Tiểu luận
Hoạt động thanh tra, giám
sát của NHNN Việt Nam và
tác động tới ổn định hệ
thống tài chính
1
Đề tài:
Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam
và tác động tới ổn định hệ thống tài chính"
Trong thời từ nay đến 2010, nền kinh tế nước ta sẽ phát triển theo hướng
ngày càng hội nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu hoá, do đó, hệ thống
ngân hang Việt Nam cũng đứng trước yêu cầu hội nhập vào cộng đồng tài
chính khu vực và quốc tế. Thật vậy, quá trình hội nhập toàn cầu hoá kéo
theo sự mở rộng hoạt động thương mại và đầu tư kể cả chiều rộng và chiều
sâu, vì vậy xuất hiện nhu cầu tài trợ thương mại và phân bổ vốn đầu tư cho
các khhu vực kinh tế tham gia vào thương mại và đầu tư quốc tế, và chính
ngành ngân hang chứ không phải ngành kinh tế nào khác đảm nhận vai trò
này.
Những cam kết quốc tế về lộ trình mở cửa thị truờng tài chính, dịch vụ
để đánh giá, nhận xét và kết luận phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử
lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế
quản lý, tăng cường pháp chế nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp
của các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra chuyên về một ngành nào
đó.Khoản 1, điều 50 luật NHNN Việt Nam quy định: TTNN là thanh tra
nhà nước chuyên ngành về ngân hang, được tổ chức thành hệ thống bộ máy
NHNN. Mục đích của thanh tra ngân hang là nhằm góp phần đảm bảo an
toàn các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi
tiền, phục vụ việc thực thi chính sách tiên tệ quốc gia.
1.2. Đ ối tượng của thanh tra Ngân hàng bao gồm:
3
1.2.1. Tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng:
- Các tổ chức tín dụng nhà nước (bao gồm: Ngân hàng thương
mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng chính sách và
tổ chức tín dụng phi ngân hàng);
- Các tổ chức tín dụng cổ phần của nhà nước và nhân dân (gồm:
Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng phi ngân hàng);
- Các tổ chức tín dụng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt
Nam (gồm: tổ chức tín dụng liên doanh; tổ chức tín dụng phi ngân hàng
100% vốn nước ngoài, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam, văn phòng đại diện của Tổ chức tín dụng nước ngoài đặt tại Việt
Nam);
- Các tổ chức tín dụng hợp tác;
1.2.2. Hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ
chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép.
1.2.3. Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và cá
nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ, tín dụng
và hoạt động ngân hàng.
5
kết hợp hai phương thức này thành công nghệ thanh tra hiện đại nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của thanh tra ngân hang.
2.1. Giám sát từ xa
Giám sát từ xa là quá trình thu thập, xử lý số liệu báo cáo của TCTD;
tiến hành phân tích đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng, lập
các báo cáo và ra các bản khuyến cáo với TCTD nhằm đảm bảo sự tuân thủ
pháp luật của TCTD, cảnh báo sớm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra,
có tác động định hướng cho thanh tra tại chỗ, đảm bảo an toàn cho hoạt
động ngân hang. Phương thức GSTX phụ thuộc vào các yếu tố: khuôn khổ
pháp luật, hệ thống kiểm toán, chế độ hạch toán, kỷ luật thông tin báo cáo,
ở từng nước có vận dụng khác nhau về nội dung, về quy mô của phương
thức này. Song có nét chung sau đây:
+ Việc giám sát được thực hiện tại trụ sở của cơ quan giám sát, không
phải trụ sở của TCTD
+ Dựa vào nguồn thông tin từ chế độ thông tin báo cáo theo quy định, từ
số liệu lịch sử và các nguồn thông tin khác.
+ Xử lý thông tin, phân tích rút ra những nhận xét về thực trạng của
từng TCTD và của cả hệ thống;
+ Việc giám sát đựơc thực hiện liên tục theo các định kỳ ngắn, thường
là hang tháng, hang quý;
+ Các chỉ số phân tích xếp loại đều dựa trên khuôn khổ CAMELS;
+ Các chương trình giám sát đều thực hiện trên mạng máy tính;
+ Giám sát từ xa kết hợp với thanh tra tại chỗ chỉ ra những đơn vị,
những lĩnh vực cần thiết để thanh tra tại chỗ;
Tại Việt Nam công tác GSTX bắt đầu thực hiện từ năm 1991, qua các
năm nghiên cứu củng cố và hoàn thiện chương trình GSTX, ngày
9/11/1999 thống đốc ngân hang nhà nước ban hành quyết định
398/1999/QĐ-NHNN3 về việc ban hành quy chế GSTX đối với các tổ chức
xét các văn bản, thông tin chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, quy chế của
ngành; các báo cáo kế toán, thống kê, các chứng từ, tài liệu, sổ sách, hợp
7
đồng… có liên quan đến hoạt động huy động vốn- sử dụng vốn và công tác
kế toán – tài chính của đối tượng được thanh tra.
2.2.1 Mục tiêu của thanh tra tại chỗ
_ Đánh giá tình hình chấp hành chính sách, pháp luật, các chế độ, thể
lệ của ngành ngân hàng.
_ Giúp các tổ chức tín dụng thấy đựơc mặt tích cực, những mặt hạn
chế còn tồn tại để tiếp tục phát huy những mặt tích cực, khắc phục những
tồn tại và kiến nghị những biện pháp chấn chỉnh, bảo đảm TCTD hoạt động
đúng chính sách, pháp luật chế độ, thể lệ và hoạt động có hiệu quả hơn.
_ Phát hiện những vấn đề mới phát sinh, những quy định chưa hợp lý
để kiến nghị sủa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo quy định hiện hành.
Nội dung của thanh tra tại chỗ
_ Thanh tra nguồn vốn;
_ Thanh tra chất lưọng tín dụng;
_ Thanh tra nghiệp vụ bảo lãnh;
_ Thanh tra hoạt động kinh doanh ngoại tệ;
_ Thanh tra hùn vốn liên doanh;
_ Thanh tra nghiệp vụ tài chính, kế toán…
Ở Việt Nam hoạt động thanh tra tại chỗ của NHNN đối với NHTM
thực sự được chú trọng từ khi pháp lệnh thanh tra và pháp lệnh ngân hang
ra đời. Trong điều kiện các phương tiện và việc xây dựng các tiêu chí cho
việc giám sát từ xa còn bị hạn chế, các NHTM chưa xây dựng cho mình
được một hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì phương thức
thanh tra, kiểm tra tại chỗ vẫn có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sai
phạm va ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hang.
vốn pháp định
(2) _ Chất lượng hoạt động: Mức điểm tối đa 35 điểm.
_ Chất lượngtín dụng: Mức điểm tối đa 25 điểm, tối thiểu 0 điểm.
9
MHTMCP đạt tối đa 25 điểm về chỉ tiêu chất lượng tín dụng phải đảm bảo:
+ Tỷ lệ giữa tổng các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ nhỏ hơn
hoặc bằng 2.
+ Không có nợ khó đòi hoặc nợ khó đòi ròng nhỏ hơn hoặc bằng 0.
_ Chất lượng bảo lãnh: Mức điểm tối đa 5 điểm, tối thiểu 0.
NHTMCP đạt điểm tối đa 5 về chỉ tiêu chất lưọng bảo lãnh phải
đảm bảo không có nợ bảo lãnh quá hạn.
(3) _ Quản trị, kiểm soát, điều hành: Mức tối đa 15 điểm, tối thiểu 0
điểm.
NHTMCP đạt tối đa 15 điểm phải đảm bảo các điều kiện sau:
_ Thành viên hội đồng quản tri, kiểm soát viên đủ số lưọng theo
quy định; ban hành vả thực hiện tốt các quy chế nội bộ;
_ Hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ tương xứng với quy mô
ngân hang và hoạt động hiệu quả, đảm bảo các rủi ro quan trọng luôn được
nhận dạng, đo lường, kiểm tra, kiểm soát một cách liên tục;
_ Các thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành có
năng lực đoàn kết, có ý thức chấp hành pháp luật, có trách nhiệm, thực hiện
đúng nhiệm vụ, quyền hạn trong việc quản trị, kiểm soát điều hành
NHTMCP.
(4) _ Kết quả kinh doanh: Tổng số điểm 20
Kết quả kinh doanh: Tối đa 15 với điều kiện có lãi trước thuế so
với vốn chủ sở hữu( bao gồm vốn điều lệ và các quỹ) đạt tư 20% trở lên.
Tỷ lệ thu dịch vụ trong tổng thu nhập đạt 40% trở lên đạt 5 điểm.
(5) _ Khả năng thanh khoản: Mức điểm tối đa 15 điểm, tối thiểu -6
điểm
đặc biệt nếu kế hoạch chấn chỉnh không có hiệu quả, tình hình tài chính
tiếp tục sấu
- Thu hồi giấy phép hoạt động theo luật định và các giải pháp sau khi
thu hồi giấy phép
3. Thực trạng hệ thống thanh tra ngân hang ở Việt Nam hiện nay
11
3.1. Về tổ chức thanh tra
Cũng như cơ quan giám sát ngân hang các nước, thanh tra Việt
Nam có nhiệm vụ cư bản là đảm bảo các tổ chức tín dụng chịu sự giám sát
tuân thủ các quy định của pháp luật, hạn chế rủi ro trong hệ thống các tổ
chức tín dụng, bảo vệ người gửi tiền góp phần ổn định và phát triển nền
kinh tế quốc dân
Hệ thống thanh tra ngân hang đang được tổ chức theo hai cấp:
Thanh tra NHNN và thanh tra NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương. Thanh tra chi nhánh chịu sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của
tránh thanh tra NHNN, đồng thời chỉ đạo của giám đốc chi nhánh NHNN
trong phạm vi trách nhiệm quản lý của chi nhánh NHNN.
Với mô hình tổ chức hai cấp như vậy. Thanh tra chi nhánh NHNN bị
hạn chế về tính độc lập, bởi họ còn chịu sự chỉ đạo của giám đốc chi nhánh
NHNN, trong khi về nguyên tắc, tính độc lập của TTNH càng được đảm
bảo thì hiệu quả giám sát càng cao.
Về nhân lực, thanh tra viên ngân hang chiếm cố lượng khá đông, tất cả
đều có trình độ đại học chở lên, được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ thanh tra
nhưng để hội nhập quốc tế trong thời gian này thì nhữn gì thanh tra viên đã
được đào tạo là chưa đủ đòi hỏi phải được đào tạo liên tục, được tiếp cận
với kiến thức ngân hang hiện đại thì mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm
vụ trong tương lai.
3.2 Về phương pháp thanh tra
chỉ tiêu
làm chuẩn mực trong đánh giá xếp loại TCTD.Có thế nói, hoạt
động GSTX chưa thực hiện được nhiệm vụ quan trọng nhất
Theo chuẩn mực quốc tế là đánh giá rủi ro và đưa cảnh báo rủi ro
sớm.
3.2.2. Thực trạng thanh tra tại chỗ
13
* Công tác thanh tra tại chỗ của ngân hang nhà nước được thực hiện
bởi năm phòng thanh tra tại chỗ, các tổ chức tín dụng được phân chia thành
năm nhóm theo hình thức sở hữu và đựơc phân công cho mỗi phòng thực
hiện chức năng thanh tra tại chỗ. Nói chung các phòng thanh tra tại chỗ tại
thanh tra NHNN thực hiện việc thanh tra trực tiếp đối với hội sở chính của
các TCTD, TCTD nước ngoài và liên doanh. Thanh tra chi nhánh ngân
hang nhà nước thực hiện việc thanh tra tại chỗ với các tổ chức tín dụng và
các TCTD trên địc bàn.
Về nguyên tắc giám sát tư xa cũng như thanh tra tại chỗ cần được thực
hiện với các TCTD trên cơ sở tổng hợp, nghĩa là chỉ cần giám sát đối với
hội sở chính của TCTD mà không nhất thiết phải giám sát với các chi
nhánh của TCTD, bởi các chi nhánh của TCTD không hạch toán độc lập,
mọi chỉ tiêu cầc giám sát chỉ mang đầy đủ ý nghĩa khi chúng được tổng hợp
tại hội sở chính. Vì vậy việc GSTX với các chi nhánh của TCTD tại các
tỉnh thành phố không đem lại hiệu quả còn gây tốn kém. Và việc thanh tra
tại chỗ với chi nhánh các TCTD cũng không đem lạ bức tranh toàn cảnh
của TCTD, việc đánh giá một chi nhánh trong khi TCTD có rất nhiều chi
nhánh không đem lại nhiều ý nghĩa, tuy nhiên đây là vấn đềmang tính đặc
thù của Việt Nam, nhất là đối với các TCTD nhà nứơc, đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu kỹ lưỡng để đưa ra phương án cải cách.
hay còn gọi là thanh tra kiểm tra quy trình) là chính, kết hợp với phương
pháp thanh tra cụ thể để đem lại hiệu quả tôt nhất.
3.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trên
Do chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu giám sát theo các chuẩn mực
quốc tế hệ thống các chỉ tiêu giám sát còn thiếu và chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế, công nghệ thông tin còn chắp vá, lạc hậu chưa đáp ứng được
nhu cầu giữa bộ phận GSTX và TTTC, chưa tiến hành đánh giá xếp hạnh
các TCTD theo tiêu chuẩn quốc tế CAMELS.
Trình độ cũng như sự phát triển của các TCTD nội địa chưa đáp ứng được
các chuẩn mực quốc tế. Hệ thống tài khoản kế toán mà các TCTD nước ta
đang áp dụng chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Trình độ cán bộ thanh tra
15
vẫn còn bất cập, chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức và điều kiện theo
tiêu chuẩn thanh tra viên quốc tế; các quy định liên quan đến thanh tra ngân
hàng vẫn chưa được bổ sung điều chỉnh kịp thời.
Tính độc lập của thanh tra NHNN còn hạn chế. Thanh tra NHNN chịu sự
can thiệp của thanh tra nhà nước. Hiện tượng chống chéo và kém hiệu quả
của thanh tra còn phổ biến, thanh tra chi nhánh NHNN vừa chịu sự điều
hành trực tiếp của giám đốc chi nhánh vừa phải tổ chức thực hiện kế hoạch
thanh tra hàng năm của thanh tra NHNN do thống đốc NHNN phê duyệt,
chánh thanh tra NHNN triển khai.
Cùng thực hiện chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của các TCTD
nhưng giữa các đơn vị liên quan( các vụ, cục ở NHTW, các chi nhánh
NHNN…) chưa có sự phối hợp chặt chẽ vừa gây ra tình trạng chồng chéo,
trùng lặp, vừa tạo nên những lĩnh vực bị bỏ sót trong thanh tra giám sát. Do
đó, không thể tránh khỏi tình trạng đùn đẩy trách nhiệm của các bộ phận
liên quan còn có trường hợp vi phạm không bị kiểm tra, phát hiện xử lý kịp
thời.
_ Nâng cao tính độc lập của thanh tra ngân hàng: làm thế nào để
nâng cao tính độc lập của thanh tra ngân hàng là một vấn đề quan trọng,
với định hướng tổ chức lại hệ thống NHNN gọn nhẹ hơn theo khu vực có
thể giảm bớt tốn kém trong GSTX, thanh tra chi nhánh NHNN không thực
hiện công tác GSTX mà nhiệm vụ này chỉ để thanh tra NHNN thực hiện
đối với hội sở chính của các TCTD. Đồng thời, nên tổ chức hệ thống thanh
tra NH theo ngành dọc, chỉ chịu sự chỉ đạo cả về mặt nghiệp vụ và tổ chức
của thanh tra NHNN.
_ Sắp xếp lại chức năng thanh tra tại chỗ: hiện tại, các phòng thanh
tra thực hiện thanh tra theo các nhóm TCTD, được phân theo hình thức sở
hữu. Được biết để thực hiện theo các quy định mới của Basel 2, thanh tra
NH tại Đức thực hiện phân khối thanh tra tại chỗ thành các khối thanh tra
theo loại hình rủi ro (khối rủi ro tín dụng, khối rủi ro thị trường, khối rủi ro
tác nghiệp). Như vậy, tính chuyên môn hoá của thanh tra tại chỗ được nâng
17
cao. Đây cũng là 1 gợi ý thanh tra NHVN nên xem xét, nhất là khi tiến tới
áp dụng các chuẩn mực của Basel 2.
_ Cho phép thanh tra NH được uỷ nhiệm một số công việc cho kiểm
toán độc lập: với nhân lực có hạn trong khi khối lượng thanh tra của NH
ngày càng nhiều, cần có quy định thanh tra NH được uỷ nhiệm một số công
việc của mình cho kiểm toán độc lập như ở một số nước phát triển, tất
nhiên một khi kiểm toán độc lập đạt được chuẩn mực nhất định.
4.2. Về phương thức thanh tra:
4.2.1. Đối với GSTX:
Đối vơí GSTX, nâng cao hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho
công tác giám sát là hết sức quan trọng, có như vậy hệ thống GSTX mới có
được tính kịp thời. Bên cạnh đó, chúng ta tiến tới việc hoàn thiện các chỉ
tiêu giám sát theo tiêu chuẩn Basel 1.
các đoàn thanh tra tại các TCTD ở nước ngoài để tiếp thu trực tiếp phương
pháp thanh tra cách làm việc, các tiêu chuẩn đánh giá các TCTD… tiên tiến
của họ.
4.4. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra
ngân hàng cũng như các quy định về hoạt động ngân hàng đạt chuẩn
mực quốc tế
Luật thanh tra mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2004 với một
số điểm mới so với pháp lệnh thanh tra cũ, vì vậy cần sớm ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật cho hệ thống thanh tra ngân hàng phù hợp với
luật thanh tra.
Là thanh tra chuyên ngành thanh tra ngân hàng Việt Nam chỉ có thể
làm tốt chức năng của mình một khi ngành ngân hàng có đủ các quy định
về hoạt động của các TCTD đạt tiêu chuẩn quốc tế. Được biết quốc hội đã
giao cho uỷ ban khoa học công nghệ và môi trường soạn thảo luật giao dịch
điện tử. Khi luật này được ban hành cần có văn bản quy định cũng như
hướng dẫn để thanh tra ngân hàng có thể kiểm tra được loại hình giao dịch
này.
19
4.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong thanh tra ngân hàng
Thanh tra ngân hàng Việt Nam cũng không có mối quan hệ để trao
đổi thông tin với cơ quan giám sát ngân hàng của các nước có chi nhánh
ngân hàng tại Việt Nam cũng như Hội sở chính của các ngân hàng mẹ,
trong khi đấy cũng là một tiêu chuẩn của Basel 1. Vì vậy cần có quy định
về vấn đề trao đổi thông tin và hợp tác với các cơ quan giám sát ngân hàng
các nước và hội sở chính của các ngân hàng mẹ, và cũng cần có quy định
về trao đổi thông tin phối kết hợp với cơ quan thanh tra giám sát của bảo
hiểm, thị trường chứng khoán nội địa…
Cần tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc trao đổi