Tiểu Luận
Thực trạng sử dụng
các phương thức
phát hành chứng
khoán tại Việt Nam
Mục lục
1. Phát hành chứng khoán trực tiếp
1.1. Cơ sở pháp lý
1.2. Thực trạng phát hành cổ phiếu trực tiếp
2. Phát hành cổ phiếu thông qua bảo lãnh
2.1. Điều kiện pháp lí
2.2. Các phương thức bảo lãnh
2.3. Thực trạng phát hành
2.4. Ưu nhược điểm
3. Phương thức phát hành bằng đấu thầu
3.1. Phân loại hình thức đấu thầu
3.2. Thực trạng của việc phát hành cổ phiếu bằng đấu thầu
3.2.1. Đấu thầu trái phiếu chính phủ
3.2.2. Đấu thầu trái phiếu và cổ phiếu doanh nghiệp
3.2.2.1. Đấu thầu trái phiếu doanh nghiệp
3.2.2.2. Đấu thầu cổ phiếu doanh nghiệp
3.3. Ưu nhược điểm
4. Một số biện pháp để phát hành chứng khoán hiệu quả hơn
***
Lời mở đầu
Những năm gần đây, ở Việt Nam đang sôi động một loại thị trường : thị trường
chứng khoán. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cơn sốt chứng khoán như hiện nay,
trong đó phải kể đến những món lợi về kinh tế mà nó mang lại cho các nhà đầu tư
và cho chính những nhà phát hành. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường tại Việt Nam, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, nhiều làn sóng kinh doanh
mới đã và đang ùa vào nước ta. Nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh
từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào
bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
2. Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán
từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có
lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các
khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
c) Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ
đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu
công ty thông qua;
d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư
về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư và các điều kiện khác.
3. Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng bao gồm:
a) Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu năm mươi tỷ đồng
Việt Nam;
b) Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào
bán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định của Luật này.
Điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ
1. Điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ bao gồm:
Để chào bán cổ phiếu, tổ chức chào bán cổ phiếu phải đáp ứng đầy đủ các điều
kiện được quy định trong Nghị định, trong đó bao gồm các điều kiện quan trọng
sau:
a, Phải có phương án phát hành và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt
phát hành. Trường hợp là doanh nghiệp cổ phần thì phương án phát hành và
phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt phát hành phải được ĐHĐCĐ thông
1.2. Thực trạng phát hành chứng khoán thông qua phương pháp trực tiếp
Phát hành chứng khoán trực tiếp cũng là một phương thức được nhiều doanh
nghiệp lựa chọn vì nó mang lại những thuận lợi nhất định. Thời gian qua, không ít
doanh nghiệp đã tiến hành phát hành cổ phiếu trực tiếp cho các đối tác chiến lược
như: Bảo Việt, Vinare, Đạm Phú Mỹ… Gần đây, Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Xuất nhập khẩu ViệtNam (Eximbank) đã phát hành thành công 12.890.216 cổ
phiếu cho các đối tác chiến lược nước ngoài.
Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hoàng Anh Gia Lai cho biết,
công ty này có nhiều dự án trung và dài hạn nhưng tìm nguồn vốn từ ngân hàng
không đủ nên buộc phải tự huy động qua kênh khác.
Phó tổng giám đốc một công ty chứng khoán vừa công bố phát hành trái phiếu cho
biết, hiện nay họ rất cần tiền để đầu tư vào cổ phiếu và cung cấp dịch vụ chứng
khoán. Tuy nhiên, do ngân hàng không hào hứng tài trợ cho những nghiệp vụ này
nên họ phải tự phát hành trái phiếu để huy động vốn.
Ông Nguyễn Quang Vinh, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội
(SHS) cho biết, giá của nhiều cổ phiếu đang ở mức hấp dẫn cho đầu tư trung và dài
hạn. SHS phát hành trái phi Những nhân tố trên đã thúc đẩy các công ty chứng
khoán, bất động sản đi tìm vốn từ huy động trái phiếu dù chi phí từ nguồn này
không rẻ hơn so với vay ngân hàng.
Tháng 9/2010 Công ty cổ phần Xây dựng số 12 (Vinaconex No12) đã chào bán
trực tiếp 3 triệu cổ phiếu phổ thông (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu), trong đó 2,7
triệu cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu; 153.000 cổ phiếu chào bán cho
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex); 147.000 cổ
phiếu chào bán cho cán bộ, công nhân viên. Tổng giá trị cổ phiếu chào bán tính
theo mệnh giá là 30 tỷ đồng.
Ngoài Vianconex No12, Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (DVD) tự chào
bán 7,09 triệu cổ phiếu phổ thông (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu), trong đó,
6.550.500 cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu; 539.500 cổ phiếu chào bán cho
cán bộ, công nhân viên. Tổng giá trị cổ phiếu chào bán tính theo mệnh giá là 70,9
tỷ đồng.
việc phát hành 7 triệu cổ phiếu, tăng vốn từ 80 tỷ đồng lên 150 tỷ đồng. Trong đó,
phát hành 4 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ 2:1, với giá 12.000
đồng/CP; phát hành 3 triệu cổ phiếu cho đối tác chiến lược, với giá 15.000
đồng/CP. Mục đích sử dụng vốn của đợt phát hành là đầu tư dự án Khu dân cư
Vĩnh Thanh - Nhơn Trạch - Đồng Nai, dự án đầu tư mở rộng dây chuyền nghiền đỏ
tại Quốc Oai, Hà Nội.
Các công ty chứng khoán cũng không chịu kém khi thi nhau tung ra các đợt phát
hành tương tự. Công ty chứng khoán VNDirect đã tự phát hành 500 tỷ đồng trái
phiếu chuyển đổi; Công ty chứng khoán Thăng Long phát hành 500 tỷ đồng trái
phiếu kỳ hạn 2 năm trả lãi 3 tháng một lần với lãi suất kỳ đầu là 11,7% một năm;
Công ty chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội bán 250 tỷ đồng trái phiếu có kỳ hạn 1
năm với lãi suất 14%.
Bên cạnh việc tự phát hành cổ phiếu, nhiều doanh nghiệp cũng lựa chọn phương
thức phát hành trực tiếp trái phiếu để huy động vốn. Tập đoàn Sông Đà là DN phát
hành TPDN bằng tiền VND đầu tiên trên thị trường vốn nợ VN trong năm 2010,
với tổng giá trị 1.500 tỉ đồng (tương đương 79 triệu USD); Tập đoàn Điện lực Việt
Nam phát hành 2.000 tỉ đồng trái phiếu; TCty cổ phần XNK và Xây dựng VN
(VCG) phát hành 2.000 tỉ đồng; CTCP Long Hậu (LHG) phát hành 200 tỉ đồng trái
phiếu (mệnh giá 1 tỉ đồng) để huy động vốn cho dự án khu dân cư Long Hậu;
CTCP Vincom (VIC) phát hành 1.000 tỉ đồng trái phiếu DN, với kỳ hạn trái phiếu
là 5 năm.
Năm 2010 đánh dấu sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp với nhiều
đợt phát hành thành công, tổng giá trị trong năm đạt 47.000 tỷ đồng, tăng 76% so
với năm 2009. Trong đó, trái phiếu doanh nghiệp của các doanh nghiệp sản xuất,
thương mại và bất động sản chiếm tỷ trọng 55%; các ngân hàng thương mại chiếm
khoảng 45%. Do rủi ro biến động lãi suất cao nên đa phần các đợt phát hành trái
phiếu có cấu trúc lãi suất thả nổi chiếm khoảng 75% và lãi suất cố định 25%.
1.3. Ưu và nhược điểm của phương pháp
Ưu điểm:
Đối với nhà đầu tư, khi tổ chức phát hành chứng khoán trực tiếp, nhà đầu tư
là ngân hàng đầu tư, tập hợp của nhiều nhà đầu tư (gọi là nhóm bao tiêu/bảo lãnh)
chịu chung rủi ro và đảm bảo phân phối thành công số chứng khoán đã được bảo
lãnh phát hành. Như vậy bảo lãnh chính là công việc đầu tiên của các tổ chức đầu
tư trước khi tiến hành phân phối thứ cấp. Nhóm bảo lãnh hoạt động theo thỏa
thuận giữa những người bảo lãnh, gọi là hợp đồng bảo lãnh. Công ty bắt đầu làm
việc với nhà phát hành để hoạch định chi tiết việc phát hành và chuẩn bị tài
liệu đăng ký để nộp cho Nhà nước. Trong suốt thời gian cung ứng, bên
nhận bảo lãnh phải chịu trách nhiệm ổn định giá thị trường cổ phần bằng cách phát
giá trong thị trường mở rộng. Khi cầu giảm, nhóm sẽ chỉ định ra một nhóm
bảo lãnh mua chứng khoán đó trên thị trường nhằm cân bằng và điều chỉnh giá cả.
Thông thường, để phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành cần
phải được sự bảo lãnh phát hành. Nếu số lượng phát hành không lớn thì chỉ cần có
một tổ chức bảo lãnh phát hành. Nếu đó là một công ty lớn và số lượng chứng
khoán phát hành vượt quá khả năng của một tổ chức bảo lãnh thì cần phải có một
tổ hợp bảo lãnh phát hành, bao gồm một hoặc một số tổ chức bảo lãnh chính và
một số tổ chức bảo lãnh phát hành thành viên.
Các tổ chức bảo lãnh phát hành được hưởng một khoản phí bảo lãnh nhất định trên
số tiền thu được từ đợt phát hành. Phí bảo lãnh cao hay thấp là tùy thuộc vào tính
chất của đợt phát hành (lớn hay nhỏ, thuận lợi hay khó khăn). Đối với trái phiếu,
phí bảo lãnh phụ thuộc vào lãi suất trái phiếu (lãi suất trái phiếu thấp thì phí bảo
lãnh phát hành cao và ngược lại).
Tổ chức bảo lãnh phát hành là CTCK được phép hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán và ngân hàng thương mại được UBCK chấp thuận bảo lãnh phát hành
trái phiếu theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định.
Để phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành cần phải thỏa mãn
điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng và được sự bảo lãnh phát hành
(Trường hợp: cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng
thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành) . Nếu số lượng phát hành không lớn thì
chỉ cần có một tổ chức bảo lãnh phát hành Nếu đó là một công ty lớn và số lượng
chứng khoán phát hành vượt quá khả năng của một tổ chức bảo lãnh thì cần phải
hết chứng khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc
chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán
của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP -
Public Offering Price) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP.
Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra
công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp dụng
khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước
phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông
hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ
trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không
muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh
dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành
những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo
phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán
còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng.
Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm
lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh
thông dụng nhất.
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo
lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo
lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để
bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ
chức phát hành phần còn lại.
- Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này, tổ
chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định,
nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.
- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung gian giữa
phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả
hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh
Số hợp
đồng bảo
Giá trị bảo
lãnh (triệu
bảo lãnh (đồng) CtyCK (tỷ
đồng)
lãnh lãnh đồng)
BVSC 5.314 33.500 150 Chắc
chắn
1 178
ACBS 880.000 67.000 250 Chắc
chắn
1 58.960
Cty CK
Thăng Long
108.758
451.000
120 Chắc
chắn
2 49.050
Như vậy, các CtyCK đã thực hiện 4 hợp đồng bảo lãnh phát hành với hình thức bảo
lãnh cam kết chắc chắn. Các hợp đồng bảo lãnh nói trên đã thực hiện theo đúng
quy định hiện hành do giá trị chứng khoán đã được bảo lãnh không vượt quá 50%
vốn điều lệ của CtyCK. Tuy nhiên, số liệu trên cũng cho thấy, trong thời gian gần
đây, có rất ít CtyCK thực hiện việc bảo lãnh phát hành và các công ty chưa chú
trọng đầu tư tìm kiếm khách hàng, đào tạo nhân sự, xây dựng quy trình chuẩ n để
triển khai nghiệp vụ này.
giấy phép hoạt động này. Mãi đến ngày 12/6/2008, ANZ mới được NHNN cấp giấy
phép tiến hành các dịch vụ nêu trên (Quyết định số 1345/QĐ-NHNN) và đến khi
xảy ra tranh chấp giữa ANZ và IFS, ANZ vẫn chưa được UBCK cấp phép chấp
nhận là ngân hàng thương mại đủ điều kiện thực hiện bảo lãnh phát hành trái
phiếu.
Như vậy,qua vụ việc của IFS và ANZ, các DN cần rút ra bài học gì?Các DN tham
gia hoạt động trong TTCK cần tự bảo vệ quyền lợi của mình bằng việc nghiên cứu
kỹ các quy định pháp luật xem mình đã đủ điều kiện hay chưa, đồng thời, phải xem
bên cung cấp dịch vụ có đủ điều kiện hay không. Các bên tham gia phải soát xét kỹ
trước khi có giao kết vì đây là lĩnh vực mới, rất phức tạp và chịu sự kiểm tra ngặt
nghèo của cơ quan quản lý. Bởi trên TTCK, hoạt động hai công ty có liên quan đến
rất nhiều NĐT trên thị trường.
Năm 2009 là năm nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do tác động của khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam đã có dấu hiệu hồi phục, tạo
đà cho các bước tăng trưởng của những năm tiếp theo. Trong năm 2009 hoạt động
của các công ty chứng khoán (CTCK) được thể hiện trên các mặt sau:
Cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, các CTCK đã thực hiện trên 5.000 hợp
đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành. Tính đến cuối năm 2009 đã có gần 80 CTCK
hoạt động có lãi trong năm 2009. Quy mô vốn hoạt động của các CTCK ngày càng
được nâng cao. Tính đến cuối năm 2009, tổng số vốn điều lệ của các CTCK là
24.855 tỷ đồng, tăng 9,4% so với năm 2008
Câu chuyện bảo lãnh phát hành cổ phiếu SCR của CTCP Địa ốc Sài Gòn Thương
Tín (Sacomreal) đã diễn ra được gần 2 năm. Nhưng, dư âm của đợt bảo lãnh "cực
kỳ hiệu quả" này khiến không ít NĐT e ngại, liệu các DN khác có sử dụng tình
huống này để lách luật trong thời gian tới? Trong Bản cáo bạch niêm yết cổ phiếu
SCR có một nội dung được nhiều NĐT chú ý là việc CTCP Chứng khoán Ngân
hàng Sài Gòn Thương Tín (SBS) đã mua 38,088 triệu cổ phần với giá 11.000
đồng/cổ phiếu. Số cổ phần này là hàng "không bán được" trong một đợt chào bán
riêng lẻ cho cổ đông chiến lược với mức giá không thấp hơn 24.559 đồng/cổ phần.
Theo lý giải của Sacomreal thì việc phát hành không thành công là do diễn biến
khoán Việt Nam đã tìm lại được nhịp độ phát triển ổn định hơn, thực hiện chức
năng là kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Hoạt động của các công ty
chứng khoán (CtyCK) cũng có những bước phát triển nhất định trên các mặt như
mạng lưới hoạt động, quy mô vốn, cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp dịch
vụ và chất lượng hoạt động. Sau đây là những điểm nổi bật trong hoạt động của
các CtyCK và trong công tác quản lý giám sát của UBCKNN năm 2010.
2.4. Ưu nhược điểm
Ưu điểm:
Đối với các nhà đầu tư, khi một cổ phiếu mang ra đấu giá được bảo lãnh
phát hành, họ sẽ yên tâm hơn vì đã có người thẩm định giá trị tố thiểu của cổ phiếu
đó. Những cổ phiếu còn thừa sẽ được đơn vị bảo lãnh phát hành mua lại ở mức giá
khởi điểm. như vậy, thị giá của cổ phiếu này ở một góc độ nào đó được xem như
đã bảo chứng.
Đối với công ty phát hành, việc bảo lãnh chỉ nhằm hỗ trợ công ty phát hành
cổ phiếu một cách tốt nhất, tránh trường hợp không bán hết cổ phiếu, chứ không
bảo đảm giá trị cổ phần được đấu giá vì công ty bảo lãnh đã phân tích các trường
hợp rủi ro cho nhà đầu tư trước khi mua. Tuy nhiên, việc hỗ trợ này sẽ đảm bảo
cho việc quảng bá, phát hành và phân phối chứng khoán của công ty thành công, từ
đó đảm bảo khả năng huy động vốn của công ty để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Đối với công ty chứng khoán:
• Các công ty chứng khoán bảo lãnh phát hành sẽ được hưởng một khoản phí
bảo lãnh (hay hoa hồng bảo lãnh) nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát
hành. Phí bảo lãnh phát hành là mức chênh lệch giữa giá abns chứng khoán
cho nhà đầu tư và số tiền tổ chức phát hành nhận được.
Ví dụ: nếu công chúng mua chứng khoán phải trả 20.000 đ một cổ phiếu, trong khi
công ty phát hành nhận 18.000 đ một cổ phiếu thì tiền phí bảo lãnh phát hành là
2.000 đ một cổ phiếu.
Phí bảo lãnh phát hành cao hay thấp là tùy thuộc vào tính chất của đợt phát
hành (lớn hay nhỏ, thuận lợi hay khó khăn). Đối với trái phiếu, phí bảo lãnh
phát hành phụ thuộc vào lãi suất trái phiếu (lãi suất trái phiếu thấp thì chi phí
tư.
Một ví dụ thực tế cho thực trạng này chính là hợp đồng bảo lãnh giữa Ngân hàng
The Australia and New Zealand Banking Group Limited – Chi nhánh Hà Nội
(ANZ) với CTCP Thực phẩm quốc tế Interfood (IFS). Theo hợp đồng ký kết ngày
18/12/2007, ANZ chi nhánh Hà Nội là người quản lý chính và người bảo lãnh duy
nhất liên quan đến hoạt dộng huy động vốn của IFS. Việc huy động vốn bao gồm
chào bán trái phiếu có lãi suất cố định bằng VND với giá trị huy động là 650 tỷ
dồng trong năm 2008. Thời gian phát hành cụ thể sẽ tùy thuộc vào điều kiện thị
trường và khuyến nghị sau cùng từ người quản lý chính. Đồng thời, ANZ Chi
nhánh TP. HCM và IFS còn ký thỏa thuận một khoản vay bắc cầu có tổng hạn mức
18 triệu USD. Công ty cam kết sẽ phát hành trái phiếu bằng VND tương đương tối
thiểu 18 triệu USD, với mức lãi suất được xác định theo điều kiện thị trường do
ANZ tư vấn và xác định nhưng không muộn hơn ngày 30/6/2008 để trả khoản vay
bắc cầu khi đáo hạn. Tuy nhiên, trong năm 2008, do tình hình biến động của thị
trường tài chính và tín dụng, ANZ đã không thực hiện cam kết phát hành trái phiếu
và ngừng cung cấp khoản vay bắc cầu cho IFS làm công ty này buộc phải ngưng
dự án đầu tư tại miền Bắc và chịu lỗ cho các khoản vi phạm hợp đồng. Vụ việc này
đã gây xôn xao dư luận khi IFS khởi kiện ANZ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
trong hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. IFS cho rằng việc phát hành thất bại
không phải do điều kiện thị trường mà do ANZ không đủ năng lực pháp lý và điều
kiện để cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật
. Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đã xử ANZ thắng kiện.
Việt Nam chưa có một cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán để đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp và cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ:
3. Phương pháp chào bán bằng đấu thầu
Đấu thầu là sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư và tổ chức đấu thầu chủ yếu là về giá
chứng khoán.
Đối tượng áp dụng:phương pháp này thường được áp dụng đối với các loại trái
phiếu ,cổ phiếu…
3.1. Phân loại hình thức đấu thầu:
thời tham gia đấu thầu cạnh tranh và không cạnh tranh.
Đối tượng tham gia đấu thầu TPCP là các đối tượng được quy định tại điểm
3, Mục II Thông tư số 55/2000/TT-BTC ngày 09/06/2000 của Bộ Tài chính hướng
dẫn việc đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua thị trường giao dịch chứng khoán tập
trung. Chỉ những đơn vị được công nhận là thành viên đấu thầu mới được tham gia
đấu thầu.
c.Điều kiện tham gia đấu thầu qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung:
- Các công ty chứng khoán;
- Các tổ chức ngân hàng hoạt động tại Việt Nam bao gồm ngân hàng thương mại,
ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác,
ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các loại hình ngân hàng
khác hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.Các công ty tài chính, công ty bảo
hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam.
- Các Tổng công ty Nhà nước thành lập theo Quyết định số 90/TTg và Quyết định
số 91/TTg ngày 07 tháng 3 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ;
- Các đối tượng khác tham gia đấu thầu trái phiếu kho bạc phải đáp ứng các điều
kiện do Bộ Tài chính và ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định.
Các đối tượng trên muốn tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua thị trường
giao dịch chứng khoán tập trung phải bảo đảm các điều kiện sau:
- Có tư cách pháp nhân, được thành lập theo luật pháp hiện hành của Việt Nam;
- Có mức vốn pháp định tối thiểu là 22 tỷ đồng Việt Nam;
- Hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh;
- Có tài khoản tiền đồng Việt Nam mở tại ngân hàng theo quy định của Trung tâm
GDCK, Sở GDCK;
- Có đơn xin tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ gửi đến Trung tâm GDCK, Sở
GDCK.
Hàng năm, Trung tâm GDCK, Sở GDCK xem xét điều kiện của các đối tượng
để cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận thành viên tham gia đấu thầu trái phiếu Chính
phủ.
Thực tế việc phát hành chứng khoán của chính phủ từ năm 2008 tới nay:
Đặc biệt, trong phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước phát
hành, đấu thầu ngày 24/2/2011, khối lượng trúng thầu chỉ đạt 13,75% tổng khối
lượng gọi thầu (tương đương 825 tỷ/6.000 tỷ). Đợt này Kho bạc Nhà nước chủ yếu
phát hành trái phiếu trung và dài hạn.
Đơt phát hành gần đây nhất ngày 3/3/2011 đã thất bại.Tổng khối lượng trúng thầu
chỉ đạt 145 tỷ đồng,bằng 2,4% khối lượng gọi thầu là 6000 tỷ đồng.
Đấu thầu TPCP ngày 17/3: Chỉ bán được 1% tổng khối lượng gọi thầu. Trước đây,
khi lãi suất chiết khấu còn thấp, nhiều NHTM mua trái phiếu đem cầm cố tại
NHNN với lãi suất 7% rồi mang đi cho vay lại với lãi suất cao hơn trên thị trường
liên ngân hàng. Đến nay, khi lãi suất tái chiết khấu tăng lên 12% đồng nghĩa với
việc kênh đầu tư vào trái phiếu Chính phủ không còn hấp dẫn với các NHTM.
• Tại sao phát hành TPCP qua đấu thầu lại thất bại???
Có thể thấy phát hành TPCP qua đấu thầu đã gặp không ít lần thất bại.Điển hình
như năm 2009,phát hành TPCP 12 lần thất bại liên tiếp.Nguyên nhân chính của
việc thất bại là do mức lãi suất trần quá thấp không thu hút được nhà đầu tư,có đợt
không có lấy nhà đầu tư nào tham gia,hoặc có thể thu hút đuợc nhà đầu tư nhưng
lãi suất mà NĐT yêu cầu lại quá cao so với lãi suất trần.
Chính phủ gặp khó khăn nếu phát hành trái phiếu lãi suất cao vì phải trả một
lượng tiền lãi rất lớn trong tương lai.Phát hành TPCP muốn thành công không phải
việc đơn giản,CP cần cân đối lãi suất so với thị truờng để tạo điều kiện tốt nhất cho
việc huy động vốn nhưng cũng phải đảm bảo không tạo gánh nặng cho NS trong
tương lai. Ông Nguyễn Hòa Bình - tân Chủ tịch Hội đồng quản trị của
Vietcombank nhận định, trái phiếu Chính phủ là loại chứng khoán có độ an toàn
cao nhất; nhưng đầu tư vào loại trái phiếu này chỉ đem lại một mức thu nhập khiêm
tốn:"Theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, muốn kiếm được lợi nhuận cao thì cần
phải chấp nhận rủi ro cao. Thị trường trái phiếu Việt Nam cũng như các nhà đầu tư
cần những loại trái phiếu có độ rủi ro cao hơn vì hứa hẹn những khoản thu nhập
cao hơn.”
Phó chủ tịch UBCK Nhà nước, ông Nguyễn Đoan Hùng cho rằng, về năng lực hệ
thống giao dịch, trái phiếu hiện được niêm yết theo giá và áp dụng nguyên tắc đấu
qua tổ chức bảo lãnh phát hành, thì phương thức chào bán qua đấu thầu luôn được
đánh giá là lựa chọn tốt nhất của đa số doanh nghiệp phát hành chứng khoán.Cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán,hình thức phát hành cổ
phiếu bằng đấu thầu ngày càng được sử dụng nhiều hơn
Điều kiện phát hành CK ra công chúng được quy định tại khoản 1,2 điều 12
luật chứng khoán năm 2006.
3.2.2.1. Thực tế về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Khoảng 2 – 3 năm gần đây, thị trường vốn Việt Nam bắt đầu đón nhận sự nhập
cuộc của trái phiếu doanh nghiệp . Hay nói cách khác, trái phiếu là một công cụ gọi
vốn còn khá mới mẻ, nhiều lợi ích nhưng không dễ sử dụng và không phải doanh
nghiệp nào cũng có thể nắm lấy.
Năm 2008 lác đác 2-3 DN phát hành trái phiếu thì năm 2009 đã có 15 đợt các
DN phát hành trái phiếu với tổng giá trị xấp xỉ 20.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần.
Năm 2009 được coi là năm bùng nổ và thành công của trái phiếu DN về khối
lượng.Năm 2010, khi kinh tế bắt đầu hồi phục, để tài trợ cho các dự án và tăng quy
mô vốn hoạt động trong bối cảnh hệ thống NH không có đủ vốn trung - dài hạn để
đáp ứng, nhiều DN có phương án phát hành trái phiếu và đã thành công.
Theo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, kể từ năm 2009 đến nay đã có
66.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành, trong đó có tới 40.000 tỷ
đồng được tư vấn, thu xếp bởi các Định chế tài chính, phần còn lại chủ yếu là trái
phiếu do các Tổ chức tín dụng trực tiếp phát hành.
Tập đoàn Sông Đà là DN phát hành TPDN bằng tiền VND đầu tiên trên thị
trường vốn nợ VN trong năm 2010, với tổng giá trị 1.500 tỉ đồng (tương đương 79
triệu USD); Tập đoàn Điện lực Việt Nam phát hành 2.000 tỉ đồng trái phiếu; TCty
cổ phần XNK và Xây dựng VN (VCG) phát hành 2.000 tỉ đồng; CTCP Long Hậu
(LHG) phát hành 200 tỉ đồng trái phiếu (mệnh giá 1 tỉ đồng) để huy động vốn cho
dự án khu dân cư Long Hậu; CTCP Vincom (VIC) phát hành 1.000 tỉ đồng trái
phiếu DN, với kỳ hạn trái phiếu là 5 năm
Thực tế cho thấy hình thức huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của các DN
ở VN còn rất mới mẻ và chưa đuợc các DN nghĩ tới nhiều khi cần huy động
nguyên tắc trên, kết hợp với tỷ lệ khống chế trần được phép mua theo quy định.
Thực tế về việc phát hành cổ phiếu bằng hình thức đấu giá
Hoạt động đấu giá cổ phần được thực hiện lần đầu tiên tại trung tâm giao dịch
chứng khoán tp HCM là vào tháng 2-2005. Công ty thực hiện đấu giá cổ phần là
công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk. Phiên đấu giá đã thành công ngoài mong
đợi
Đầu tháng 3/2005 phiên đấu giá cổ phiếu đầu tiên tại trung tâm giao dịch chứng
khoán HN được khai trương .Đó là phiên đấu giá cổ phiếu của nhà máy Thiết bị
Bưu điện (Tổng công ty Bưu chính Viễn thông gần 152.000 cổ phiếu với tổng trị
giá trên 24 tỉ đồng đã được bán hết veo ngay trong phiên đấu giá đầu tiên ở Hà
Nội. Tính trung bình, cổ phiếu đã được mua cao gấp 1.6 lần so với giá khởi điểm.
Từ năm 2005 tới năm 2007,các cuộc đấu giá cổ phần phát triển hết sức nhanh
chóng.thị trường đấu giá cổ phần được đánh giá là hết sức côi động.Ngày càng có
nhiều DN phát hành cổ phiếu của mình bằng hình thức đấu giá.Các phiên đấu giá
thu hút rất nhiều nhà đầu tư ,và thường gây hiện tượng quá tải .các nhà đầu tư phải
xếp hang dài để đăng ký tham gia.
Sang năm 2008 ,thị trường bắt đầu có dấu hiệu không mấy khả quan thể hiện ở
việc 1 loạt các cuộc đấu giá thất bại như cuộc đấu giá 3,2 triệu cổ phần của công ty
Hoàng Long Long An ,công ty Thiên Long ,công ty SABECO.Diễn biến trên thị
trường CK cho thấy huy động vốn trong năm 2008 không còn quá dễ dàng đối với
DN.lý doi của tình trang trên có thể giải thích rằng đó là do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến việc hạn chế nguồn vốn của nhà đầu tư nước
ngoài,hơn nữa thị trường CK thứ cấp ảm đạm cũng khiến các nhà đầu tư e dè hơn
trong việc đầu tư CK.
Nhưng tới cuối năm 2008,và trong năm 2009 khi nền kinh tế bắt đầu hồi
phục,các cuộc đấu giá CK bắt đầu sôi động trở lại. Thang 12-2009 Cùng với sự sôi
động của thị trường tập trung, các phiên đấu giá gần đây cũng dần thu hút thêm
nhà đầu tư. Tuy chưa có cảnh phải chen chân như đầu năm nay, song một số cuộc,
lượng cổ phần đăng ký mua cao gấp hàng chục lần so với chào bán.
Năm 2010,tình hình đấu giá đến nay khá ảm đạm. Theo số liệu tổng kết từ Ủy
chứng khoán thông qua phương pháp này
• Thủ tục pháp lý rườm rà,phức tạp .
Để huy động vốn trên thị trường chứng khoán các doanh nghiệp phải thực
hiện những thủ tục phức tạp hơn nhiều so với thủ tục xin vay tại các tổ chức
tín dụng, chẳng hạn, các doanh nghiệp phải xây dựng bản cáo bạch để công
khai hoá tài chính, phương án kinh doanh hơn nữa, nhiêu doanh nghiệp
không muốn tiết lộ những thông tin quan trọng cho đối thủ cạnh tranh nên
không mặn mà với hình thức huy động vốn trên thị trường chứng khoán.
4. Các biện pháp để phát hành chứng khoán có hiệu qủa hơn trong thời gian
tới
Theo số liệu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK), năm 2010 huy động
vốn qua TTCK đạt 114.000 tỷ đồng, trong đó 83.000 tỷ đồng huy động từ phát
hành cổ phiếu, còn lại là trái phiếu và các hình thức khác. Nguồn vốn huy động
qua TTCK bằng 1/4 tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Bên cạnh nguồn vốn
huy động tăng, các DN cũng tích cực lên niêm yết, với số tăng thêm là 261 DN.
Ông Trần Văn Dũng, Giám đốc Sở GDCK Hà Nội cho rằng, việc các DN gia
tăng huy động vốn qua TTCK cho thấy vai trò của thị trường ngày càng quan
trọng. Tuy nhiên, nếu năm 2011 mặt bằng lãi suất ngân hàng không được giảm
xuống mức hợp lý thì DN sản xuất sẽ gặp khó khăn, các DN tiếp tục phát hành
nhiều hơn, tạo ra sức ép lớn về nguồn cung trên thị trường.
Theo ông Hoàng Đức Long, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - UBCK, huy động vốn
thông qua TTCK thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên,
do DN phát hành quá nhiều dẫn đến hiện tượng ”pha loãng” cổ phiếu, thị
trường trầm lắng, quan hệ cung - cầu mất cân đối. Với hàng trăm đợt phát hành
cổ phiếu (CP) của các doanh nghiệp trên cả nước trong thời gian qua, gồm cả
phát hành lần đầu và phát hành bổ sung, phát hành công khai và phát hành nội
bộ (phát hành riêng lẻ), về cơ bản có thể nói, các hoạt động và các phương án
phát hành CP của các doanh nghiệp đã diễn ra hợp pháp và mang lại hiệu quả
tích cực cho đời sống kinh doanh của doanh nghiệp – tổ chức phát hành nói
riêng, cũng như cho toàn bộ nền kinh tế nói chung. Điều này có thể thấy và