BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
=======o0o======= LƢỜNG THỊ DUNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM
PHÂN BỐ CỦA ỐC (GASTROPODA) Ở CẠN KHU VỰC
XÃ BON PHẶNG, HUYỆN THUẬN CHÂU,
TỈNH SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện tốt nhất cho em thực hiện khóa luận.
Ban Chủ nhiệm khoa Sinh - Hóa và Trung tâm thư viện đã tạo điều kiện cho em
trong quá trình thu thập thông tin, tra cứu các tài liệu về đề tài này.
Em xin cảm ơn các giảng viên, cán bộ trong Bộ môn Động vật - Sinh thái đã tạo điều
kiện cho em về dụng cụ, hóa chất và địa điểm trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên lớp K51 ĐHSP Sinh - Hóa, các bạn sinh viên
trong nhóm đề tài nghiên cứu về ốc cạn, giun đất năm học 2013 - 2014, khoa Sinh -
Hóa - Trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình và trao đổi cho tôi những
kinh nghiệm trong suốt thời gian qua.
Em xin gửi lời tri ân tới tất cả những người thân trong gia đình, nhân dân và
chính quyền xã Bon Phặng cùng toàn thể bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ em
trong thời gian qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Đỗ Đức Sáng, người trực
tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và truyền thụ những kiến thức, kinh nghiệm cho em
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện Lƣờng Thị Dung DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………… …………………………… 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài…………………………… … ………… … 2
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài …………………… ….…….………… … 2
1.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài…………… ………………… ….…………… 3
Bảng 2. Thành phần loài ốc cạn ở các sinh cảnh, số lượng cá thể và kích thước
trong KVNC………………………………………………………………… 15
Bảng 3. Cấu trúc thành phần loài ốc cạn trong các phân lớp ở KVNC…… …34
Bảng 4. Chỉ số tương đồng về đa dạng loài giữa KVNC với các KV khác
…………………….…………………………………………………… ….…40
Bảng 5. Tỉ lệ số lượng cá thể, loài, giống, họ ốc cạn theo sinh cảnh ở KVNC
………… ………………………………………………………………… …43
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí điểm thu mẫu……………… ……8
Hình 2. Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn……………………………………………….13
Biểu đồ 1. Số lượng loài, giống, họ, bộ ốc cạn trong các phân lớp ở KVNC….35
Biểu đồ 2. Tỉ lệ phần trăm (%) số l ượng cá thể trong các họ ốc cạn ở
KVNC 36
Biểu đồ 3. Số loài, giống, họ ốc cạn ở KVNC, KBTTN Copia, hang Thẳm Bó và
Tây Trang………………………………………………………………… ….39
Biểu đồ 4. Tỉ lệ phần trăm (%) số lượng cá thể các loài ốc ở cạn trong các sinh
cảnh… …………………………………………………………………………44
Biểu đồ 5. Số lượng loài, giống, họ ốc cạn trong các sinh cảnh ở KVNC….….45
1
PHẦN 1.
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Với khoảng 130.000 loài Thân mềm (Mollusca) đã trở thành một trong
những ngành lớn trong giới động vật (Animalia), trong đó lớp Chân bụng
kể đến một số công trình quan trọng của các chuyên gia như: Morlet (1886,
1891, 1892); Fischer (1848); Bavay và Dautzenberg (1899, 1900, 1091,
1902),…[4,17,25]. Ở Sơn La, tính cho đến nay các công trình nghiên cứu về ốc cạn
vẫn chưa có nhiều, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc thống kê
thành phần loài ở các vùng khác nhau mà chưa đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm
phân bố cũng như vai trò và tầm quan trọng của chúng đối với thiên nhiên.
Ở KV xã Bon Phặng tính cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu về
ốc nào được tiến hành. Hơn nữa, địa hình chủ yếu là núi đá vôi với hệ thống
thảm thực vật phong phú đã tạo điều kiện sống thích hợp cho nhiều loài động
vật, trong đó có ốc cạn. Tuy nhiên, trình độ dân trí thấp, nền kinh tế chưa phát
triển, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác các sản phẩm tự
nhiên do đó tài nguyên động thực vật nhanh chóng bị cạn kiệt, đe dọa nghiêm
trọng đến sự đa dạng loài của nơi đây trong đó có khu hệ ốc cạn vì vậy việc
nghiên cứu là hoàn toàn cấp bách.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi quyết định chọn và nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của ốc (Gastropoda) ở cạn
khu vực xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài chúng tôi được triển khai nghiên cứu để đạt 2 mục tiêu lớn sau:
- Xác định thành phần loài ốc cạn ở KV xã Bon Phặng, Thuận Châu, Sơn La.
- Phân bố của ốc cạn theo sinh cảnh ở KVNC.
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với những mục tiêu trên, tôi đề ra những nhiệm vụ sau:
- Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Tiến hành thu nguồn mẫu vật ở ngoài thực địa, xử lí mẫu vật.
- Điều tra, phỏng vấn nhân dân địa phương.
- Phân tích và định loại nguồn mẫu vật thu được.
- Tìm hiểu đặc điểm từng sinh cảnh nghiên cứu.
3
- Lập danh sách các loài ốc cạn theo sinh cảnh ở KVNC.
hiện phải kể đến một số công trình nổi tiếng như: Fisher (1843, 1863); Morlet
(1886, 1891, 1892); Dautzenberg và Hamonville (1887); Ancey (1888); Bavay
và Dautzenberg (1899, 1908, 1909); Mollendroff (1901) nghiên cứu một số địa
danh ở vùng núi phía bắc như Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai,
Bắc Cạn, các kết quả đã công bố gồm 103 loài [6,8].
b. Giai đoạn sau năm 2000: Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về
ốc cạn đã được mở rộng thêm, các tác giả trong nước cũng đã có một số công
trình nghiên cứu nổi bật: Năm 2003, Vermeulen và Maassen đã khảo sát
thành phần loài và phân bố của ốc cạn ở một số KV phía Bắc như Pu Luông
(Thanh Hóa), Cúc Phương (Ninh Bình), Phủ Lý (Hà Nam), Hạ Long, Cẩm
Phả (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) đã công bố 259 loài, trong đó có 246
loài bổ sung cho số loài đã được công bố, phân lớp Mang trước có 73 loài,
phân lớp Có phổi có 186 loài, trong đó có 146 loài chỉ định loại đến sp điều
này chứng tỏ rằng thành phần loài ốc cạn rất đa dạng, phong phú và mở ra
nhiều triển vọng cho nghiên cứu ốc cạn [20].
Trong giai đoạn này cũng phải kể đến một số công trình nghiên cứu nổi
tiếng của các tác giả Việt Nam. Năm 2005, các tác giả Nguyễn Xuân Đồng,
Nguyễn Qúy Tuấn, Hoàng Đức Đạt đề cập đến hai loài ốc núi: Cyclophorus
anmiticus và Cyclophorus matensianus đang được dùng làm thực phẩm ở núi Bà
Đen, tỉnh Tây Ninh [5]. Năm 2006, Nguyễn Thị Cậy xác định ở KV Tam Đảo
- Vĩnh Phúc có 29 loài ốc cạn thuộc14 giống và 10 họ [3]. Năm 2010 - 2011,
Đỗ Văn Nhượng và cộng sự đã bước đầu cung cấp dẫn liệu ốc cạn tại Tam Đảo -
Vĩnh Phúc đã xác định được 52 loài thuộc 31 giống và 13 họ [14]; xóm Dù
thuộc Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ (44 loài) [11]; NĐV Sài Sơn, Quốc
Oai, Hà Nội (23 loài) [10]; núi Voi - An Lão - Hải Phòng (36 loài) [12]; thôn
Rẫy, Hữu Lũng, Lạng Sơn (46 loài), trong đó có bổ sung 58 loài mới cho khu hệ
ốc cạn Việt Nam. Trong thời gian này, các khóa luận, luận văn về ốc cạn cũng
bước đầu được tiến hành. Năm 2010, Đinh Phương Dung xác định được 50 loài
thuộc KV Tây Trang - Điện Biên, trong đó có 35 loài mới chỉ gặp ở Tây Trang
5
6
Năm 2012, Đỗ Văn Nhượng, Trần Thập Nhất đã xác định được ở thành phố
Sơn La có 74 loài và phân loài thuộc 49 giống, 19 họ và 2 phân lớp phân bố ở 3
sinh cảnh chính là: RTNĐV, rừng trên núi đá granit và rừng trên đồi. Trong đó
sinh cảnh RTNĐV có độ đa dạng và độ phong phú cao nhất, chiếm 92,3% số
loài và 71% số cá thể; ít nhất là sinh cảnh rừng trên đồi với số loài chỉ có 14,8%
và 4,9% số cá thể [15].
Năm 2013, Đỗ Đức Sáng, Đỗ Văn Nhượng tìm hiểu về khu hệ ốc cạn ở
KBTTN Copia đã xác định được 62 loài ốc cạn thuộc 41 giống, 16 họ, 3 bộ và 2
phân lớp. Phân lớp Mang trước (Prosobranchia) có 2 bộ, 4 họ và 16 loài (chiếm
25,81% tổng số loài), trong khi đó phân lớp Có phổi (Pulmonata) có 1 bộ, 12 họ và
46 loài (74,19%) [13]. Cùng năm sinh viên Bùi Thị Mơ xác định thành phần loài ốc
cạn ở KV hang Thẳm Bó cũng đã xác định được 54 loài ốc cạn thuộc 38 giống, 18
họ, 2 bộ và 2 phân lớp. Trong đó, phân lớp Có phổi chiếm ưu thế hơn với 42 loài
(73,36%), phân lớp Mang trước có 13 loài (23,61%) [8]. Cũng trong thời gian này,
nhóm sinh viên Bùi Thị Hòa, Vàng Thị Thêu, Lương Thị Huệ cũng đã xác định
được 54 loài ốc cạn thuộc 29 giống, 16 họ tại KV thành phố Sơn La [6].
Như vậy, cho đến nay việc nghiên cứu về ốc cạn trên địa bàn tỉnh Sơn La còn
rất nhiều hạn chế, nội dung của nghiên cứu chủ yếu là tập trung vào xác định và
thống kê thành phần loài. Vì vậy việc nghiên cứu là hoàn cần thiết nhằm tìm
hiểu thành phần loài, đặc điểm sinh học, phân bố và vai trò của chúng từ đó xác
định cho các nghiên cứu ví dụ khác.
1.7. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài ốc cạn thuộc KV xã Bon Phặng thuộc huyện
Thuận Châu, Sơn La.
Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là KV xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Thời gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 9/2013 - 5/2014, thời gian nghiên cứu được
đó, Bon Phặng là một xã vùng II của huyện Thuận Châu, nằm dọc quốc lộ 6,
nằm ở tọa độ 21
0
22’- 21
0
36’ độ vĩ Bắc và 103
0
46’ - 103
0
77’ độ kinh Đông, phía
Bắc giáp xã Chiềng Pấc, phía Đông giáp xã Chiềng Đen, phía Nam giáp xã
Muổi Nọi, phía Tây giáp xã Nậm Lầu. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.623,8
ha. [19,22,34]
8 Hình 1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí các điểm thu mẫu
(Vẽ theo Tập bản đồ hành chính các tỉnh, thành phố Việt Nam, 2005)
Xã Chiềng Pấc
Xã Chiềng Đen
Quốc lộ 6
Xã Nậm Lầu Núi đá vôi
Rừng trên núi đá vôi
Đất trồng trên nền rừng
Hang động
103°45’
103°80’
21®4
0’
21®4
0’
21®4
0’
21®20
’
21®40’ 21®40’
21°40’
21°20’
0
2
sản xuất nông nghiệp là 1.369,01 ha (chiếm 37,7%), đất lâm nghiệp có rừng là
1.269,22 ha (chiếm 35%). Phần còn lại là đất nuôi trồng thủy sản và đất phí
nông nghiệp. Về cơ bản địa bàn xã vẫn còn lưu giữ được một lượng rừng lớn, độ
che phủ cao đạt 41,1%. Tuy nhiên vẫn thường xuyên chịu ảnh hưởng và tác
động từ con người [23].
Khu hệ động vật hầu như không còn thú lớn, chủ yếu gặp các nhóm: gặm
nhấm, dơi, thú ăn sâu bọ, gà rừng, các loài chim chủ yếu là chim làm tổ, lưỡng
cư, bò sát và một số loài động vật không xương sống khác… trong đó ốc cạn là
một trong những nhóm phân bố phổ biến.
10
Như vậy xã Bon Phặng là một khu vực có độ đa dạng sinh học cao phân bố
trên tất cả các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Tuy nhiên do tác động mạnh
mẽ của con người nên độ đa dạng đã giảm sút rất nhiều. Chính vì vậy cầm sớm
có giải pháp ngăn chặn hiệu quả để bảo tồn nguồn gen quý hiếm này.
1.8.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân số
Xã có 5.280 người (năm 2013), mật độ dân số là 116 người/km2. Gồm có 2
dân tộc Thái và Kinh cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm đa số (89%),
dân tộc Kinh chiếm 11% [22]. Do chủ yếu là dân tộc thiểu số, trình độ dân trí
thấp nên vẫn còn tập quán canh tác lạc hậu như du canh, du cư, chặt phá rừng
làm nương rẫy, dân cư sinh sống chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên động,
thực vật do đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng loài nơi đây, trong
đó phải kể đến ốc cạn.
Giáo dục, y tế
Trong những năm gần đây mạng lưới trường lớp đã được mở rộng, công tác
giáo dục cơ bản đã được nâng cao, chất lượng dạy và học đã được cải thiện. Xã
có tổng số 6 trường, trong đó có 126 cán bộ, giáo viên với 1484 học sinh. Cùng
với nền giáo dục mạng lưới y tế của xã cũng đã được củng cố phát triển để đáp
ứng được một phần nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trong xã [22].
Nhờ đó về cơ bản người dân đã được nâng cao ý thức, trách nhiệm đối với
mẫu có kích thước lớn nhặt bằng tay, mẫu có kích thước nhỏ có thể dùng sàng,
đối với mẫu ốc bé lẫn trong đất mùn hoặc thảm mục có thể sử dụng phương
pháp cho đất hoặc thảm mục vào chậu nước để mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu. Với
những mẫu phổ biến cần thu với số lượng thích hợp. Các mẫu được bảo quản
trong núi nilon riêng, có ghi kí hiệu theo sinh cảnh, vị trí nơi thu mẫu (h.2.1).
Phương pháp điều tra cộng đồng địa phương
Phỏng vấn và điều tra trực tiếp người dân tại những nơi thu mẫu và những
người am hiểu và quan tâm tới loài ốc ở cạn một số thông tin như: Nơi ở, thức
ăn, giá trị kinh tế, tình hình khai thác ốc cạn ở địa phương (h.2.3).
Phương pháp quan sát, ghi chép, chụp ảnh
Quan sát bằng mắt thường nơi phân bố của ốc cạn, chúng có thể bám trên các
bộ phận của cây hay trên mặt đất, dưới thảm lá mục, trong hang đá, khe đá, chân
núi đá vôi… Quan sát tập tính kiếm ăn, di chuyển, hình thái ngoài, sự tác động
của nhân dân đối với nơi phân bố của ốc cạn.
21®4
0’
21®4
0’
21®40’
12
Ghi chép lại đầy đủ những thông tin về mẫu vật và môi trường sống vào sổ
ghi chép thực địa.
Ảnh thực địa phải phản ánh được nội dung nghiên cứu như các loại sinh cảnh
điển hình, các loại thảm thực vật, các loại địa hình, các tích chất đặc biệt của
khu vực nghiên cứu, các mẫu đang hoạt động sống, các loài cây làm thức ăn của
ốc cạn, các vị trí tập trung nhiều mẫu sống và chết (h.2.4).
Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu thu được
Đối với mẫu là vỏ ốc tiến hành bảo quản khô trong các túi nilon hoặc lọ đựng
mẫu. Mẫu sống ốc ở cạn được ngâm vào nước lạnh từ 10 - 12 giờ, sau đó được
bảo quản trong dung dịch cồn 70º.
Vũ Tự Lập (2012) khi nghiên cứu địa lí tự nhiên Việt Nam trong đó có khu
vực Tây Bắc đã căn cứ vào các đặc điểm về địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ
nhưỡng, sinh vật kể cả tác động của con người tới các điều kiện tự nhiên, từ đó
khái quát rằng: Sinh cảnh là một tập hợp các đối tượng mà trong đó các đặc tính
của địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, kể cả tác
động của con người hợp thành một thể thống nhất hoàn chỉnh [7].
14
Năm 2013, Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng khi nghiên cứu về ốc cạn ở
khu bảo tồn thiên nhiên Copia đã chia thành 4 dạng sinh cảnh chính là: Rừng
trên núi đá vôi, rừng trên đồi đất, rừng thông và đất canh tác [13].
Do đó, căn cứ vào thực tế khu vực nghiên cứu và theo các tác giả trên,
chúng tôi phân chia KVNC thành các dạng sinh cảnh chính: Rừng, NĐV,
ĐTTNR, hang động.
1.10. Một số đặc điểm hình thái sử dụng trong mô tả và định loại
Đỉnh vỏ: Là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, nơi hình thành các vòng xoắn
đầu tiên của vỏ ốc, vòng xoắn này thường rất nhỏ. Đỉnh vỏ có thể nhọn, tù…
Các vòng xoắn: Bao gồm các vòng xoắn tính từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn cuối
cùng chứa lỗ miệng. Các vòng xoắn có thể thuận chiều hay ngược chiều kim
đồng hồ, có thể tròn đều hay phồng lên, phình ra ở phần dưới hoặc có thể dẹp.
Màu sắc, hoa văn: Trên bề mặt các vòng xoắn có thể nhẵn, có khía, có gờ
dọc, gờ vòng hay gờ vòng cách cung, đường viền có gai hay nốt sần, có lông, có
màu sắc hay các hình vẽ khác nhau.
Rãnh xoắn: Có thể nông hoặc sâu, rõ nét hay không rõ nét…
Miệng vỏ: Là nơi vỏ ốc thông ra bên ngoài. Ở vùng miệng có thể phân biệt bờ
trục (bờ trong hay bờ dưới) và vành miệng ngoài (bờ ngoài hay bờ trên) có thể
phân biệt góc trên và góc dưới lỗ miệng vỏ, hình dạng lỗ miệng vỏ thay đổi có
thể xiên, bầu dục, hình thoi, hình ôvan, hình thang, hình bán nguyệt, hình quả
lê… Gờ vành miệng ngoài có thể liên tục hay không liên tục, ngắt quãng ở bờ
trụ. Lỗ miệng có nắp miệng hay không có nắp miệng.
Vỏ ốc: Là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn tròn vòng quanh một trục
thƣớc
*
(mm)
Rừng
NĐV
ĐTTNR
Hang động
PROSOBRANCHYA
BỘ: ARCHITAENIOGLOSSA
Cyclophoridae
20,25
17,47
21,48
62,01
0,39
19
4 - 5
5.
Pterocyclos marioni Ancey, 1898
2,49
4,23
3,23
1,79
79
18 - 19
6.
Scabrina laciniana Heude, 1885
0,65
9
4 - 6
7.
Cyclotus sp.
2,34
9,58
2,72
1,08
90
6 - 8
Pupinidae
11.
Pseudopomatias sp.
0,44
0,26
8
16 - 19
PULMONATA
BỘ: STYLOMMATOPHORA
Achatinidae
0,95
1,41
7,50
0,36
2,82
1,42
0,36
56
12 - 14
15.
Megaustenia imperator Gould, 1858
6,51
3,66
0,90
17,20
157
25 - 26
16.
Microcystina tongkinggensis Moll., 1901
30,48
29,01
6,86
0,36
574
5 - 6
17.
Microcystina messageri Ancey, 1903
0,15
3,09
1,42
24
1 - 3
18.
16 - 18
21.
Aegista packhaensis Bav. et Daut., 1908
0,28 1
9 - 10
Camaenidae
8,04
2,53
1,29
8,97
154
22.
Amphidromus dautzenbergi Fulton, 1908
0,59
8
36 - 37
23.
Camaena duporti Bav. et Daut., 1908
0,07
0,13
1
18 - 20
27.
Phaedusa lypra Mabille, 1887
0,74 0,36
11
10 – 12
28.
Phaedusa paviei Morlet, 1892
0,51 0,36
8
29 - 31
29.
Phaedusa phongthoensis L& van Bermel,1948
0,07
1
10 - 12
32.
Glessula paviei Morlet, 1892
1,17
0,28
0,52
21
8 – 11
Hypselostomatidae
5,07
0,39
21
33.
Hypselostoma crossei Fisch., 1891
4,79
0,39
20
2 – 3,5
34.
Boysidia sp.
0,28
2,07
1,08
43
8 - 9
17
Ghi chú: n - tổng số cá thể (*) - Chiều cao vỏ ốc
Đối với mỗi loài ốc cạn được ghi nhận đề tài giới thiệu theo thứ tự: Tên
khoa học, đặc điểm chẩn loại, phân bố, số lượng cá thể nghiên cứu, nhận xét.
HỌ CYCLOPHORIDAE
1. Cyclophorus siamensis Sowerby, 1892
- Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ lớn, dạng nón, h = 33 - 35; l = 47 - 49mm. Vỏ dày,
màu nâu sẫm. Có 5 vòng xoắn phải, trên bề mặc các vòng xoắn có hoa văn trang
trí. Tháp ốc nhọn (V = 11 - 16mm). Vòng xoắn cuối chiếm gần 2/3 chiều cao vỏ
ốc. Miệng vỏ tròn, bóng (lo = 26 - 18mm). Môi cuộn dày. Có thể chai nối liền.
Lỗ rốn rộng, sâu (h.3.1).
- Phân bố: Loài này bắt gặp tại sinh cảnh rừng ở bản Nam Tiến và bản Phặng,
NĐV bản Noong Ỏ, HĐ ở bản Bắc Cường.
- Số cá thể nghiên cứu: 429
- Nhận xét: Đây là loài được người dân sử dụng làm thực phẩm vì có giá trị dinh
dưỡng cao, có vỏ đẹp nên còn được dùng làm đồ trang trí. 37.
Huttonella bicolor Hutton, 1834
2,25
1,55
37
5 - 9
41.
Lamellaxis gracilis Hutton, 1834 0,39
3
10 - 11
42.
Prosopeas ventrosulum Bav. et Daut., 1908
0,36
0,13
0,72
8
6,0 – 7,5
43.
Prosopeas pfeifferi Menke, 1857
2,56
35
18 - 19
44.
Subulina octona Bruguiere, 1792
47.
Videna sp.
0,51
0,13
0,36
9
4 - 5
Tổng cộng
100
100
100
100
2775
18
2. Cyclophorus diplochius Moellendorff, 1894
- Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ lớn, hình nón, h = 33 - 34; l = 38 - 39mm. Vỏ dày,
màu trắng. Có 5 vòng xoắn, trên bề mặt các vòng xoắn có khía chéo hình cung
mờ. Tháp ốc nhọn (V = 10 - 11mm). Vòng xoắn cuối chiếm 2/3 chiều cao vỏ ốc.
Miệng vỏ tròn, bóng (lo = 22 - 24mm), môi cuộn lại. Lỗ rốn rộng, sâu (h.3.2).
- Phân bố: Loài này bắt gặp ở sinh cảnh ĐTTNR bản Phặng và bản Noong Sản.
- Số cá thể nghiên cứu: 50
- Nhận xét: Người dân gọi loài này là ốc núi đá, chúng được dùng làm thực
phẩm ngoài ra còn dùng vỏ để trang trí. Nguồn thức ăn ưa thích là thảm mục.
3. Dioryx pocsi Vargar, 1972
- Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ trung bình, dạng con quay, h = 7 - 9; l = 6 - 8,5mm.
Vỏ dày, màu trắng sữa hoặc vàng. Có 4 - 4,5 vòng xoắn, rãnh xoắn sâu, trơn
nhẵn. Tháp ốc nhọn (V = 4 - 4,5mm). Vòng xoắn cuối chiếm gần 2/3 chiều cao
Vỏ mỏng, màu trắng sữa hoặc nâu sẫm. Có 4 vòng xoắn phẳng, trên bề mặt các
vòng xoắn có đường ziczac trang trí. Tháp ốc nhọn (1 - 2mm). Vòng xoắn cuối
chiếm 3 /4 chiều cao vỏ. Miệng vỏ tròn, vành miệng liên tục (lo = 3 - 4,5mm). Lỗ
rốn rộng, sâu (h.3.5).
- Phân bố: Loài này bắt gặp tại các bản Bắc Cường, Noong Sản tập trung chủ
yếu ở sinh cảnh rừng.
- Số cá thể nghiên cứu: 9
- Nhận xét: Loài này được gọi là ốc núi xoắn được người dân sử dụng làm
thuốc, vỏ có thể dùng để trang trí.
7. Cyclotus sp.
- Đặc điểm chẩn loại: Giống đặc điểm của Pterocyclos marioni chỉ khác là
Cyclotus sp có kích thước nhỏ, có vành miệng liên tục, không cuộn, không có
ngà, h = 6 - 8; l = 14 - 15mm, l0 = 4 - 7
- Phân bố: Loài này phân bố rộng, bắt gặp ở tất cả các sinh cảnh của KVNC.
- Số cá thể nghiên cứu: 90
- Nhận xét: Đây là loài có kích thước khá bé, vỏ đẹp có thể dùng để trang trí,
thức ăn ưa thích là thực vật mục nát.