Cách điều trị suy thận mạn – Phần 1 - Pdf 20

Cách điều trị suy thận mạn – Phần 1 Suy thận mạn là tình trạng diễn tiến suy chức năng thận rất chậm. Nguyên
nhân gây bệnh thường là do tiểu đường, cao huyết áp hoặc viêm cầu thận
cấp. Cần kiểm soát huyết áp, đường huyết và chế độ ăn hạn chế đạm để
khống chế bệnh.
Các triệu chứng lâm sàng:
ban đầu người bệnh có dấu hiệu mệt mỏi, giảm năng lực, mất ngủ, sau đó là
chán ăn, buồn nôn, nôn ói Để lâu sẽ dẫn đến các triệu chứng tim mạch như
viêm màng ngoài tim, suy tim, sung huyết và cao huyết áp. Đồng thời, người
bệnh sẽ bị thiếu máu và dễ đông máu, thần kinh mỏi mệt, mất tập trung, mất
ngủ, lú lẫn bị hôn mê. Bệnh còn dẫn đến những thay đổi về nội tiết như giảm
testosterone, ít tinh trùng, vô sinh, rối loạn cương và đồng thời gây loãng
xương, gãy xương bệnh lý.
Nguyên nhân gây suy thận mạn:
gồm các bệnh gây tổn thương thận như: cao huyết áp, suy tim, hội chứng tắc
nghẽn sau thận kéo dài, dị dạng hệ niệu, các bệnh lý tại thận như viêm vi cầu
thận mãn, bệnh lý mạch máu thận và đái tháo đường.
Cách điều trị suy thận mạn:
Nội khoa:
- Cần cải thiện các triệu chứng của suy thận mạn như buồn nôn, rối loạn tiêu
hóa, thiếu máu , kiểm soát huyết áp, đường huyết, và chế độ ăn hạn chế
đạm.
- Cần loại bỏ chất độc thận bằng cách:
Lọc máu ngoài thận:
Tất cả bệnh nhân được kết luận là suy thận mạn giai đoạn cuối, với hội
chứng Urê huyết cao và độ thanh thải Creatinin<10ml/phút đều phải được
chỉ định lọc máu ngoài thận.
Ngoài ra, chỉ định lọc máu ngoài thận còn có thể áp dụng cho những trường
hợp cấp cứu như:

này đã có mặt ở nước ta, nhưng ghép thận được cho là có lợi hơn vì
mang lại chất lượng sống, khả năng lao động và tái hòa nhập cuộc sống
cao hơn.
Sắp tới, khi Quốc hội và Nhà nước thông qua luật cho tạng và chết não,
ngành ghép thận chắc chắn sẽ phát triển, mang lại cơ may cứu sống cho
nhiều người, đặc biệt là bệnh nhân nghèo
Năm 2001, trong một lần đưa vợ đi khám bệnh, anh C.Q.K, sinh năm 1971,
ngụ tại phường 10, quận Gò Vấp - TPHCM xin bác sĩ cho siêu âm và tình cờ
phát hiện mình bị u nang nước ở thận. Cho rằng không hề gì, anh không đi
điều trị. Năm 2003, anh bắt đầu thấy mệt mỏi, người sưng phù, tăng cân cả
chục ký. Đi khám bệnh, bác sĩ cho biết anh đã bị suy thận mạn (STM) giai
đoạn cuối và phải chạy thận nhân tạo (lọc máu). Sau hơn 2 năm chạy thận,
tốn kém cả trăm triệu đồng, anh quyết định đăng ký xin ghép thận tại Bệnh
viện (BV) Chợ Rẫy. Tháng 4-2005, anh K. được mổ ghép thận từ người cho
thận là em ruột. Ca mổ thành công, đây cũng là ca ghép thận thứ 100 tại BV
này trong số 154 ca ghép thận trong cả nước tính đến nay.
2 nguy cơ gây STM: Tiểu đường và cao huyết áp
TS-BS Trần Ngọc Sinh, Trưởng Khoa Tiết niệu BV Chợ Rẫy, cho biết
nguyên nhân chính gây STM ở các nước phương Tây là tiểu đường, cao
huyết áp, viêm cầu thận, sỏi thận, thận đa nang. Với lối sống và ăn uống
giống phương Tây đang phổ biến ở nhiều người – ít vận động, ăn uống thừa
năng lượng – chắc chắn số người STM ở nước ta trong những năm tới sẽ
tăng cao. Khi đến giai đoạn suy và mất bù, thận không còn làm việc bình
thường được, khiến cơ thể mất cân bằng nước, điện giải; ứ đọng độc chất
trong người; xáo trộn chuyển hóa và hệ thống tạo máu. Lúc này bệnh nhân
sẽ bị phù và tăng cân, cao huyết áp, tiểu ít, tiểu đạm, thiếu máu, lở loét
miệng, xuất huyết tiêu hóa, suy tim, nhức đầu, mỏi mệt, chóng mặt, hôn
mê Nếu không được điều trị kịp, bệnh nhân sẽ tử vong.
Đề phòng STM: Kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm
TS-BS Vũ Huy Trụ, giảng viên Bộ môn Nhi Đại học Y Dược TPHCM, cho

nhân điều trị nội trú, khoảng 40%".
Theo TS Dung, khi suy thận tiến triển đến giai đoạn cuối thì bệnh nhân cần
được điều trị thay thế bằng ghép thận hoặc lọc máu. Lọc máu là phương
pháp được lựa chọn nhiều vì ghép thận không phải lúc nào cũng thuận lợi
như tìm được người cho thận…
Với phương pháp lọc máu, bệnh nhân có thể lựa chọn chạy thận nhân tạo,
lọc màng bụng liên tục ngoại trú. Tuy nhiên, chạy thận nhân tạo chỉ thực
hiện được tại các cơ sở y tế có điều kiện còn lọc màng bụng có thể thực hiện
ngay tại nhà người bệnh. Do vậy giảm đáng kể tình trạng quá tải ở bệnh
viện, cũng như chi phí nằm viện, sinh hoạt, chăm nom.
“Đây cũng là điểm thuận lợi của lọc màng bụng mà nhiều bệnh nhân các
tỉnh xa cơ sở chạy thận nhân tạo chọn lựa. Thay vì phải thuê nhà trọ rồi cách
ngày đi chạy thận nhân tạo một lần, bệnh nhân sau khi được hướng dẫn lọc
màng bụng có thể về nhà, tự thao tác lấy mỗi ngày. Phương pháp này không
ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, làm việc của người bệnh”, TS Dung nhấn
mạnh.
Vì trong cách lọc máu này, màng bụng như một máy chạy thận nhân tạo
nhưng thay vì dùng màng lọc nhân tạo thì màng bụng (lớp mỏng lót mặt
trong ổ bụng) được sử dụng để lọc các chất độc và điều chỉnh nước - điện
giải và thăng bằng kiềm - toan cho cơ thể.
Với phương pháp này máu sẽ được lọc liên tục trong ngày, không cần đến
bệnh viện và việc ăn uống cũng tự do hơn so với chạy thận nhân tạo.
Lọc máu bằng phương pháp này, người bệnh mỗi tháng chỉ phải đến bệnh
viện một lần để kiểm tra và lấy dịch. Hơn nữa, ngoài thời gian lọc, người
bệnh vẫn có thể lao động, sinh hoạt như bình thường nên không ảnh hưởng
nhiều tới chất lượng sống cũng như công việc.
Đơn giản, dễ thực hiện
Sau khi đến bệnh viện để đặt ống catheter tại vùng bụng - là đường dẫn đưa
dịch lọc vào ổ bụng. Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn thao tác tại bệnh viện,
khi thành thục sẽ được xuất viện, điều trị ngoại trú.

Hồng Hải
BỂ THẬN VIÊM MẠN
Tự tham khảo cách chữa:
Là bệnh phổ biến nhất trong các loại bệnh Thận. Đây cũng là bệnh nhiễm
khuẩn thường gặp ở mọi lứa tuổi sau khi bị viêm phổi.
Bể Thận – Thận viêm thường bị cả hai bên, ít khi bị một bên nhưng mức độ
tổn thương ở hai bên khác nhau, có khi một bên thận bị xơ, teo, bên kia vẫn
hoạt động bình thường. Là một quá trình viêm mạn thành từng ổ: bên cạnh ổ
mới, có những ổ cũ bị xơ hóa xâm lấn vào tổ chức thận. Rõ nét nhất là sự
xâm lấn vào tế bào, lympho bào và tổ chức kẽ của thận, gây xơ hóa tổ chức
kẽ của thận và tổ chức xơ xâm lấn chèn ép làm đảo lộn cấu trúc thận.
Đông y xếp vào loại ‘Lao Lâm’, ‘Yêu Thống’, ‘Hư Tổn’.
Nguyên nhân
Theo Đông y, Thận và bàng quang có quan hệ biểu lý với nhau, nếu tạng bị
hư tổn thì phủ cũng bị ảnh hưởng theo và ngược lại. Chứng nhiệt lâm (bể
thận viêm cấp) điều trị lâu ngày không khỏi hoặc do cơ thể vốn bị suy
nhược, thấp nhiệt và tà khí ở trong, ứ huyết tích tụ lại gây nên tiểu nhiều,
tiểu gắt, tiểu buốt, lưng đau. Nếu thấp nhiệt nung nấu lâu ngày sẽ làm hao
tổn tân dịch, làm tổn thương chính khí, trên lâm sàng sẽ xuất hiện dấu hiệu
thận âm bất túc. Nếu Tỳ Thận đều hư sẽ gây nên chính khí suy, tà khí thịnh.
Triệu chứng:
+ Đa số tiến triển âm thầm, triệu chứng rất sơ sài khiến cho người bệnh dễ
bỏ qua.
+ Thỉnh thoảng sốt nhẹ, ngang thắt lưng đau, người mỏi mệt.
+ Thỉnh thoảng tiểu buốt, tiểu gắt, có khi không điều trị cũng khỏi.
+ Khoảng 1/3 số trường hợp thường có kèm các đợt cấp tính, sốt cao, đau
vùng Thận hai bên hoặc một bên, tiểu đục. Triệu chứng giống như trong
trường hợp viêm cấp nhưng chỉ là một đợt cấp trên gốc bệnh viêm mạn.
+ Dấu hiệu tương đối rõ nhất là ba dấu hiệu chính khi xét nghiệm gồm:
. Nước tiểu có vi khuẩn.

nhiều lắm cũng không quá 6 thang đều khỏi. Đạt tỉ lệ 96%.
Thanh Lâm Thang (Hắc Long Giang Trung Y Dược 1991: 3, 16):

Hoàng bá 30
Ngân hoa
60 Hoàng cầm 20
N
gưu tất 12 HEMAX

Thuocbietduoc.com.vn
Sản phẩm Giới thiệu Liên hệ NHÓM THUỐC N11
Tác dụng đối với máu 1 N18 Thuốc đường tiêu hóa 1 N20 Huyết thanh &
Globulin miễn dịch 1
ĐĂNG NHẬP Email: Mật khẩu: Quên mật khẩu Số khách thăm Estore:
7899 Quay lại *Hemax*
Số Đăng ký: VN-0210-06
Dạng bào chế: Bột đông khô pha tiêm-2000IU
Quy cách đóng gói: Hộp 1 lọ + 1 ống dung môi
Giá kê khai: Mua bán thuốc> Nhóm Dược lý:
Thuốc tác dụng đối với máu
THÀNH PHẦN: Erythropoietin alfa Người tái tổ hợp
+ Phần thông tin tham khảo
+ + Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ
+ Chỉ định:
- Điều trị thiếu máu liên quan đến bệnh nhân suy thận mãn bao gồm bệnh
nhân lọc máu (bệnh thận giai đoạn cuối) và bệnh nhân không lọc máu.
Hemax được chỉ định làm tăng và duy trì mức hồng cầu (được biểu hiện

làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn cơ hội hay tử vong. Bệnh nhân ung thư sử dụng
hoá trị liệu: Không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào được báo cáo trong
nhóm bệnh nhân điều trị với r-hu-EPO. Không có bằng chứng nào là r-hu-
EPO có bất kỳ tác động nào trên dòng tế bào ung thư. Hiệu quả chống tăng
sing của r-hu-EPO đang được nghiên cứu. Các thông tin sẵn có chưa dùng
để xác định là các r-hu-EPO bao gồm Hemax có tác dụng trên ung thư và di
căn hay không.
Bệnh nhân phẫu thuật: Bệnh nhân phẫu thuật phải truyền máu cùng nhóm có
sử dụng r-hu-EPO, có nguy cơ cao hơn huyết khối đã được chỉ ra. Trên một
thử nghiệm có kiểm soát, nhóm bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình sử dụng r-
hu-EPO có nguy cơ cao hơn huyết khối tĩnh mạch sâu so với nhóm sử dụng
giả dược. Phần trăm bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu, tuy nhiên, cũng
chỉ nằm trong khoảng đối với loại phẫu thuật này. Trên một nghiên cứu phẫu
thuật tim, 23% bệnh nhân điều trị với r-hu-EPO và 29 bệnh nhân dùng giả
dược có tai biến mạch máu hoặc huyết khối, 4 trường hợp tử vong trong
nhóm sử dụng r-hu-EPO, có liên quan đến tai biến thiếu máu. Sự liên quan
của r-hu-EPO không thể được loại trừ.
- Thông báo ngay cho bác sỹ nếu có tác dụng phụ. Không dùng thuốc khi đã
quá hạn sử dụng
Chú ý đề phòng:
- Cảnh báo: Các bệnh nhân suy thận mãn:
a. Cao huyết áp động mạch: Hơn 80% bệnh nhân lọc máu có tiền sử cao
huyết áp động mạch. Khi bắt đầu điều trị với r-hu-EPO, áp lực động mạch
cần phải được kiểm soát chặt chẽ và điều trị với r-hu-EPO bị cao huyết áp và
yêu cầu điều trị đầu tiên là trị liệu giảm tăng huyết áp. Có mối quan hệ giữa
tỉ lệ của haematocrit và sự tăng lên của chứng cao huyết áp. Vì vậy, khuyến
cáo rằng khi lượng haematocrit tăng hơn 4 điểm trong bất kỳ thời điểm nào
trong 2 tuần, liều dùng với r-hu-EPO cần giảm xuống.
b. Hiện tượng huyết khối: Sự tăng hiện tượng huyết khối đã được báo cáo ở
bệnh nhân đang lọc máu sử dụng r-hu-EPO. Xuất huyết hiện tượng huyết

thiếu máu Địa trung hải, vv.);
5. Tan máu;
6. Nhiễm độc nhôm;
7. Thiếu hụt vitamin B12 hoặc folic acid;
8. Viêm xương cơ nang. - Khả năng gây ung thư và đột biến: Tính gây ung
thư của Hemax chưa được đánh giá. r-hu-EPO không gây đột biến trong vi
khuẩn cũng như sự khác thường trong các nhiễm sắc thể trong tế bào động
vật có vú.
Phụ nữ mang thai:
Xem thai kỳ nhóm C không có thử nghiệm nào sử dụng Hemax trong quá
trình mang thai, vì vậy sản phẩm này chỉ sử dụng khi lợi ích mang lại vượt
quá nguy co đối với bào thai. Các thí nghiệm trên chuột mang thai, đã quan
sát thấy sự sẩy thai, ở thỏ mang thai điều trị liều 500 IU/kg, không có tác
dụng phụ thuộc nào được quan sát thấy. Cho con bú: Không có bằng chứng
cho thấy Hemax thải loại qua sữa người. Do một số loại thuốc thải loại qua
sữa, nên thận trọng sử dụng Hemax ở phụ nữ cho con bú. Sử dụng trong nhi
khoa: Mặc dù có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng sử dụng Hemax trên trẻ sinh
non cho thấy thuốc sử dụng an toàn và có hiệu quả trong điều trị thiếu máu,
sử dụng an toàn lâu dài với sản phẩm này vẫn chưa được chứng minh.
Theo dõi trong phòng thí nghiệm:
Ngay khi bắt đầu điều trị, haematocrit nên được kiểm tra 2 lần mỗi tuần cho
đến khi đạt giá trị mong muốn (10 – 12 g/dl hoặc 30%-36% tương ứng). Khi
đã đạt được mức này, haematocrit nên được đo tuần 1 lần trong 4 tuần để
khẳng định là haematocrit duy trì ổn định. Ngoài ra, kiểm tra haemotocrit sẽ
được thực hiện đều đặn. Số đếm tiểu cầu, hồng cầu, bạch cầu và
haemoglobin nên được theo dõi đều (mỗi 4 tuần). Tăng nhẹ số đếm tiểu cầu
được báo cáo ở bệnh nhân điều trị bởi Hemax.
Mặc dù những thay đổi này là đáng kể, nhưng cũng không có dấu hiệu đáng
kể nào trên lâm sàng, ở bệnh nhân suy thận mãn, urea, creatinine, potassium,
phosphorous và uric acid nên được theo dõi thường xuyên vì dõi thường

- Liều khởi điểm:
50 U/Kg/liều ba lần một tuần dùng đường tĩnh mạch, 40 U/Kg/liều ba lần
một tuần dùng đường tiêm dưới da.
- Liều điều chỉnh:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status