1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong các loại sâu hại trên cây bưởi Diễn thì bọ phấn là loài khá phổ biến, xuất
hiện thường xuyên và khó phòng trừ. Cho tới nay, ở Việt Nam các tài liệu và nghiên
cứu về tác hại và cách phòng chống bọ phấn trên cây bưởi nói chung và bưởi Diễn
nói riêng còn rất hạn chế. Nhiều năm qua, các vùng trồng bưởi Diễn ở Hà Nội và vùng
phụ cận, các biện pháp phòng chống sâu hại nói chung và bọ
phấn nói riêng vẫn sử dụng
biện pháp hoá học là chủ yếu. Điều này không chỉ gây tốn kém về kinh tế mà còn gây
ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, môi trường, làm mất cân bằng sinh thái và giảm
giá trị thương phẩm.
Nhằm tăng năng suất, giá trị thương phẩm của cây bưởi Diễn và góp phần hạn
chế tác hại của bọ phấn đen viền trắng
Aleurocanthus spiniferus Quaitance và bọ
phấn đen Aleurocanthus woglumi Ashby, đồng thời khắc phục nhược điểm trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae, đặc điểm hình thái, sinh
học, sinh thái và biện pháp phòng chống 2 loài bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance, Aleurocanthus woglumi Ashby hại trên cây bưởi Diễn tại Hà Nội”.
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích
Trên cơ sở điều tra xác đị
nh thành phần bọ phấn hại và thiên địch của chúng trên
cây bưởi Diễn, nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của loài chủ
yếu, xây dựng và thực hiện biện pháp phòng chống bọ phấn hại cây bưởi diễn ở vùng
nghiên cứu đạt hiệu quả kinh tế và môi trường.
Yêu cầu
Thu thập, xác định được thành phần bọ phấn hại cây bưởi Diễn tại Hà Nội.
Nghiên cứu
- Xác định thành phần bọ phấn hại trên cây bưởi Diễn ở Hà Nội;
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái họ
c của hai loài
Aleurocanthus spiniferus Quaintance và Aleurocanthus woglumi Ashby;
- Đặc điểm hình thái, sinh học của loài ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri
ký sinh bọ phấn.
- Khảo nghiệm một số biện pháp phòng chống hai loài bọ phấn hại bưởi Diễn tại
vùng nghiên cứu.
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung đặc điểm sinh học, sinh thái học của 2 loài bọ phấn chính
Aleurocanthus spiniferus Quaintance; Aleurocanthus woglumi Ashby hại trên cây
bưởi Diễn và vai trò của loài ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri tại Hà Nộ
i.
- Xây dựng biện pháp phòng chống hai loài bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance; Aleurocanthus woglumi Ashby hại trên cây bưởi Diễn tại vùng nghiên cứu
theo hướng quản lý tổng hợp.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Trong các loài côn trùng gây hại trên cây có múi thì nhóm bọ phấn
(Aleyrodidae: Homoptera) là những loài gây hại đặc biệt quan trọng. Chúng vừa
chích hút dinh dưỡng của cây, làm cho cây khô héo, vừa là môi giới truyền các bệnh
virus. Bên cạnh đó, dịch bài tiết củ
a chúng còn làm môi trường thuận lợi cho bệnh
muội đen phát triển gây hại nghiêm trọng (Viện Bảo vệ thực vật, 1997-1998).
Tuy nhiên cho tới nay, ở nước ta hiện chưa có một nghiên cứu nào được tiến
hành để đánh giá mức độ gây hại của bọ phấn trên cây bưởi Diễn và đề xuất các
biện pháp để phòng chống chúng. Do đó, việc tìm ra biện pháp quản lý loài bọ
i kì nhộng giả của bọ phấn đen
viền trắng nhìn chung rộng gấp hai lần so với bọ phấn đen (Jamba et al., 2007).
* Pha trưởng thành: Cơ thể trưởng thành bọ phấn đen viền trắng có gai màu
xanh xám (Jamba et al., 2007).
Biện pháp phòng trừ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus và Aleurocanthus
woglumi.
* Biện pháp sinh học
Hiện nay bọ phấn đã xuất hiện và gây hại mạnh ở rất nhiều quốc gia và biệ
n
pháp sinh học đã thành công trong việc hạn chế tác hại của chúng. Nhật Bản đã sử
dụng loài thiên địch Prospaltella smithi Silv và Crytognatha sp. từ Trung Quốc vào
năm 1925 và đã đạt được kết quả rất khả quan đó là tiêu diệt hơn 74% của số lượng
bọ phấn gây hại (Kuwana. I, Ishii T., 1927). Ở Guam, người ta cũng đã sử dụng loài
thiên địch Prospaltella smithi Silvestri và Amitus hesperidium Silvestri giảm được
80-95% tác hại của b
ọ phấn (Jamba et al., 2007).
Ngoài ra việc sử dụng biện pháp quản lý sinh học như vậy đã mang lại hiệu quả
trong việc phòng trừ bọ phấn hại cây có múi ở Florida bao gồm cả hai loài Encarsia
opulenta Silvestri và Amitus hesperidum Silvestri (Jamba et al., 2007).
Ngoài ra trên thế giới còn có các công trình nghiên cứu khác về thiên địch của
bọ phấn đã xác định được một số loài ong ký sinh, nhện bắt mồi và sâu non chuồn
chuồn cỏ, ăn thịt đố
i với bọ phấn hại cây có múi.
* Biện pháp vật lý
Tại Ấn Độ đã sử dụng bẫy dính màu vàng đặt trên những ruộng trồng những
giống bông khác nhau trong thời gian 17 tuần (mùa đông) và 16 tuần (mùa hè). Kết
quả bẫy dính màu vàng đã làm giảm mật độ bọ phấn trên các ruộng trồng bông.
* Biện pháp canh tác
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (United States Department of Agriculture, 1994) khuyến
cáo, để hạn chế sự gây hại của bọ ph
ại trực tiếp BPGĐ là tác nhân
gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho nấm muội đen phát triển làm giảm khả năng
quang hợp của cây, làm giảm năng suất và chất lượng quả (Nguyễn Văn Liêm, 2008).
Lê Thị Tuyết Nhung (2008) đã thu thập được 6 loài bọ phấn thuộc họ phụ
Aleyrodinae trên các cây ăn quả có múi, rau họ hoa thập tự, lúa nước. Đã giám định
được tên khoa học cho 4 loài là: Aleurocanthus spiniferus
, Dialeurolonga
rusostigmoides gây hại trên cam; Aleurocybotus indicus gây hại trên lúa nước;
Aleyrodes proletella trên cây rau súp lơ. Trong đó, 2 loài Aleyrodes proletella,
Dialeurolonga rusostigmoides lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam.
Các nghiên cứu cho thấy BPGĐ là đối tượng rất phổ biến trên cam và bưởi và sự gây
hại của chúng rất đáng kể. Do vậy, cần phải có biện pháp phòng trừ thích hợp trong những
trường hợp cần thiết.
Thành phần thiên địch của bọ phấn hạ
i trên cây có múi
Diễn biến mật độ một số loài bắt mồi ăn thịt của BPGĐ trên cam Canh và bưởi
Diễn ở vùng Từ Liêm - Hà Nội
Kết quả điều tra diễn biến mật độ của bọ rùa nhỏ Scymnus sp. và bọ mắt vàng
Chrysopa sp. ăn thịt BPGĐ trên cam Canh và bưởi Diễn ở vùng Từ Liêm - Hà Nội cho
thấy: Mặc dù bọ mắt vàng và bọ rùa nhỏ là các loài bắt mồi hay g
ặp trên trên quần thể
BPGĐ trên cam và bưởi nhưng mật độ của chúng thường rất thấp. Bọ mắt vàng chỉ đạt
0,02 đến 0,23 con/chồi, bọ rùa nhỏ chỉ đạt từ 0,02 đến 0,45 con/chồi và trong nhiều kỳ
điều tra không ghi nhận sự hiện diện của chúng (Nguyễn Văn Liêm, 2008).
Như vậy, thành phần thiên địch của bọ phấn gai đen (BPGĐ) ở vùng Từ Liêm -
Hà Nội tươ
ng đối nghèo nàn. Trong đó, loài ong ký sinh và loài bọ rùa nhỏ là những
thiên địch phổ biến hay bắt gặp nhất trên quần thể BPGĐ (Trần Đình Phả, 2005).
Nghiên cứu biện pháp hoá học phòng trừ bọ phấn
Năm 2003, Viện Bảo vệ thực vật đã hợp tác với Trường Đại học Tây Sydney
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành từ năm 2007 đến năm 2011, trên các
ruộng trồng và chăm sóc cây bưởi Diễn và bưởi Đoan Hùng,
2.3. VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU
Bao gồm đầy đủ các dụng cụ, thiết bị để phục vụ công việc
điều tra, nghiên cứu
trong phòng và ngoài đồng ruộng như: cồn, bông thấm nước, giá nuôi sâu, kính lúp
cầm tay, kính lúp để bàn, tủ sinh thái,
2.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Xác định thành phần bọ phấn hại trên cây bưởi Diễn tại Hà Nội.
+ Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của hai loài bọ phấn
Aleurocanthus spiniferus Quaintance và Aleurocanthus woglumi Ashby hại trên cây
bưởi Diễn tại Hà Nội.
+ Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài ong Encarsia opulenta
Silvestri ký sinh trên hai loài bọ ph
ấn trên tại Hà Nội.
+ Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc hóa học đang bán trên thị trường
về khả năng phòng chống hai loài bọ phấn trên. Từ đó đề xuất biện pháp sử dụng
thuốc hóa học phòng chống bọ phấn hại bưởi Diễn tại Hà Nội một cách hợp lý.
+ Xây dựng mô hình hiệu quả phòng chống bọ phấn trên cây bưởi Diễ
n tại Hà Nội.
2.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.5.1. Phương pháp điều tra thành phần và mức độ phổ biến của bọ phấn hại
cây bưởi Diễn và thiên địch của chúng tại vùng nghiên cứu
- Phương pháp thu mẫu
* Điều tra thành phần bọ phấn và thiên địch của chúng trên cây bưởi Diễn được
tiến hành theo phương pháp điều tra dự tính sâu bệnh hại cây trồng của viện BVTV
(1998). Kết hợp phươ
ng pháp điều tra của Mound et al. (1978).
* Xác định từng pha phát dục của mỗi loài bọ phấn theo phương pháp điều tra
dự tính sâu bệnh hại cây trồng của Cục Bảo vệ thực vật (1998). Thu mẫu từng pha để
Xi
n
∑
Trong đó:
X : Kích thước trung bình của từng pha phát dục
Xi: Giá trị kích thước cá thể thứ i
n: Số cá thể theo dõi
Xác định đặc điểm sinh học của bọ phấn chủ yếu
Xác định thời gian phát dục các pha, vòng đời, khả năng đẻ trứng của con cái,
tỷ lệ trứng nở (%), tỷ lệ chết do tự nhiên, do thiên địch, và các đặc điểm sinh học
khác theo phương pháp của Viện Bảo vệ Th
ực vật (1998).
Thời gian phát dục trung bình của từng giai đoạn tính theo công thức:
=
∑
Xini
X
N
Trong đó: X: Thời gian phát dục trung bình của từng pha
Xi: Thời gian phát dục của cá thể thứ i
ni: Số cá thể lột xác trong ngày thứ i
N: Tổng số cá thể theo dõi
Điều tra tình hình phát sinh gây hại, diễn biến mật độ của bọ phấn chính hại trên
cây bưởi Diễn
Dùng kính lúp tay điều tra 1 lá đại diện ở mỗi tầng lá sau đó phân cấp hại theo
phân cấp của Cục BVTV (2004).
Để tìm hiểu mối quan hệ
giữa cây có múi (bưởi Diễn, bưởi Đoan Hùng, ) theo
xuất cây ăn quả
để phòng trừ bọ phấn hại trên cây bưởi Diễn, tiến hành thử nghiệm
trong phòng và ngoài đồng ruộng theo phương pháp của Cục Bảo vệ Thực vật (2000)
với 4 loại thuốc và dầu khoáng:
Thí nghiệm trong phòng được tiến hành như sau:
Các loại thuốc và dầu khoáng được sử dụng là:Vibaba 50ND; Suprathion 40EC;
Trebon 10EC; Hỗn hợp Dầu khoáng + Abamectin.
Mỗi loại thuốc thử nghiệm 3 lần, pha thuốc theo nồng độ khuyến cáo của nhà sả
n
xuất ghi trên nhãn. Theo dõi số lượng của bọ phấn sống ở các công thức trước và sau khi
xử lý thuốc 1, 3, 5 và 7 ngày.
Tính hiệu lực của thuốc trừ bọ phấn trong phòng thí nghiệm theo công thức Abbott:
Ca-Ta
H% =
Ca
× 100
Trong đó: H(%) là hiệu lực của thuốc tính theo phần trăm
Ca: là số lượng cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý
Ta: là số lượng cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Thí nghiệm ngoài đồng ruộng được tiến hành như sau:
Các loại thuốc và dầu khoáng được sử dụng như làm thí nghiệm trong phòng.
- Lập 3 ô tiêu chuẩn, mỗi ô n = 25 cây (256 m
2
/ô), điều tra các hướng Đông -
Tây, Nam - Bắc.
Thí nghiệm bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 5 công thức:
- CT 1: Hỗn hợp Dầu khoáng + Abamectin;
- CT 2: Vibaba 50ND;
- CT 3: Suprathion 40EC;
- CT 4: Trebon 10EC;
2 Aleurocanthus spiniferus (Quaintance) +++ +++ +++
3 Aleurocanthus woglumi (Ashby) +++ +++ +++
4 Aleurodicus dispersus (Russell) - - +
5 Aleuroclava jasmini (Takahashi) + ++ ++
6 Bemisia tabaci (Gennadius) ++ + ++
7 Dialeurodes citri (Ashmead) + + ++
8 Dialeurodes citrifolii (Morgan) ++ - +
9 Parabemisia myrice (Kuwana) + ++ +
Mức độ phổ biến: + + + : Rất phổ biến (XH > 50%)
+ + : Phổ biến (XH từ 20-50%)
+ : Ít phổ biến (XH từ 5-20%)
- : Rất ít phổ biến (XH<5%)
+ Trên cây bưởi diễn tại Hà Nội đã phát hiện được 9 loài bọ phấn gây hại.
+ So sánh với Danh lục bọ phấn hại trên bưởi của Bộ nông nghiệp và PTNT
công bố năm 2010 thì có 1 loài mới là: Aleurodicus dispersus (Russell).
+ Trong 9 loài bọ phấn gây hại thì có 2 loài là Aleurocanthus spiniferus
Quaintance và Aleurocanthus woglumi Ashby có mức độ
phổ biến cao nhất qua các
năm. Cũng từ kết quả này chúng tôi tập chung nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh
học, sinh thái học của 2 loài bọ phấn nói trên làm cơ sở cho việc phòng chống tác hại
của chúng gây ra trên cây bưởi Diễn.
3.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA HAI LOÀI
BỌ PHẤN Aleurocanthus spiniferus Quaintance VÀ Aleurocanthus woglumi
Ashby
3.2.1. Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của bọ phấn Aleurocanthus
spiniferus Quaintance.
3.2.1.1.
Đặc điểm hình thái của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance.
Vòng đời của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance trải qua các pha
phát dục như sau:
cái một cách đáng kể.
3.2.1.2. Một số đặc điểm sinh học của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance.
Thời gian phát dục của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance
Thời gian phát dục ở pha trứng của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance.
Thời gian phát dục của pha trứng của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 20 ngày và
ngắn nhất là 15 ngày.
Thời gian phát dục pha sâu non của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance.
a. Thời gian phát dục pha sâu non tuổi 1 của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance ở các tháng tỷ lệ nghịch với nhiệt độ c
ủa phòng thí nghiệm, dài nhất
là 12 ngày và ngắn nhất là 8 ngày.
b. Thời gian phát dục pha sâu non tuổi 2 của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 10 ngày và
ngắn nhất là 6 ngày.
c. Thời gian phát dục pha sâu non tuổi 3 của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance cũng tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 10 ngày
và ngắn nhất là 7 ngày.
Thời gian phát dục của pha nhộng giả
của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
Quaintance tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 24 ngày và
ngắn nhất là 18 ngày.
Vòng đời và đời của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance.
Từ kết quả theo dõi thời gian phát dục các pha của bọ phấn chúng tôi đã tính
được đời và vòng đời của bọ phấn. Kết quả được trình bày ở bảng 3.8.
Nhiệt độ TB (
o
C) 28,8 26,4 21,1
Ẩm độ TB (%) 83 81,6 74,2
Ghi chú: Thời gian nuôi từ năm 2008 đến năm 2009.
Thời gian phát dục các pha của bọ phấn Aleurocanthus Spiniferus Quaintance
phụ thuộc chặt chẽ với điều kiện nhiệt độ và độ ẩm. Ở cùng mức nhiệt độ, nếu độ ẩm
cao hơn, thời gian phát dục của các pha của bọ phấn kéo dài hơn. Nhiệt độ thấp và
ẩm độ trung bình cao thời gian phát dục của các pha của bọ phấn kéo dài hơn, hay nói
theo một cách khác bọ phấn thích h
ợp với điều kiện mát mẻ và độ ẩm cao.
Khả năng đẻ trứng và tỷ lệ trứng nở của trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus
spiniferus.
* Khả năng đẻ trứng
Bảng 3.9: Khả năng đẻ trứng của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
(Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2009) (n=30)
Đợt TN
Số trưởng
thành đẻ
(con)
Tổng số
trứng thu
được (quả)
Tỷ lệ trưởng
thành đẻ (%)
Số trứng
TB/con cái
(quả)
Nhiệt độ
TB (°C)
Quaintance. Vào đợt thí nghiệm thứ nhất, khi nhiệt độ 21,4°C và ẩm độ 82,7% tỷ lệ
nở của trứng là cao nhất, đạt 86,11%. Nhiệt độ quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng
đến tỷ lệ nở của trứng ở bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance.
3.2.1.3. Đặc điểm sinh thái học của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus.
Mật độ pha sâu non bọ phấn Aleurocanthus spiniferus trên cây bưởi Diễn năm
2008 - 2009 tại Hà Nội biến động từ 2,714 - 13,596 con/lá, mật độ pha nhộng giả
biến động từ 2,378 - 9,688 con/lá, mật độ trưởng thành biến động từ 2,173 -
5,301con/lá. Vào lúc thu hoạch mật độ bọ phấn cao nhất, sau đó mật độ bắt đầu giảm
dần. Giai đoạn sinh trưởng của cây trồng có ảnh hưởng đến biến
động số lượng của
bọ phấn Aleurocanthus spiniferus.
Hình 3.19. Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
trên cây bưởi Diễn trong thời gian 2008-2009 ở Từ Liêm, Hà Nội
Diễn biến mật độ của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus trên cây bưởi Diễn trong
thời gian 2009 - 2010 tại Từ Liêm, Hà Nội
Trong các tháng trời ấm áp có thể dễ dàng bắt gặp tất cả các pha phát dục của bọ
phấn Aleurocanthus spiniferus trên các ruộng trồng cây bưởi Diễn.
Hình 3.20: Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
trên cây bưởi Diễn trong thời gian 2009-2010 ở Từ Liêm, Hà Nội
12
Ảnh hưởng của yếu tố giống cây trồng đến mật độ của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
0
2
4
6
8
10
3
0/
1
1/
20
0
9
14/12/
20
0
9
2
8/
1
2/
20
0
9
Thời gian
Mật độ (con/lá)
Bưởi Diễn (con/lá) Bưởi Đ. Hùng (con/lá)
Hình 3.21. Mật độ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus
trên bưởi Diễn và bưởi Đoan Hùng năm 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội
Mật độ của loài bọ phấn Aleurocanthus spiniferus trên cây bưởi Diễn cao hơn nhiều
so với mật độ bọ phấn loài này trên bưởi Đoan Hùng. Điều này cho chúng ta thấy, cây
bưởi Diễn là thức ăn phù hợp hơn cho bọ phấn Aleurocanthus spiniferus. Cũng có thể cây
bưởi Diễn là cây trồng đã đượ
c thuần hóa và canh tác lâu năm tại vùng Hà Nội hơn cây
bưởi Đoan Hùng nên phù hợp với bọ phấn hơn là cây bưởi Đoan Hùng.
00
9
1
4
/
2
/
200
9
21/
2
/2
0
0
9
28/
2
/200
9
5/
3
/20
0
9
1
2
/
3
/
20
5/200
9
7/6/2009
14/
6
/2
0
0
9
21/
6
/200
9
28
/
6/200
9
Ngày điều tra
Mật độ (con/lá)
Cây 5 năm Cây >10 năm
Hình 3.23: Mật độ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus trên bưởi Diễn
dưới ảnh hưởng của tuổi cây năm 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội
3.2.2. Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của bọ phấn Aleurocanthus
woglumi Ashby.
3.2.2.1. Đặc điểm hình thái của loài bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby
Vòng đời của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby trải qua các pha phát dục
như sau:
+ Pha trứng: Trứng hình múi cam (chanh), có cuống, trứng mới đẻ ra có màu
trắng đục, trứng được đẻ thành ổ theo vòng xoắn ốc.
Tương tự như với loài bọ phấn Aleurocanthus spiniferus, để hiểu rõ hơn về đặc
điểm sinh học của loài bọ phấn đ
en Aleurocanthus woglumi, chúng tôi cũng đã
nghiên cứu về thời gian phát dục các pha của chúng.
Thời gian phát dục của pha trứng của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby
ngắn nhất là 12 ngày và dài nhất là 20 ngày. Thời gian phát dục của pha trứng ảnh
hưởng chặt chẽ vào nhiệt độ và độ ẩm. Ở cùng độ ẩm, thời gian phát dục dài khi nhiệt
độ thấp. Thời gian phát dục tỷ lệ nghịch với nghiệt độ, nhi
ệt độ càng cao thì thời gian
phát dục của pha trứng càng ngắn.
Thời gian phát dục pha sâu non bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby
a. Thời gian phát dục pha sâu non tuổi 1 của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
Ashby ngắn nhất là 7 ngày và dài nhất là 12 ngày.
b. Thời gian phát dục pha sâu non tuổi 2 của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
Ashby tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 10 ngày và ngắn
nhất là 5 ngày.
c. Thời gian phát dục pha sâu non tuổi 3 của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
Ashby c
ũng tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 11 ngày và
ngắn nhất là 7 ngày.
Thời gian phát dục của pha nhộng giả của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
Ashby tỷ lệ nghịch với nhiệt độ của phòng thí nghiệm, dài nhất là 22 ngày và
ngắn nhất là 16 ngày.
Vòng đời và đời của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby
Từ kết quả theo dõi thời gian phát dục các pha của bọ phấn Aleurocanthus
woglumi Ashby, chúng tôi
đã tính được đời và vòng đời của chúng.
15
Bảng 3.22: Vòng đời và đời của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
Vòng đời
47-55 49,15±1,10 54-67 59,55±1,24 63-76 67,92±1,78
Đời
48-56 50,59±1,23 55-68 61,32±1,47 64-77 69,78±2,36
Nhiệt độ TB (
o
C)
28,8 26,4 21,2
Ẩm độ TB (%)
83 81,6 74,2
Ghi chú: Thời gian nuôi từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009.
Như vậy, chúng tôi thấy thời gian phát dục các pha của bọ phấn Aleurocanthus
woglumi Ashby phụ thuộc chặt chẽ với điều kiện nhiệt độ. Nhiệt độ thấp và ẩm độ
trung bình cao thời gian phát dục của các pha của bọ phấn kéo dài hơn, hay nói theo
một cách khác bọ phấn thích hợp với điều kiện mát mẻ và ẩm độ cao.
So với bọ phấn Aleurocanthus spiniferus chúng ta thấ
y giai đoạn tiền đẻ trứng
của cả hai loài này tương tự nhau, chỉ khoảng 1 ngày. Tuy nhiên vòng đời của
Aleurocanthus spiniferus dài hơn của Aleurocanthus woglumi khoảng 2 đến 3 ngày.
Khả năng đẻ trứng và tỷ lệ trứng nở của trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus
woglumi Ashby
*Khả năng đẻ trứng của trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus woglumi.
Bảng 3.23: Khả năng đẻ trứng của bọ
phấn Aleurocanthus woglumi
(Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2009) (n=30)
Đợt TN
Số trưởng
thành đẻ
(con)
Tổng số
(
o
C)
Ẩm độ TB
(%)
1 152 84,44 21,4 82,4
2 126 70,00 27,6 79,2
3 79 43,89 31,3 76,8
Nhiệt độ tối ưu cho việc trứng nở giao động ở 21°C, với ẩm độ khoảng 82%.
Nhiệt độ quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến tỷ lệ nở của trứng. Nhiệt độ càng
cao thì tỷ lệ nở của trứng của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby càng giảm.
3.2.2.3. Một số đặc điểm sinh thái học của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby.
Mật
độ pha sâu non bọ phấn Aleurocanthus woglumi trên cây bưởi Diễn năm
2008 - 2009 tại Hà Nội biến động từ 2,497 - 12,088con/lá; mật độ pha nhộng giả biến
động từ 2,435 - 7,756 con/lá; mật độ trưởng thành biến động từ 2,179 – 4,125 con/lá.
0
1
2
3
4
5
6
7
8
Thán
g
3/
200
8
8
Tháng 1/2
00
9
Tháng 2/200
9
Tháng điều tra
Mật độ (con /lá)
Sâu non Nhộng giả Trưởng thành
Hình 3.32: Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus woglumi
trên cây bưởi Diễn trong trong thời gian 2008-2009 ở Từ Liêm, Hà Nội
Diễn biến mật độ của bọ phấn Aleurocanthus woglumi trên cây bưởi Diễn trong
thời gian 2009-2010 tại Từ Liêm, Hà Nội
Hình 3.33: Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus woglumi
trên cây bưởi Diễn trong thời gian 2009-2010 ở Từ Liêm, Hà Nội
Theo kết quả thu được, chúng tôi thấy, thời gian thấy sâu non nhiều nhất là vào
cuối của tháng 10 và tháng 11, 12. Đây cũng là thời gian thu hoạch bưởi. Ngược lại,
vào các tháng 7, 8, 9 hay 2, 3 mật độ sâu non tìm thấy rất ít. Pha nhộng giả và trưởng
thành tìm thấy nhiều nhất vào thời gian các tháng 3, 8, 9/2009 và tháng 2/2010. Riêng
đối với con trưởng thành, tháng 6, 7/2009 hay tháng 1, 2/2010 rất hiếm khi tìm thấ
y.
17
Yếu tố giống cây trồng ảnh hưởng đến mật độ của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
0
2
4
6
/1
0
/2
0
0
9
26
/1
0
/2
0
0
9
2/11/ 200
9
9/1
1
/2
0
0
9
16
/
11
/
20
0
9
23/11/200
9
t độ của bọ phấn Aleurocanthus woglumi
0
2
4
6
8
10
12
7/
9
/200
9
1
4
/9/2
0
09
2
1/9/
2
009
28/9/2009
5
/10
/2
00
9
12/10/200
9
1
/2
00
9
14
/1
2/2
00
9
21/1
2
/200
9
28/
1
2/20
0
9
Ngà y điều tra
Mật độ (con/lá)
Xen canh Trồng thuần
Hình 3.35: Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus woglumi dưới ảnh hưởng của
kỹ thuật trồng thuần bưởi Diễn và xen canh năm 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội
Mật độ của bọ phấn trong vườn trồng xen canh cao hơn so với mật độ bọ phấn
trên vườn trồng thuần. Tại thời điểm cao nhất mật độ bọ phấn ở những vườn trồng
xen là 11,287 con/lá, còn đối với kỹ thuật trồng thuần thì mật độ cao nhất là 9,231
con/lá. Lý do tương tự như đã trình bày ở phần bọ phấn Aleurocanthus spiniferus.
Chúng tôi cũng đã tìm hiểu về ảnh hưởng của tuổi cây đối với mật độ của bọ phấn
Aleurocanthus woglumi, kết quả được trình bày ở bảng 3.29:
0
3
/
2
00
9
19/3/200
9
2
6
/
4
/
2
00
9
2
/4/20
0
9
9
/4/20
0
9
1
6/5
/
2
00
9
2
0
9
Ngà y điều tra
Mật độ (con/lá)
Cây 5 năm Cây >10 năm
Hình 3.36: Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus woglumi
trên bưởi Diễn dưới ảnh hưởng của tuổi cây năm 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội
18
Chúng tôi nhận thấy rằng, mật độ bọ phấn Aleurocanthus woglumi dưới ảnh
hưởng của yếu tố tuổi cây cũng tương tự như bọ phấn Aleurocanthus spiniferus.
Tuy cùng điều kiện canh tác, nhưng trên các vườn bưởi có tuổi đời khác nhau thì mật
độ bọ phấn cũng có sự chênh lệch.
Sau khi có được các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của hai
loài bọ
phấn chính hại trên cây bưởi Diễn tại Hà Nội, chúng tôi tiếp tục các nghiên
cứu về loài ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri nhằm xây dựng biện pháp phòng
chống bọ phấn hại bưởi Diễn đạt hiệu quả kinh tế và môi trường.
3.3. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA ONG KÝ SINH Encarsia
opulenta Silvestri
3.3.1. Đặc điểm hình thái của ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri.
Loài ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri có các pha phát dục như sau: Pha
trứng; pha sâu non có 3 tuổi; pha nhộng trần và pha trưởng thành.
Pha trứng: trứng nh
ỏ, hình ovan hơi dài, màu vàng hổ phách, một đầu có màu
nâu đen.
Pha sâu non:
- Sâu non tuổi 1 rất nhỏ, màu trắng trong suốt, ở phần đầu có các móc gai ngắn,
cong. Phần đuôi (đốt bụng cuối) kéo dài, cong lại.
ong đực từ 0,34 - 0,36 mm, chiểu rộng ong cái là 0,48 - 0,51 mm.
19
3.3.2. Đặc điểm sinh học của ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri.
3.3.2.1. Vòng đời của ong Encarsia opulenta Silvestri.
Vòng đời của ong Encarsia opulenta Silvestri được tính bằng tổng thời gian
phát dục pha trứng cộng thời gian phát dục pha sâu non cộng thời gian phát dục pha
nhộng và cộng thời gian tiền đẻ trứng của trưởng thành.
Bảng 3.31: Vòng đời của ong Encarsia opulenta Silvestri ký sinh
trên bọ phấn trong phòng thí nghiệm.
Thời gian phát dục (ngày) Pha phát dục
Ngắn nhất Dài nhất TB±Δ
Trứng 1 2 1,35 ± 0,33
Sâu non 12 15 13,68 ± 0,51
Nhộng 10 12 11,83 ± 0,38
Tiền đẻ trứng 0,5 1 0,77 ± 0,17
Vòng đời 23,5 30 26,77 ± 0,84
Nhiệt độ (
0
C) 25,2 – 28,5
Ẩm độ (%) 70,3 – 81,7
Vòng đời của ong ngắn nhất là 23,5 ngày, dài nhất là 30 ngày, trung bình là
26,77 ± 0,84 ngày, trong điều kiện nhiệt độ từ 25,2 – 28,5
0
C và ẩm độ là 70,3 đến
81,7%. Đồng thời chúng ta thấy ong ký sinh sau khi vũ hóa chỉ 0,5 đến 1 ngày là đã
có thể ghép đôi và ký sinh ngay.
3.3.2.2. Tỷ lệ ký sinh của ong Encarsia opulenta Silvestri trên bọ phấn
Aleurocanthus spiniferus Quaintance trong phòng thí nghiệm.
Bảng 3.32: Tỷ lệ ký sinh của ong ký sinh Encarsia opulenta
của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus trong phòng thí nghiệm
(Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2009) (n=30)
Hiệu lực (%)
Thuốc thí
nghiệm
Nồng độ
(%)
1 NSP 3 NSP 5 NSP 7 NSP
DK + Abamectin 0,6 54,4 a 80,0 b 91,1 a 98,9 a
Vibaba 50ND 1,15 52,2 a 78,9 b 83,3 b 85,6 c
Suprathion
40EC
0,25
56,7 a 94,4 a 94,4 a 96,7 b
Trebon 10EC 1,15 50,0 a 73,3 b 80,0 b 82,2 c
Ghi chú: Giá trị trung bình theo cột với cùng chữ cái biểu thị sự không sai khác ở mức ý nghĩa α ≤ 0,05.
Bảng 3.35: Hiệu lực của thuốc BVTV với pha nhộng giả
của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus trong phòng thí nghiệm
(Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2009) (n=30)
Hiệu lực (%)
Thuốc thí nghiệm
Nồng độ
(%)
1 NSP 3 NSP 5 NSP 7 NSP
DK + Abamectin 0,6 48,9 a 70,0 b 86,7 a 88,9 a
Vibaba 50ND 1,15 47,8 a 75,6 b 80,0 b 81,1 c
Suprathion 40EC 0,25 51,1 a 80,0 a 90,0 a 90,0 b
Trebon 10EC 1,15 44,4 a 70,0 b 76,7 b 77,8 c
Ghi chú: Giá trị trung bình theo cột với cùng chữ cái biểu thị sự không sai khác ở mức ý nghĩa α ≤ 0,05.
Theo kết quả khảo nghiệm hiệu lực thuốc ở các bảng 3.33 và 3.35, chúng tôi
1 ngày 3 ngày 5 ngày 10 ngày 15 ngày
DK +
Abamectin
0,6 47,0c 71,5 b 88,6 a 92,7 a 89,5 a
Vibaba
50ND
1,15 53,0b 76,0 b 82,8 b 78,6 c 71,3 c
Suprathion
40EC
0,25 65,0a 82,0 a 91,0 a 85,3 b 79,6 b
Trebon
10EC
1,15 58,0b 65,0 c 75,5 c 70,6 d 68,6 c
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị có cùng chữ cái theo sau không sai khác nhau ở
mức ý nghĩa 95%. Thí nghiệm tại Từ Liêm, Hà Nội, 2011.
Hiệu quả phòng chống với pha nhộng giả bọ phấn cao nhất là công thức phun
hỗn hợp dầu khoáng và thuốc Abamectin (92,7% sau 10 ngày phun) và đây cũng là
công thức có kết quả kéo dài nhất.
Hiệu quả của thuốc tăng dần ở tất cả các công thức sau phun và mạnh nhất
trong khoảng 5 – 10 ngày. Đến ngày thứ 15 sau phun thì hiệu quả của thuốc ở tất cả
các công thức đều giảm xuống.
3.4.2. Biệ
n pháp sinh học
Tỷ lệ ký sinh của ong Encarsia opulenta Silvestri trên bọ phấn Aleurocanthus
spiniferus Quaintance ngoài tự nhiên.
Khi tiến hành điều tra diễn biến mật độ bọ phấn tại các vườn trồng cây bưởi
Diễn tại Từ Liêm Hà Nội, chúng tôi phát hiện trên các lá có xuất hiện nhiều bọ phấn
Aleurocanthus spiniferus Quaintance bị ong ký sinh. Do đó chúng tôi tiến hành đếm
số lượng nhộng giả bọ phấn bị ký sinh và số ong ký sinh trưởng thành có trên lá để
tính ra t
nông dân tại địa phương áp dụng (CT2 – Đối chứng) và đánh giá hiệu quả kinh tế của
cả 2 mô hình. Từ đó đưa ra được mô hình hiệu quả nhất trong việc trồng, chăm sóc và
phòng chống bọ phấn hại cây bưởi Diễn.
Chọn giống:
Bưởi Di
ễn, chọn cây giống khỏe được chiết hoặc ghép từ những cây có tuổi cao
(khoảng 10 – 15 năm).
Kỹ thuật canh tác:
- Chúng tôi trồng bưởi vào thời điểm sáng sớm và chiều mát, sau đó trồng cây
che bóng.
- Chọn chân ruộng cao, thoát nước tốt, làm đất kỹ, cày bừa, phơi ải. Lên luống
(hoặc làm mô) cao 30 cm. Khoảng cách giữa 2 luống là 40 cm (rãnh thoát nước).
- Trồng bưởi theo hàng, hàng cách hàng 4 m, mật độ khoảng 650 đến 680 cây/ha.
- Bón lót hố trước khi trồ
ng 30 kg phân chuồng + 1kg Super Lân + 0,5kg vôi
trộn đều với đất. Tưới nước vào sáng sớm và chiều mát.
Kỹ thuật chăm sóc:
- Phát quang bờ bụi khu vực trồng. Tạo tán, đốn tỉa vườn cây đúng chu kỳ. Sau
khi thu hoạch chúng tôi tiến hành loại bỏ những cành đã cho quả, cành bị sâu bệnh,
cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng cho quả, …
- Định kỳ mỗi tháng 1 lần chúng tôi xới xáo, làm cỏ sạch sẽ quanh vườn để h
ạn
chế ký chủ của bọ phấn và sâu bệnh hại.
- Hai ngày một lần khi cây còn nhỏ và 7 ngày một lần khi cây đã đủ lớn vườn
bưởi được theo dõi, giám sát. Khi phát hiện thấy bọ phấn hoặc các loài dịch hại khác
tiến hành biện pháp phòng chống ngay, tránh sự tích lũy số lượng dịch hại.
Kỹ thuật phun thuốc hóa học
Bưởi Diễn thường bị một số loại sâu bệnh phá hoạ
i như: Bệnh nấm, sâu vẽ bùa,
sâu đục thân, cành, nhện đỏ, bọ phấn, ruồi đục quả, bệnh chảy gôm, bệnh khô cành,
quá như: Bón quá nhiều phân hóa học, tưới nước quá nhiều hay trồng với mật độ dày
đặc (cây cách cây 3m x 3m hoặc 3m x 2m).
Người nông dân thường chỉ bón cho cây các loại phân bón hóa học, rất ít phân
hữu cơ vì phân hóa học dễ mua, dễ sử dụng hơn. Điều này dẫn tới việc thoái hóa đất
và giảm năng suất quả ở những năm tiếp theo, đồ
ng thời mẫu mã quả không đẹp, chất
lượng giảm.
Phun thuốc hóa học:
Người nông dân có thói quen phun thuốc bất kỳ lúc nào khi thấy có sâu bệnh hại
xuất hiện. Đồng thời họ phun thuốc không có chọn lọc loại thuốc, chỉ cần theo khuyến cáo
trên bao bì của nhà sản xuất, không cần ngưỡng, phun liên tục từ 3 đến 5 ngày, nhiều lần,
đến khi thấy hết sâu bệnh thì thôi.
Bảo vệ thiên địch:
Ng
ười nông dân chưa có thói quen bảo vệ các loài thiên địch tự nhiên trên đồng
ruộng. Thậm chí họ chưa có khái niệm về thiên địch. Họ phun các loại thuốc hóa học
có độ độc cao, phổ rộng, hiệu lực kéo dài.
3.4.3.3. Đánh giá tác động của các mô hình
Sau khi thu hoạch sản phẩm trên 2 mô hình, chúng tôi tiến hành so sánh, đánh giá
hiệu quả và phân tích sự sai khác giữa hai mô hình thử nghiệm CT1 và CT2 như sau:
- Khi trồng vườn cây từ những cây giống khỏe mạnh thì việ
c mất khoảnh phải trồng
dặm lại là rất ít xảy ra. Đồng thời cây có khả năng chống chịu tốt hơn với dịch hại.
- Khi trồng vườn cây đúng mật độ khoảng cách, có luống cao, thẳng hàng lối thì
cây sẽ khỏe mạnh hơn do được quang hợp tốt hơn, chủ động tưới tiêu, không bị ngập
úng và cũng sẽ dễ chăm sóc hơn.
-
Bón phân cân đối, hợp lý sẽ giúp cho cây hấp thu đầy đủ dinh dưỡng cũng là
tiết kiệm được chi phí đầu tư sảm xuất. Thêm vào đó việc đốn tỉa tạo tán được thực
hiện đúng chu kỳ sẽ giúp cây cho năng suất cao hơn và phẩm chất tốt hơn.
5. Vòng đời Trung bình của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby là
67,92±1,78 ngày ở nhiệt độ là 21,2
o
C và ẩm độ là 74,2%. Ở mức nhiệt độ 21,4
o
C và
ẩm độ 82,4% thì số trứng trung bình thu được trên một con cái là cao nhất
(105,55±6,42 quả) và tỷ lệ nở cũng cao nhất (84,44%). Nhiệt độ càng tăng thì số
trứng TB/con cái và tỷ lệ nở giảm đi.
6. Để phòng trừ bọ phấn hại bưởi Diễn nên dùng hỗn hợp 25,5% dầu khoáng +
hoạt chất Abamectin 0,6% để phun. Hoặc dùngthuốc Suprathion 40EC với nồng độ
2/1000 (20ml pha trong 10lít nước) phun trong 1-2 lần ở thời kỳ lá non. Khi phun
thuốc c
ần áp dụng phương pháp 4 đúng (Đúng thuốc, đúng liều lượng nồng độ, đúng
cách, đúng lúc). Đồng thời bảo vệ, khích lệ các loài kẻ thù tự nhiên của bọ phấn trong đó
có loài ong Encarsia opulenta.
ĐỀ NGHỊ
+ Sử dụng kết quả nghiên cứu về bọ phấn hại trên cây bưởi Diễn làm tài liệu tập
huấn cho các lớp khuyến nông, tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Bảo vệ
thực v
ật, trồng trọt của trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam.
+ Bảo vệ, khích lệ loài thiên địch nói chung, cũng như loài ong ký sinh Encarsia
opulenta Silvestri nói riêng có ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ phấn trên vườn
bưởi Diễn. Tiếp tục nghiên cứu các loài thiên địch khác của bọ phấn trên cây có múi.
25BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI