Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ: Huy động vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 20



Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Huy động vốn của các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong những năm
gần đây

Nguyễn Quốc Huy – Lớp NH 15B -VB2 - Đề án Lý thuyết tài chính tiền
tệ LỜI NÓI ĐẦU

Bất kỳ một nước nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần một
điều kiện không thể thiếu được đó là phải tạo vốn cho nền kinh tế. Việt
Nam cũng nằm trong qui luật đó, hay nói cách khác Việt Nam muốn thực

cô giáo bộ môn, em mạnh dạn nêu ra vấn đề “Huy động vốn của các Ngân
hàng thương mại Việt Nam trong những năm gần đây”.
Trong quá trình viết, do trình độ nhận thức và hiểu biết có hạn nên
bài viết này còn có nhiều những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được
sự giúp đỡ của cô giáo để bài viết này được hoàn thiện hơn.
2

CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, VAI TRÒ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại:
Nghề kinh doanh tiền tệ tiền thân của Ngân Hàng ra đời găn liền với
thương mại, khi có sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng, các quốc gia với
các loại tiền tệ khác nhau gây trở ngại cho việc mua bán thanh toán và đặc
biệt phức tạp trong việc chuyển đổi bảo quản tiền tệ.Vì thế thúc đẩy sự ra
đời của những tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, để đảm nhận những tổ
chức kinh doanh la thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ giữa các vùng các
nước để phục vụ công việc giao lưu hàng hoá. Đổi các loại tiền tệ khác
nhau ra vàng bạc và ngược lại, theo yêu cầu của sự phát triển các quan hệ
tiền tệ hàng hoá. Nghiệp vụ đổi tiền tệ đã kéo theo các nghiệp vụ khác mà
trước hết là nhận tiền gửi, nhận bảo quản vàng bạcđã tạo ra những chuyển
biến về chất trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh tiền tệ.Việc nhận
tiền gửi và bảo quản vàng bặc ngày càng phát triển,tạo điều kiện cho các tổ
chức kinh doanh tiền tệ phát hàng những chứng phiếu (giấy nhận nợ) là
phương tiện thanh toán thay cho tiền. Lúc đầu các giấy nhận nợ chỉ là

Cho đến cuối những năm 1960, đặc điểm đặc thù để phân biệt một
Ngân hàng thương mại với một Ngân hàng trung gian khác là ở chỗ Ngân
hàng thương mại là một đơn vị duy nhất được phép mở tài khoản tiền gửi
không kỳ hạn cho công chúng. Ngân hàng thương mại có thể tồn tại dưới
nhiều dạng sở hữu khác nhau. Ngân hàng thương mại có thể được thành lập
bằng 100% vốn của tư nhân, 100% vốn của Nhà nước hoặc là sự hùn vốn
giữa tư nhân với Nhà nước hoặc với người nước ngoài. Ngân hàng thương
mại gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, qua đó
khẳng định hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bắt đầu tư tín dụng, Ngân
4

hàng thương mại đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng và trở
thành trung gian tài chính lớn nhất.
2. Vai trò của Ngân hàng thương mại:
Với tư cách là một doanh nghiệp, để hoạt động kinh doanh tốt thì
phải có vốn, để có vốn hoạt động thì Ngân hàng thương mại phải tìm cách
để huy động được một số vốn lớn từ các chủ thể kinh tế có vốn nhàn rỗi
trong nền kinh tế để bù lại Ngân hàng thương mại phải trả lại cả vốn và lãi
cho chủ sở hữu khi đến hạn. Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng
thương mại phải đảm bảo trả đúng hạn vốn huy động hoặc đáp ứng phương
thức thanh toán của khách hàng với một món lợi tức hợp lý kèm theo. Còn
với tư cách người cho vay thì Ngân hàng thương mại sử dụng vốn đi thuê
để cho thuê lại, tức là tạm thời bán quyền sử dụng vốn cho người khác và
Ngân hàng thương mại cũng luôn mong muốn khách hàng của mình sử
dụng vốn này có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn và lãi đúng kỳ hạn theo
quy định đã cam kết. Qua đó Ngân hàng thương mại là một trong những
trung gian tài chính lớn nhất, một trong những trung tâm thanh toán của

tài khoản vãng lai để quản lý tài sản của khách hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý là khoản tạm thời nhàn rỗi ở khách
hàng. Họ gửi vào Ngân hàng không mang tính chất của tài khoản tiền gửi
thanh toán, chỉ nhằm mục đích an toàn tài sản cho khách hàng hoạt động vì
mục đích lợi nhuận nên để có lợi nhuận Ngân hàng thương mại phải kinh
doanh và phải kinh doanh có hiệu quả. Hành vi đi vay để cho vay thực chất
là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sử dụng vốn đó cho một chủ
thể thiếu vốn khác trong nền kinh tế.
Trước hết để có vốn hoạt động thì Ngân hàng thương mại phải huy
động vốn bằng cách nhận tiền gửi: Tiền gửi có thể phát hành séc, tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn. Sau đó họ cho vay thế chấp và để
mua các trái khoán Chính phủ, trái khoán của chính quyền địa phương. Huy
động vốn và đầu tư vốn là có quan hệ không thể tách rời, để có nguồn vốn
6

lớn thì các Ngân hàng thương mại phải tìm nhiều biện pháp hữu hiệu thu
nạp một cách nhanh chóng. Sau đó dùng số vốn đó cho vay mà chủ yếu là
cho vay ngắn hạn, đầu tư vốn có hiệu quả hay không sẽ quyết định sự tồn
tại và phát triển của Ngân hàng thương mại.
1.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm :
Nguồn vốn huy động, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn tự dó. Ngoài ra
còn có các nguồn vốn được hình thành trong quá trình hoạt động. Trong đó
mỗi nguồn vốn đều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn
hoạt động của Ngân hàng thương mại.
a. Nguồn vốn huy động:
Nguồn vốn huy động là những phương tiện tiền tệ mà Ngân hàng
huy động được thông qua các hình thức :

và trung hạn, nhưng hiện nay chủ yếu là kỳ hạn ngắn. Tuy vậy do tính chất
tương đối ổn định của nó nên tiền gửi có kỳ hạn thực sự là nguồn vốn quan
trọng đối với Ngân hàng thương mại. Nếu lãi suất hấp dẫn, tiền gửi có kỳ
hạn sẽ có xu hướng phát triển, song nếu lãi suất không hấp dẫn hoặc bị lãi
suất của tín phiếu kho bạc, trong đó có trung hạn sẽ dẫn đến bị biến động
đột ngột làm đảo lộn nguồn vốn của Ngân hàng thương mại và gây khó
khăn không nhỏ cho công tác chi trả của Ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của một cá nhân hay một
gia đình gửi vào Ngân hàng nhằm hưởng lãi suất theo định kỳ. Nguồn vốn
huy động này chủ yếu là tiền gửi của những người tiêu dùng. Các Ngân
hàng thương mại thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình
thức, thời hạn khác nhau:
- Tiền gửi tài khoản không kỳ hạn.
- Tiền gửi tài khoản có kỳ hạn.
2. Nguồn vốn huy động khác:
8

Khi nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động ở các khoản tiền gửi
trên không đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của mình, các Ngân
hàng thương mại được phép huy động vốn của Ngân hàng, đòi hỏi các
Ngân hàng thương mại phải tạo ra một quỹ dự trữ cần thiết.
Bên cạnh việc mở rộng nguồn vốn thì các Ngân hàng thương mại
phải đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh của mình để tránh
được những rủi ro và tổn thất trong việc đầu tư vốn của Ngân hàng thương
mại, rủi ro lãi suất khi có sự chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử
dụng vốn, sự không cân xứng về tài sản có và tài sản nợ xảy ra trong quá
trình hoạt động.

10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN Ở NHTM VIỆT NAM

Trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
đưa nước ta thành một nước có nền kinh tế phát triển mạnh, Nhà nước ta đã
xác định mục tiêu hàng đầu và quan trọng đó là phải có nguồn vốn và trong
số nguồn vốn của NHTM thì số vốn huy động chiếm số lượng lớn, hoạt
động của các NHTM Việt Nam hiện nay về vấn đề huy động vốn đang diễn
ra trong điều kiện khá thuận lợi vì có thị trường chứng khoán ra đời, tiền
nhàn rỗi của dân cư tăng lên Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn
và thử thách. Trong một số năm trở lại đây thì huy động vốn trong nước
của các NHTM có vai trò quyết định và bằng các hình thức huy động
truyền thống như nhận tiền gửi còn có thêm các loại hình huy động mới đó
là huy động bằng ngoại tệ, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
1. Các hình thức huy động vốn trong các NHTM Việt Nam.
Nguồn vốn huy động là số vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn của
các Ngân hàng thương mại, các NHTM Việt Nam đã xây dựng chiến lược
huy động vốn bằng nhiều hình thức: Nhận tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, ngoài
ra còn có các hình thức huy động khác như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
và chứng chỉ tiền gửi có kì hạn.
- Tiền gửi không kì hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào. Ở nhiều nước thì phần lớn các giao dịch thanh toán được
thực hiện bằng séc còn Việt Nam thì tài khoản được thực hiện thường gọi
là tài khoản tiền gửi thanh toán gồm tài khoản thanh toán dùng cho doanh
nghiệp và tài khoản thanh toán cho cá nhân. Hiện nay các Ngân hàng
thương mại trả lãi thanh toán cho loại tiền gửi này (Khoảng 0,1%/tháng)
12
phiếu, trái phiếu và các chứng chỉ tiền gửi có kì hạn để bổ sung nguồn vốn
huy động của mình.
2. Kết quả huy động nguồn vốn của các NHTM nước ta trong các năm
gần đây.
Bằng các hình thức huy động vốn của mình, các NHTM nước ta đã
huy động được một số lượng vốn lớn để đáp ứng cho các nhu cầu hoạt
động kinh doanh của mình. Số lượng vốn huy động ngày một tăng lên
chiếm 60% tổng nguồn vốn. Đây là một số trong số kết quả huy động vốn
là của các Ngân hàng thương mại.
Theo báo cáo của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội
đến hết quí I/2001 tổng nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thương
mại là 58.000 tỷ đồng trong đó nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ chiếm
24.000tỷ đồng (đổi ra VNĐ) chiếm tỷ trọng 41,3% tổng nguồn vốn huy
động và tăng 3,3% so với cuối năm 1990; Qua đó ta thấy việc huy đông
vốn bằng ngoại tệ cũng chiếm phần lớn trong tổng số vốn huy động được.
Ngân hàng công thương Việt Nam có số vốn huy động tăng lên rất
nhanh từ năm 1991 đến năm 1994 nhưng đến 2000 thì tổng số vốn huy
động được đã vượt lên mức chỉ tiêu của 6 tháng năm 1994.
13
MỘT SỐ CHỈ TIÊU CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG 6 THÁNG
ĐẦU 1994.
Chỉ tiêu 1991 1992 1993 6 tháng đầu 1994
Tổng nguồn vốn 4.249 6.273 8.610 10.946
Vốn huy động 2.828 4.126 5.520 7.115

1607
2131
1514
3493
2241
4409
3167
Tỉ lệ vốn huy động so với
nguồn vốn
38% 44% 51% 47%

Trong thời gian này số vốn huy động tăng nhanh mặc dù tỉ lệ vốn
huy động so với tổng nguồn vốn không tăng đều theo các những năm đến
hết năm 2000 thì mặc dù với những khó khăn đặc thù riêng như là lũ lụt
xảy ra và giá một số mặt hàng bị sụt giá và thua lỗ như cà phê, gạo nhưng
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông đã vượt qua khó khăn để
đạt được khá toàn diện với mức tăng trưởng cao vì đến hết năm 2000 thì
tổng nguồn vốn huy động đã đạt 48.000 tỷ, tăng 3,3%.
Từ đầu năm đến ngày 1/11/1999 thì các Ngân hàng thương mại đã
tham gia vào 39 phiên đấu thầu trái phiếu của Ngân hàng Nhà nước. Các
NHTM là những được trúng thầu phần lơn về việc đầu tư nguồn vốn vào
trái phiếu và từ 19/5 đến 15/7/1999 thì việc mua bán trái phiếu của Ngân
hàng thương mại đạt 2. 530 tỷ đồng.
Nhưng từ ngày 15/5/1999 kho bạc Nhà nước dùng việc bán lẻ trái
phiếu ra xã hội, từ ngày 15/7 thì dừng việc phát hành công trái nên dân cư
chỉ còn cách gửi tiền vốn vào Ngân hàng nên nguồn vốn từ tiền gửi của
người dân lại tăng lên.

cửa với vị trí và trách nhiệm của mình các Ngân hàng còn bộc lộ một số
khó khăn tồn tại ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của mình cụ thể.
- Nền kinh tế tài chính chưa thật sự ổn định vững chắc sự mất giá của
đồng tiền trong những năm trước cơn ám ảnh, do đó một bộ phận đáng kể
trong dân chúng chưa yên tâm gửi tiền.
- Các Ngân hàng thương mại còn thiếu những hình thức huy động
vốn hấp dẫn để thu hút khách hàng tham gia.
- Khối lượng tiền nhàn rỗi, chờ đợi để đưa vào hoạt động kinh doanh
hoá được nên khách hàng có thể gửi vào loại không kỳ hạn nhưng lãi suất
tiền gửi lại rất thấp chưa theo kịp chỉ số trước giá nên không có tác dụng
kích thích.
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế gửi tại các Ngân hàng còn phát
triển chậm và có xu thế giảm sự cạnh tranh ngày càng gay gắt.
17
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI:
Đối với nước ta “vốn” là một trong những khó khăn lớn nhất của
quá trình chuyển đổi cơ chế hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước. Bảo
đảm thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội cần đẩy mạnh khai thác mọi
nguồn vốn trong nước theo tinh thần tự lực tự cường kết hợp với hỗ trợ bên
ngoài. Nhằm thực hiện được mục tiêu huy động được nguồn vốn trong
nước hiện nay còn tiềm tàng rất lớn thì các Ngân hàng thương mại cần có
những giải pháp sau:

cách thức huy động tiền gửi không kỳ hạn và các Ngân hàng cần phải mở
các dịch vụ thanh toán bằng vàng để phục vụ và thu hút khách hàng tạo sự
an toàn trong thanh toán.
Thứ hai là: khách hàng cũng có thể gửi vào tài khoản của mình bằng
vàng thật là nhờ Ngân hàng giữ hộ.
Thứ ba là: tài khoản gửi vàng này là không kỳ hạn nên Ngân hàng
Nhà nước phải quản lí như tiền gửi không kì hạn về dự trữ pháp định, lãi
suất tiền gửi, tiền quỹ.
- Huy động vốn bằng vàng có kì hạn: Khách hàng cho phép Ngân
hàng được sử dụng vốn bằng vàng của mình theo kỳ hạn thoả thuận khách
hàng sẽ rút ra khỏi Ngân hàng.
19
Đến kỳ hạn trả khách hàng có thể rút ra theo ba cách đó là: lấy bằng
tiền mặt lấy bằng vàng và chuyển tài khoản tiền gửi bằng vàng không kì
hạn.
Lãi suất tiền gửi sẽ được gửi định tương đương với lãi suất thực
dương cần thiết để kuyến khích người gửi vàng và khi đó nếu có lạm phát
lãi suất tiền gửi vàng sẽ nhỏ hơn lãi suất tiền gửi bình thường.
Các Ngân hàng thương mại phải có những biện pháp phòng chống
rủi ro có thể xảy ra cho Ngân hàng huy động tiền gửi kỳ hạn bằng vàng khi
giá vàng tăng lên mà vẫn phải trả như giá đang hiện hành cả gốc và lãi để
đề phòng các rủi ro thì các Ngân hàng thương mại có thể áp dụng các thủ
thuật mua bán kì hạn hoặc mua bán quyền chọn. Trong đó mua bán kỳ hạn
là khi Ngân hàng nhận một khoản tiền gửi bằng vàng để sử dụng để đề
phòng giá vàng tăng thì Ngân hàng phải mua vào một lượng vàng có trọng
lượng tương đương nhưng mua kì hạn. Còn mua quyền chọn là Ngân hàng
huy động tiềngửi có kỳ hạn có thể mua một quyền chọn mua một lượng

triển kinh tế bảo đảm thực hiện mục tiêu của chiến lược kinh tế xã hội đến
năm 2001 và cả sau này. Xuất phát từ mục đích trên, yếu tố quyết định hoạt
động của Ngân hàng là xây dựng chiến lược huy động nguồn vốn đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế đất nước.
Bài viết này được tập trung nghiên cứu về một số vấn đề huy động
của Ngân hàng thương mại. Từ lí luận bản chất của nguồn vốn là thực trạng
huy động vốn của các Ngân hàng thương mại từ đó có một số biện pháp
trong công tác huy động vốn của các Ngân hàng thương mại.
Đây là một việc hoàn toàn mới mẻ với khả năng của bản thân em nên
bài viết còn gặp nhiều hạn chế về nhận thức và suy nghĩ không tránh khỏi
những sai sót mong được sự chỉ bảo và quan tâm của các cô giáo trong bài
viết này.
22
MỤC LỤC
Lời nói đầu 0
Chương I: Cơ sở lý luận chung 2
I. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại, vai trò của Ngân hàng
thương mại: 2
1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại: 2
2. Vai trò của Ngân hàng thương mại: 4
II. Nội dung hoạt động của Ngân hàng thương mại: 4
1. Nhận tiền gửi: 5
2. Nguồn vốn huy động khác: 7
3. Các nguồn vốn khác: 8
4. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại: 8
Chương II. Thực trạng huy động nguồn vốn ở NHTM Việt Nam 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status