm rất hạn chế mặc dù cây TNTG
có khả năng sinh sống và phát triển trong cả điều kiện khô hạn và ngập nớc.
Hình thức phát tán này có thể nhận thấy rõ rệt nhất tại các gò đất, các đảo nằm
trong khu vực lòng hồ. Trong mùa nớc, khi nớc dâng đến đâu thì hạt TN bám
vào các thảm thực vật trên bề mặt đảo và khi nớc rút, cây con mọc lên đến đó,
tạo thành vành đai TN bao quanh đảo. Vành đai này cũng chính là dấu hiệu
nhận biết mức nớc dâng trong mùa ngập nớc. Tại những gò đất thấp bị ngập
chìm hoàn toàn trong nớc thì khi nớc rút, cây TN cũng mọc phủ kín từ đỉnh
xuống chân gò.
- Phát tán hạt qua động vật, con ngời, xe cộ v.v : Trong quá trình tiếp
xúc với khu vực bị TNTG xâm nhiễm, hạt TNTG có thể bám vào da động vật, áo
quần của con ngời hay các phơng tiện giao thông nh tàu hoả, tàu thuỷ, xe ô
tô v.v từ đó phát tán nguồn hạt từ khu vực bị nhiễm sang khu vực không bị xâm
nhiễm, từ vùng thấp lên vùng đất cao. Bên cạnh đó một số loài chim hay động
vật nh trâu, ngựa hay dê cũng có thể ăn hạt TN nhng do dạ dầy của chúng
không có khả năng tiêu hoá nên hạt vẫn không bị phá huỷ mà trái lại còn đợc
kích thích nảy mầm. Từ đó chúng có thể phát tán nguồn hạt từ khu vực bị xâm
nhiễm sang các vùng đất canh tác hay vùng khác cha bị xâm nhiễm.
- Phát tán do hoạt động có chủ đích của con ngời:
Không chỉ ở nớc ta
mà ở nhiều nớc khác nh Thái Lan, Malaysia hay Indonesia, đây cũng là một
quan đờng hình thành quá trình phát tán quan trọng của cây TNTG. Do thiếu
những thông tin hay hiểu biết đầy đủ về tác hại của cây TNTG, nông dân có thể
trồng nó làm cây cảnh, cây giữ đất chống xói mòn và đặc biệt một hiện tợng
khá phổ biến ở nớc ta là sử dụng vào mục đích làm hàng rào. Đây chính là
những con đờng tích luỹ nguồn hạt và phát tán quan trọng, làm mở rộng phạm

ờng
không thể xâm nhập vào đất đợc mà chỉ bám vào các thảm cỏ ven sông, do đó
chúng rất khó nảy mầm và phát triển đợc. Mặt khác, thời kỳ khô hạn tại các khu
vực này thờng rất ngắn, cây không đủ thời gian để đạt đợc một lợng sinh khối
cần thiết đã bị ngập trong nớc, vì vậy dù cho có nảy mầm đợc thì cũng không có
điều kiện xâm lấn và phát triển về sinh khối.
- Thứ hai là phải có đợc điều kiện không gian phù hợp cho quá trình xâm
nhiễm: sau khi có sự tích tụ của nguồn hạt trong đất, điều kiện quan trọng nhất
để quá trình xâm nhiễm có thể xảy ra là có đợc khoảng không gian phù hợp. Là
một thực vật ngoại lai, cây TNTG rất dễ thích nghi với các điều kiện bất thuận
nh hạn hán, đất cằn cỗi, dinh dỡng kém v.v tuy nhiên điều kiện tiên quyết để
hạt TN có thể nảy mầm và thực hiện quá trình xâm lấn là không bị che phủ bởi
các loài thực vật khác. Qua quan sát thực tế cho thấy tại những vị trí bị cỏ hoà
thảo che phủ kín trên bề mặt, cây TN hầu nh hoàn toàn mất khả năng nảy mầm
hoặc nảy mầm đợc nhng không sinh trởng và phát triển đợc.
ở nớc ta, các vùng đất thoả mn điều kiện này thờng là
+ Các vờn quốc gia hay khu bảo tồn rừng ngập nớc: đây là khu vực
đợc bảo tồn tự nhiên, không có các hoạt động canh tác hay sự can thiệp của
con ngời, vì vậy cây TN có điều kiện xâm nhiễm từ các khu vực đất trống là
khu vực canh tác trớc đây, sau đó cây phát tán dần sang các khu vực đồng cỏ
hay các khu vực thảm thực vật kém phát triển, ít bị che bóng.

11
+ Các vùng bán ngập có điều kiện canh tác khó khăn: Đây là các vùng đất
mà nông dân vẫn sử dụng để canh tác trong mùa khô nhng phần đa ở nơc ta các
vùng này thờng là các khu vực miền Núi có điều kiện canh tác khó khăn, năng
suất cây trồng thấp trong khi đó chi phí canh tác đặc biệt là phòng trừ cỏ dại rất
cao. Trong thời kỳ đầu khi mới bị cây TNTG xâm nhiễm nông dân có thể áp dụng
các biện pháp thủ công nh chặt, nhổ để duy trì hoạt động canh tác nhng khi mật
độ cây lên cao thì việc áp dụng biện pháp này là hết sức khó khăn. Vì vậy, nông


Địa điểm điều tra Mật độ cây trởng
thành (cây/ m
2
)
Mật độ cây con (cây/
m
2
)
Vờn QG. Tràm Chim 4,3 115,0
Vờn QG. Cát Tiên 4,7 99,7
Lu vực sông La Ngà và
lòng hồ Trị An
6,3 121,5
Hồ Thác Bà 11,3 273,3
Hồ Hoà Bình 5,5 153,2
12
5. Kết luận
Nguy cơ xâm lấn của cây TNTG đang có xu hớng gia tăng không chỉ ở
các vờn quốc gia mà còn lan rộng ra các vùng đất canh tác bán ngập khác
thuộc các lu vực sông lớn, các khu vực lòng hồ và vùng đất ngập nớc vùng
đồng Tháp Mời. Tại vờn quốc gia Tràm Chim và lu vực sông La Ngà, diện
tích vẫn có xu hớng gia tăng và mức độ che phủ của cây TNTG ngày càng cao,
gây khó khăn cho hoạt động phòng trừ cũng nh tăng nguy cơ tích luỹ nguồn
hạt. Tại các địa phơng khác, diện tích xâm nhiễm cũng đang tiếp tục gia tăng,
đặc biệt là vùng đệm của vờn quốc gia Cát Tiên, lòng hồ Thác Bà, lòng hồ Hoà
Bình, khu vực đồng Tháp Mời và diện tích canh tác bán ngập nớc của tỉnh

con ngời. Đặc biệt, sự xâm lấn của chúng ở các vùng đệm. Vùng canh tác bán
ngập đang làm thu hẹp dần diện tích đất canh tác, tăng chi phí sản xuất gây ảnh
hởng nghiêm trọng đến đời sống của nông dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
miền Trung và Đông Nam Bộ.
Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2005
Ngời viết báo cáo Nguyễn Thái Phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status