Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ: Xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 20



Đề án lý thuyết tài
chính tiền tệ

Xử lý nợ xấu trong hệ
thống ngân hàng
thương mại Việt Nam

Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
1

A. LỜI NÓI ĐẦU

Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển
đáng kể. Hiện nay nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định, có môi trường đầu tư an toàn trong khu vực và trên thế

Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả
năng hoàn trả được vay lãi vay gốc hay cả …
Người ta cho rằng rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro
trong hoạt động tín dụng, hoạt động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách
để kiểm soát được khả năng hoàn trả nợ ở ngân hàng, ít nhất là dự tính, phán
đoán khả năng này.
* Nợ xấu
Cần phải khẳng định lại rằng rủi ro tín dụng là rủi ro chính mà ngân
hàng phải đối mặt. Vấn đề đặt ra là có nên hay không nên cho khách hàng đó
vay. Tuy nhiên ngân hàng cũng là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, vấn đề cho
vay là không thể tránh khỏi, vậy khi đã cho khách hàng vay thì quá trình thu
được nợ phải như thế nào? Việc phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và
đánh giá rủi ro tín dụng là hoạt động mà các ngân hàng hiện đang làm. Theo
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 phân loại nợ 5 loại theo
2 phương pháp định tính và định lượng.
* Phương pháp định lượng
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
3
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm nợ trung hạn được đánh giá có
khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh
trong tương lai như các khoản bảo lãnh cam kết cho vay, chấp nhận thanh
toán.
- Nhóm 2 nợ cần chú ý bao gồm nợ quá hạn < 90 ngày và nợ có cấu lại
thời hạn nợ.
- Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 -180 ngày
người nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn < 90 ngày.
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 180 - 360 ngày.
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn bao gồm nợ quá hạn > 360 ngày và
nợ cơ cấu thời hạn trả nợ > 180 ngày người nợ khoanh chờ chi phí xử lý.

nhất, ngoài ra còn có các khoản nợ ngắn hạn không trả được ở các cấp độ
(thuộc nhóm 3, 4: nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ). Nhiều ngân hàng cho
rằng, nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác chưa
đến hạn cũng được coi là có rủi ro. Thậm chí, dù nợ chưa đến hạn hoặc đến
hạn vẫn trả được, song tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có
biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là
có rủi ro. Do đó vấn đề không phải là con số nợ xấu chiếm 2% hay 7% tổng
dư nợ mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Dù theo phương pháp
nào thì kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc cán bộ ngân hàng có thực sự
nghiêm túc trong nhìn nhận nợ xấu, rủi ro tín dụng hay không, từ đó có chính
sách quản trị rủi ro như thế nào.
2. Sự cần thiết phải xử lí "nợ xấu" trong Ngân hàng thương mại
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
5
2.1. Ảnh hưởng của "nợ xấu" tới hoạt động của các Ngân hàng
thương mại
Nếu các khoản nợ xấu này lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ
khách hàng của ngân hàng thấp. Do đó ngân hàng phải dùng vốn để trang trải
cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực
hiện việc "xóa sổ" những khoản thất thoát này, ngân hàng có thể bị lâm vào
tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc vào những lòng tin,
do đó khi thông tin khả năng trả nợ ngân hàng là không chắc chắn, người gửi
tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
Ngoài ra ngân hàng Trung ương của bất kì quốc gia nào cũng đều có
nhiệm vụ bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động một cách an toàn và ổn
định. Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó dù chỉ là 1 ngân
hàng và ở 1 mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự tan toàn và ổn
định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

và tổn thất có thể xảy ra đối với khoản cho vay, trong trường hợp này ngân
hàng phải áp dụng hình thức thu ngân bắt buộc theo luật. Bên cạnh đó có các
yếu tố như sự thật thà và thái độ của người vay đối với các khoản nợ, sức
mạnh tài chính là khả năng chi trả của người vay, mặc dù cần thiết thời gian
đáng kể, giá trị của người vay đối với ngân hàng, chi phí kèm theo việc thu
ngân hàng khôi phục cho người vay và phương pháp nào sẽ đem lại lợi ích
lớn nhất cho ngân hàng trên số vốn đã và đang bị khó khăn. Một yếu tố cuối
cùng cần phải quan tâm là thái độ của chủ nợ, mà điều này xảy ra rất nhiều.
Trong việc xử lí ngoài phạm vi của toà án, sự sắp xếp các việc phải làm cần
được những người liên quan chấp nhận. Một người phản đối có thể làm cho
kế hoạch không được thực hiện phải thuyết phục của chủ nợ này rằng, họ
được lợi bằng cách cộng tác với một kế hoạch được đề nghị hơn là hoạt động
đơn phương.
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
7
* Tổ chức khai thác
Khi người vay gặp khó khăn về tài chính, ngân hàng có thể và thường
tham gia tổ chức khai thác, dĩ nhiên phải đặt trong giả thuyết người vay thật
thà thái độ của họ đối với khoản nợ và chi trả là thoả đáng. Điều này đặc biệt
đúng, nếu như người vay có vốn lớn trong doanh nghiệp, một số tài sản cố
định có giá trị, một tổ chức có thể tạo lợi nhuận đủ số lượng để hoàn trả khoản
vay đáng nghi vấn, cũng như những khoản cho vay khác cần cho việc duy trì
doanh nghiệp, nếu gnười vay không thể trả nợ theo nghĩa sự vỡ nợ thì ngân
hàng nên thực hiện thanh lí.
Hầu hết các khoản cho vay khó đòi tại ngân hàng thương mại được xử
lí bằng phương pháp khai thác, nghĩa là người vay được phép tự khắc phục
khó khăn tài chính và hoàn trả các khoản nợ ngân hàng càng nhanh càng tốt.
Vì tổ chức khai thác không phải là một công cụ pháp lí,nó có thể có một số
hình thức khác nhau giữa những khoản cho vay các biện pháp có thể bao gồm

Nhân việc ngân hàng có thể thực hiện thanh lí với sự giúp đỡ của
chuyên gia tư vấn pháp luật của ngân hàng hay bộ phận liên quan đến những
khoản cho vay có vấn đề và thành viên của bộ phận tham mưu có chuyên môn
về lĩnh vực này. Cuối cùng một nhân viên thanh lí chuyên nghiệp được ngân
hàng thuê xử lí việc thanh lí.
Một hình thức thanh lí khác là tái sở hữu các hàng hoá tiêu dùng lâu
bền trong một số trường hợp tư liệu sản xuất, được bán theo hợp đồng bán có
điều kiệnvà mua lại từ một nhà buôn. Quá trình này được thực hiện bằng cách
giữ lại hàng hoá sau đó tiến hành bán với giá nào đó hy vọng có thể trả hết nợ.
Trong trường hợp ngân hàng quyết định sử dụng biện pháp xử lý để thu
hồi số nợ vaykhông bảo đảm, phán quyết cần phải có từ toà án thích hợp.
Phán quyết này cho phép nắm giữ người bán tài sản của người thiếu nợ với số
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
9
lượng phù hợp với quyết định của toà án hay trừ vào lương theo mức được
luật pháp cho phép.
Nếu ngân hàng là một trong số các chủ nợ và ai cũng muốn lấy lại tiền
và có vị thế mạnh tương ứng như ngân hàng thì một uỷ ban chủ nợ có thể
được thành lập. Cách giải quyết này không áp dụng cho trường hợp phá sản
và cũng có thể áp dụng phương pháp khai thác.
Phá sản có 2 hình thức bồi thường cơ bản cho các chủ nợ, thanh lí và
hồi phục. Phá sản có thể miễn cưỡng hay cố ý. Nó là biện pháp cuối cùng theo
quan điểm của các chủ nợ. Ngân hàng hay bất cứ chủ nợ nào khác bao giờ
cũng mong muốn nhận được phần đáng kể các khoản cho vay từ quá trình
thanh lí nhưng thực tế thường không được như mong muốn.
Trong nhiều trường hợp, nó được áp dụng khi các chủ nợ không thể đạt
thoả thuận hợp lý liên quan đến các biện pháp phải thực hiện để thu hồi được
vốn vay, hay khi 1 chủ nợ nhỏ nào đó từ chối tiến hành một thoả thuận hợp
tác hay khi người vay từ chối làm việc với chủ nợ để cố gắng giải quyết khó

đồng. Đáng chú ý có địa phương nợ lớn, số nợ gấp nhiều lần vốn đầu tư xây
dựng cơ bản trong kế hoạch. Một số tổng công ty lớn và nhiều công ty xây
dựng cơ sở hạ tầng đã và đang đối mặt với sự suy yếu nghiêm trọng về tài
chính. Tổng công ty công trình giao thông số 5 đã lâm vào tình trạng suy kiệt
tài chính trong năm 2003 với khoản nợ ngân hàng lên tới 2200 tỷ đồng, nhưng
bản thân công ty này cũng là chủ nợ của các khoản nợ khó đòi 1930 tỷ đồng
(tại thời điểm 6/2003). Theo Bộ tài chính đến 10/2004, tổng số nợ tồn đọng
của riêng khối doanh nghiệp nhà nước là 28 785 tỷ đồng tăng hơn 7000 tỷ so
với số liệu tại thời điểm thống kê năm 2003.
Trong tín dụng ngân hàng, Việt Nam được đánh giá là độc quyền cho
vay. Ngành Ngân hàng Việt Nam bị chi phối bởi 4 ngân hàng thương mại lớn
đó là: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank); Ngân
hàng ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công thương (Incombank),
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
11
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV). Bốn Ngân hàng này chiếm khoảng
70% thị phần cho vay trong nước. Nhóm cho vay lớn thứ 2 là các ngân hàng
nước ngoài với thị phần 15%, tiếp theo là ngân hàng cổ phần với 12% và các
ngân hàng liên doanh đóng góp 3%. Bốn ngân hàng thương mại QP chiếm 3/4
thị phần tín dụng cho vay và huy động của ngân hàng các ngân hàng này có
bảng cân đối kế toán khá yếu kém; phản ánh sự kế thừa các khoản cho vay
trực tiếp đối với các dự án hỗ trợ của nhà nước. Đến cuối năm 2000 những
ngân hàng này đã có những khoản cho vay không hoàn lại lên tới 23 000 tỷ,
tương đương 2 lần số vốn của họ chiếm 5% GDP, và 15% tất cả các khoản tín
dụng cung ứng cho nền kinh tế. Trong thời gian qua ngân hàng nhà nước chủ
trương phân loại các khoản cho vay, với tiêu chuẩn quốc tế hơn và chấp nhận
các kế hoạch dự phòng mất mát các khoản cho vay đưa vào sử dụng dần dần.
Mặc dù vậy theo đánh giá của WB "chuẩn mực phân loại khoản cho vay còn
mơ hồ". Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng, nếu kiểm toán 4 Ngân hàng

Năm

Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
1. Tổng dư nợ (tỷ VNĐ
)
toàn bộ nền kinh tế
139.180 184.936 225.704 286.614 365.300
2. Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổ
ng
DN
13,2% 10,75% 8,7% 8,15% 8,02%
* Về phía doanh nghiệp
- Nguyên nhân khách quan: Doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của mình: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh,… do vậy
việc sử dụng vốn vay không đạt hiệu quả, có thể mất hoàn toàn vốn. Hoặc sự
biến động và sức ép cạnh tranh ngày càng tăng của thị trường, hoặc môi
trường kinh doanh, làm cho doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
13
thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán. Trong điều kiện
hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay cần chú ý tới các tác nhân: sự biến
động của tỷ giá, giá xăng dầu, nguyên liệu.
- Nguyên nhân chủ quan: doanh nghiệp quản lý sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay về không có
tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến doanh
nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ ngân hàng tăng. Hoặc bản thân
doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc thiếu ý thức
trong vấn đề trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ ngân hàng, mặc dù

hoặc bù lãi suất và trách nhiệm với nợ không thu hồi được.
Tại nhiều địa phương các cấp chính quyền, đoàn thể thường phối hợp
với ngân hàng trong việc thúc đẩy khách hàng trả nợ đúng hạn. Quan hệ này
được hình thành dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cấp chính quyền và
ngân hàng về kỉ luật tín dụng. Tuy nhiên có một số cấp chính quyền lại coi
ngân hàng như kênh tài trợ quan trọng khi ngân sách có khó khăn. Họ gây áp
lực cho ngân hàng bỏ qua kỉ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài chính
yếu kém. Một số cán bộ ngân hàng thì lại lợi dụng điều này để chia chác kiếm
lợi, dù gì cũng là tiền của nhà nước.
Cũng do quan hệ như vậy mà việc cho vay của ngân hàng thương mại
nhà nước vẫn chưa theo nguyên tắc thị trường. Việc ngân hàng cho các doanh
nghiệp nhà nước vay nhưng với thực lực tài chính yếu kém thì vấn đề nợ xấu
xảy ra là điều không thể tránh khỏi.
Như vậy chừng nào mà vẫn còn rủi ro đạo đức trong quan hệ giữa
Chính phủ, các ngân hàng thương mại quốc doanh, các doanh nghiệp nhà
nước tức là vẫn còn kỳ vọng giữa người cho vay (ngân hàng) và người đi vay
(doanh nghiệp nhà nước) và sự cứu vớt của Chính phủ trong tương lai, do đó
ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn tiếp tục ưu tiên cho các doanh nghiệp
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
15
nhà nước vay thì chừng đó vấn đề nợ xấu vẫn không được giải quyết triệt để
và luôn có xu hướng nảy sinh trở lại.
* Một nguyên nhân nữa đó là các văn bản hướng dẫn quy định về phân
loại và xử lý nợ còn chông cheo và chưa cụ thể, làm cho các ngân hàng chưa
chủ động trong việc xử lý các tài sản bảo đảm. Ngoài ra còn có sự chưa phù
hợp của luật pháp với thực tế khi ngân hàng xử lý tài sản khi mà khách hàng
không hợp tác và các cơ quan chức năng nhiều khi chưa hỗ trợ hiệu quả.
3. Giải pháp giúp xử lí nợ xấu ở ngân hàng thương mại
Như vậy trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập

Về cơ cấu lại tổ chức: tách hoàn toàn hoạt động cho vay theo chính
sách ra khỏi hoạt động kinh doanh thương mại của các ngân hàng, thực hiện
tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tắc thị trường.
Về cơ cấu lại tài chính: Tăng vốn điều lệ và xử lí dứt điểm nợ tồn đọng
ở các ngân hàng thương mại nhằm lành mạnh hoá tài chính, nâng cao khả
năng cạnh tranh, chống chịu rủi ro. Đối với ngân hàng thương mại nhà nước,
cần bổ sung vốn điều lệ nhằm đạt tối tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, xử lí hết
nợ tồn đọng, lành mạnh và minh bạch tài chính. Đối với ngân hàng thương
mại cổ phần tăng vốn điều lệ thonog qua sáp nhập và hợp nhất, phát hành bổ
sung cổ phiếu, đối với những ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động quá
yếu kém, không thể tăng vốn điều lệ và không thể khắc phục được những yếu
kém về tài chính có thể thu hồi giấy phép hoạt động.
Từng ngân hàng thương mại phải xây dựng và thực hiện chiến lược
kinh doanh mới, nhất là chú trọng việc mở rộng quy mô hoạt động hiện đại
hoá công nghệ, hoạt động marketing, đa dạng hoá nâng cao tiện ích các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến, cải
cách bộ máy quản lý, điều hành theo tư duy kinh doanh mới; xây dựng, chuẩn
hoá và văn hoá toàn bộ các quy trình nghiệp vụ các của hoạt động chủ yếu
của các ngân hàng thương mại, thực hiện cải cách hành chính doanh nghiệp;
xác định trách nhiệm rõ ràng, tuân thủ triệt để các quy trình văn bản đã được
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
17
xây dựng. Bên cạnh đó, cần giảm dần bảo hộ các ngân hàng thương mại trong
nước, đặc biệt về hoạt động tín dụng và cơ chế tái cấp vốn, tăng cường quyền
tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở ngân hàng thương mại trong kinh doanh, giảm
dần bao cấp với ngân hàng thương mại nhà nước, áp dụng đầy đủ hơn các quy
chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Thứ ba, xây dựng quy chế quản lý, hoạt động phù hợp với chuẩn mực
quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị vốn, kiểm

khách hàng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Sau đó chuyển nhượng các
khoản nợ xấu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có đủ khả năng và
quyền lực xử lí nợ.
Đối với các khoản nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng
thương mại quốc doanh chuyển sang công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng.
Bộ Tài chính (DATC). Đối với các khoản nợ xấu ở các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân khác, ngân hàng thương mại quốc doanh được phép bán nó cho
các DATC hoặc các doanh nghiệp, cá nhân có đủ năng lực tài chính kể cả tổ
chức cá nhân nước ngoài thông qua tổ chức đấu giá công khai.
Đối với các khoản nợ xấu chỉ định, hoặc các chương trình kế hoạch ở
nhà nước: mía đường, cà phê, đánh bắt xa bờ…. ngân hàng thương mại có thể
thoả thuận để bán nợ cho DATC, qũy hỗ trợ phát triển, ngân hàng chính sách,
hoặc doanh nghiệp cá nhân có chức năng mua bán nợ.
Đối với những khoản nợ xấu của doanh nghiệp mà ngân hàng không
chuyển giao cho công ty mua bán nợ và tổ chức, cá nhân khác, nhà nước cần
có cơ chế để ngân hàng có thể chủ động áp dụng các biện pháp cơ cấu lại tài
chính và hoạt động của doanh nghiệp.
Cần có các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành các quy định, tránh
sự chồng chéo.
Xây dựng cơ chế thị trường mua bán nợ trong thời gian tới Việt Nam
hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, đòi hỏi một lượng vốn lớn cần
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
19
huy động. Các khoản nợ sẽ tăng nhanh và thị trường mua bán nợ hình thành là
một tất yếu khách quan. Điều này đòi hỏi môi trường pháp lí cần hoàn thiện
theo hướng xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ trên thị trường mua bán nợ. Đồng thời cần tăng quyền cho
các tổ chức mua bán nợ.
Xuất phát từ nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước,

Tài chính doanh nghiệp 46B
21
C. KẾT LUẬN

Cần phải khẳng định lại rằng cải cách khu vực ngân hàng thương mại là
một trong những chủ trương cải cách hàng đầu mà chính phủ luôn đuổi với
mục tiêu là từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Mặc dù còn
nhiều khó khăn, thách thức cần phải xử lí như vốn, trình độ công nghiệp, năng
lực đội ngũ cán bộ…. nhưng vấn đề nợ xấulà vấn đề cấp bách bên trong cần
xử lí khi gia nhập WTO. Hy vọng một số thực trạng trên đã cho thấy phần nào
về tình hình nợ xấu ở hệ thống ngân hàng thương mại và một số giải pháp
khắc phục. Và cần phải nhìn nhận lại nguyên nhân của nợ xấu khi mà tận gốc
của nó không giải quyết được triệt để thì tình trạng nợ xấu vẫn còn tồn tại và
luôn là tình trạng chung của nhiều vấn đề hiện nay ở Việt Nam. Mong rằng
khi hội nhập, chúng ta còn xem xét lại bản chất của vấn đề cần xem xét, để
nền kinh tế của chúng ta ngày càng tăng trưởng cao và bền vững.

Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tài chính doanh nghiệp 46B
22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Kinh tế Việt Nam trên đường hội nhập
2. Cẩm nang quản lý tín dụng ngân hàng
3. Ngân hàng Thương mại
4. Tạp chí công nghệ ngân hàng, số 14, 24, (2006), 4 (2005)
5. Tạp chí ngân hàng số 11 (2006)
6. Trang web www.kiemtoan.com
www.taichinhviet.com
www.mof.gov.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status