nghiên cứu xuất huyết do thiếu vitamin k ở trẻ 0 12 tháng và các yếu tố nguy cơ - Pdf 20


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Xuất huyết do thiếu vitamin K là một bệnh nặng, thường gặp ở trẻ lứa tuổi
từ 0 - 12 tháng, có tỷ lệ tử vong cao 18 - 40% hoặc để lại di chứng nặng nề [10],
[21], [22].
Từ những năm 1960, vấn đề tiêm phòng vitamin K cho trẻ sơ sinh đã được
đặt ra ở một số quốc gia phát triển như Mỹ, Đức, Hà Lan [35], [37] và đến thập
niên 80 được khuyến cáo áp dụng trên phạm vi toàn thế giới[35],[37],[40]. Vấn đề
được thống nhất trong nhận định “ Nếu không dùng vitamin K phòng ngừa, trẻ sơ
sinh sẽ có nhiều nguy cơ tử vong hoặc sẽ chịu di chứng nặng nề do các tai biến
xuất huyết não- màng não xảy ra trong 6 tháng đầu sau sinh”[8]. Cho đến nay,
hiệu quả phòng bệnh bằng vitamin K đã được xác nhận. Bệnh hầu như hoàn toàn
biến mất ở các nước có áp dụng chương trình [40], [57].
Ở nước ta xuất huyết não-màng não do thiếu vitamin K ở trẻ từ 0 - 12 tháng
tuổi từ lâu đã là một băn khoăn của các nhà nhi khoa:
-Bệnh thường gặp, dễ chẩn đoán và điều trị, nhưng tỷ lệ tử vong cao hoặc
để lại di chứng nặng nề: Hà Nội có tỷ lệ mắc bệnh 110,5/100.000 trẻ sinh, Hà Tây
124,2/100.00 trẻ sinh. Tỷ lệ này gấp 20 lần tỷ lệ của các nước Đức, Hà Lan gấp và
2 - 4 lần so với Thái Lan [23], [33], [64].
- Nguyên nhân gây thiếu vitamin K và các yếu tố liên quan chưa được rõ
ràng [39], [41], vấn đề phòng bệnh chưa được quan tâm [21], [22]. Cho đến nay
vẫn chưa có văn bản chính thức nào về tiêm phòng vitamin K cho trẻ sơ sinh trong
chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em. Tại một số bệnh viện của tỉnh, Thành phố
tuy có áp dụng phương pháp tiêm phòng nhưng liều lượng không thống nhất,
không theo dõi và không tiến hành đánh giá kết quả [1], [21].
- Bệnh tuy đã được một số tác giả nghiên cứu nhưng phần lớn chỉ quan tâm
đến bệnh cảnh xuất huyết não - màng não ở trẻ từ 0 - 2 tháng, chưa chú trọng đến

2

1.1. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ BỆNH XUẤT HUYẾT DO THIẾU VITAMIN K.
Bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh (Hemorrhagic disease of newborn:HDN) được
Charles Townsend mô tả lần đầu tiên tại Boston năm 1894 ở 50 trẻ sơ sinh bị xuất huyết
trong 2 tuần đầu sau sinh nhưng chưa giải thích được nguyên nhân [35],[54].
Năm 1929 trong khi quan sát sự chảy máu dưới da, trong cơ và các tổ chức
khác ở những con gà được nuôi bằng chế độ ăn không chất béo, Henrick Dam đã
phát hiện ra một chất tan trong mỡ có tác dụng chống chảy máu và đặt tên là
vitamin K (Koagulation Vitamine) [54].
Năm 1936, Schonheyder khám phá ra bệnh chảy máu do thiếu prothrombin
hoạt hóa trong máu [54]. Ngay sau đó Brinkhouse[35] và cộng sự đã tìm thấy tỷ lệ
prothrombin giảm ở trẻ sơ sinh bình thường (1937).
Năm 1939, Armand J.Quick một bác sĩ sinh hóa ở thành phố New York và
cộng sự nghĩ ra một xét nghiệm định lượng prothrombin. Trong xét nghiệm này
một yếu tố tổ chức mạnh thromboplastin được cho vào huyết tương có oxalate và
sau đó thêm canxi vào. Xét nghiệm này (thời gian prothrombin) là phương pháp
thường được thực hiện nhiều nhất trong các phòng xét nghiệm đông máu và đã
làm sáng tỏ bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra đo thời gian prothrombin cũng
dẫn đến việc khám phá thêm những yếu tố đông máu gồm yếu tố dễ hỏng (yếu
tốV), chất làm tăng sự biến đổi prothrombin của huyết thanh (yếu tố VII) và yếu tố
Stuart - prower (yếu tố X) [2].
Hiệu quả của vit K trong việc điều trị bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh được báo
cáo lần đầu tiên năm 1939 bởi các tác giả Hellman, Shettles Nygard, Dam [ 35], [66].
Sau đó hội đồng dinh dưỡng Viện Hàn Lâm Nhi khoa Mỹ đã định nghĩa “ bệnh xuất
huyết ở trẻ sơ sinh là xuất huyết trong những ngày đầu của đời sống do thiếu vit K và

4
được đặc trưng bởi sự thiếu prothrombin, proconvertin và có thể các yếu tố khác “ và
quy định tiêm vit K dự phòng cho tất cả trẻ sơ sinh [38], [47],[54].
Năm 1966, Goldman và Deposito[35] báo cáo 5 bệnh nhi bị xuất huyết do
thiếu vit K xảy ra ngoài thời kỳ sơ sinh. Từ đó đến nay nhiều nước trên thế giới đã

thực hiện từ năm 1960, bệnh xuất huyết sơ sinh kinh điển hầu như không xảy ra.
Giữa những năm 80 phong trào nuôi con bằng sữa mẹ tăng lên, bệnh xuất huyết
muộn đã được chú ý. Ekelud điều tra từ năm 1987 - 1989 có 17 trường hợp xuất
huyết muộn [23].
1.2.2. Tỷ lệ mắc bệnh ở các nƣớc đang phát triển.
Tỷ lệ mắc bệnh dựa trên quần thể xác định khó thực hiện vì các nước đang
phát triển điều kiện kinh tế và trình độ văn hóa xã hội còn thấp. Trẻ sơ sinh có thể
tử vong tại nhà không đến bệnh viện do đó không xác định được chính xác tỷ lệ
mắc bệnh.
- Ở Thái Lan có tỷ lệ 71 trẻ mắc /100.000 trẻ sinh[33], Ấn Độ 1/14.000 [47]
- Ở Việt Nam hiện tại chưa có công trình nghiên cứu toàn bộ nào về xuất huyết
do thiếu vit K nên không có số liệu chính thức, chỉ có một vài số liệu của một số vùng
như khoa thần kinh bệnh viện bảo vệ sức khỏe trẻ em trong 10 năm (1985 - 1995) có
1038 bệnh nhân [23] , Hà Nội ước tính có tỷ lệ mắc bệnh 110/100.000 trẻ sinh, Bệnh
viện nhi đồng I (TPHCM) trong 2 năm (1995 - 1996) có 229 bệnh nhân [13]. Bệnh
viện Trung ương Huế trong 9 năm (1986 - 1994) có 396 bệnh nhân[11].
1.2.3. Một số yếu tố nguy cơ của xuất huyết do thiếu vitamin K ở trẻ 0 -12 tháng tuổi.
* Tuổi mắc bệnh. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy bệnh xuất huyết
muộn thường xảy ra ở tuổi từ 1 - 3 tháng, tuổi mắc bệnh trung bình là 45 - 50 ngày
tuổi [13], [16],[31], [41], [50].
Sutor AH [57] cho giới hạn trên của thể bệnh tự phát là 6 tháng tuổi. Đối
với các thế bệnh thứ phát, tuổi mắc bệnh muộn hơn giới hạn trên là 12 tháng.
McNich(Anh) [22 ] thông báo 27 trường hợp mắc XHN-MN (1987 - 1990)
có tuổi mắc bệnh từ 2 - 60 ngày trong đó có 15/27 trường hợp tuổi từ 16 - 60 ngày
thuộc thể xuất huyết muộn.

6
* Giới tính. Trẻ trai thường mắc bệnh nhiều hơn trẻ gái với tỷ lệ là 2/1
[17], có nghiên cứu là 3/1[22], Hanawa Y [40 ]có tỷ lệ mắc bệnh trai/ gái là 2,03
* Mùa: bệnh thường xảy ra vào mùa nóng hơn là mùa lạnh. Nghiên cứu ở

tỷ lệ tử vong 42%, 98% trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn. Tác giả cho rằng chế độü dinh
dưỡng của mẹ trong 3 tháng đầu sau sinh có vai trò quan trọng trong việc xuất hiện
bệnh.
Nguyễn Văn Thắng nghiên cứu 38 bệnh nhân xuất huyết giảm tỷ lệ
prothrombin thấy 97,57% các trường hợp XHN - MN có PT kéo dài, các yếu tố
VII. IX, X giảm, riêng yếu tố II là yếu tố đông máu chủ yếu của phức hệ
prothrombin giảm 100% trường hợp[25].
1.2.4.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước.
Tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp xuất huyết giảm tỷ lệ
prothrombin do thiếu vit K đã được nghiên cứu từ rất lâu và đã được công bố trên
nhiều ấn bản về Y học.
Nhật Bản đã tổ chức 3 hội thảo toàn quốc chuyên đề về xuất huyết do thiếu
vit K ở trẻ em. Các đề tài của Hanawa Y [41] “ Kinh nghiệm của Nhật bản trong
bệnh thiếu hụt vit K ở trẻ em”, của Nakagawa (1992) [40] “dự phòng thiếu vit K ở
trẻ em ”, “ Hội thảo lần II về thiếu vit K ở trẻ em” đã nêu lên tỷ lệ mắc bệnh ở
Nhật Bản giảm rõ rệt sau khi có chương trình quốc gia phòng thiếu vit K cho trẻ
em với 3 lần uống 1mg vit K1 (chỉ có 6/100.000 trẻ sinh bị mắc bệnh so với trước
là 25/100.00 trẻ sinh) và nhận thấy nguyên nhân gây thiếu vit K có thể do trẻ bú
mẹ hoàn toàn và không được tiêm phòng vit K.
Chuansumrit A, Isarangkura B [33] báo cáo tổng kết 32 năm nghiên cứu
bệnh xuất huyết do thiếu Vit K ở thái Lan cho thấy: Trong tổng số 830 bệnh có
799 trường hợp thuộc thể tự phát và 32 trường hợp thứ phát. Thể bệnh tự phát
thường gặp ở trẻ bú mẹ hoàn toàn(92%) và không được tiêm phòng Vit K (90%).
Saga K, Terao T[55] nghiên cứu nồng độ Vit K trong sữa mẹ nhận thấy nếu
cho mẹ dùng Vit K thì nồng độ của nó trong sữa và plasma cao có ý nghĩa .

8
Puckett RN, Offiringa M[50] nhận xét là khi tiêm một mũi Vit K cho trẻ
mới sinh có thể phòng được thể xuất huyết sơ sinh kinh điển, nếu lặp lại vài lần
bằng đường uống có thể phòng được cả thể xuất huyết muộn.

Chuỗi bên của Vitamin K2 tùy thuộc vào số đơn vị (n) prenyl tham gia vào vị trí (3)
Vitamine K3: là nhóm vitamin tổng hợp không có chuỗi bên được gọi là
Menadione
C
11
H
8
O
2
O
O

R
O
O

CH
3
Menadione
O
O

phylloquinone
O
O

Menaquinone

S 1.1 : Hot tớnh ca Vitamin K trong s chuyn i cỏc yu t ụng mỏu cha hon
chnh ( cú gc Glu) thnh cỏc yu t ụng mỏu hon chnh ( cú gc ? -carboxy glutamyl)
i cỏc cht tin thõn ca cỏc yu t ụng mỏu ph thuc vit K thnh cỏc yu t
ụng mỏu thc s hon chnh.

S 1.2: Bỡnh thng trong cỏc microsomes ca t bo gan cú s bin Peptid glutamic acid -Carboxy glutamic acid
Carboxylase peptide
Vitamin K Hydroquine
Vitamin K Epoxide
Vitamin K
Ty laỷp thóứ cuớa tóỳ baỡo gan
NADPH


S 1.3: Trong trng hp thiu Vitamin K, cỏc yu t ụng mỏu khụng
hon chnh (ph thuc vo vitamin K ) s c phúng thớch. Cỏc cht ny c
gi chung l PIVKA ( protein Induced by Vitamin K Absence).
1.4. NHU CU V NGUN CUNG CP VITAMIN K TR S SINH V
NH NHI.
Nhu cu hng ngy ca con ngi v vit K thay i t 1- 2 ?g /kg , phn ln
c cung cp t ngun vit K trong khu phn dinh dng (vit K1). Ngun d tr
vit K trong c th li l vit K2 chim khong 90% tng s vit K d tr [7],[36]. Cỏc
cụng trỡnh nghiờn cu mi õy u xỏc nh ngun d tr vit K ca c th l khụng
ỏng k (310 - 1350pg/ml) [7]. Cho nờn khú cú th lng c tm quan trng ca
cỏc vit K2 do cỏc vi khun ng rut tng hp c, mt khỏc cng rt khú bit t
l hp thu ca c th mt ngi i vi vitamin ny [7].
1.4.1. Ngun cung cp vitamin K t m qua rau thai.
Tr s sinh khụng cú d tr vitamin K. Rt nhiu tr thiu vit K ngay
lỳc mi sinh. Cỏc nghiờn cu gn õy cho thy nng vit K mỏu con thp hn
mỏu m. Shearer v cng s [25] ó khụng nh lng c vit K mỏu cung
rn ca tr s sinh thỏng, trong khi nng vit K mỏu m l 0,13 - 0,19g/ml.
Mahasamdana [14 ] ó nghiờn cu 1220 mu mỏu rn ca tr mi sinh cho thy
7/1220 trng hp yu t PIVKA II v PT l 3,1 - 7,2% v 22- 62,55%. Cụng


trình cho thấy sự thiếu vit K có thể xảy ra ngay ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh và cần
thiết phải dự phòng vit K cho trẻ ngay từ khi mới sinh ra.
Shiharata A [22]định lượng philloquinone, Menaquinone trong huyết thanh,
trong phân su, trong sữa, trong mô gan đã nhận xét:
- Rau thai là một tổ chức có khả năng vận chuyển lipid kém, do đó lượng
VitK (tan trong dầu) được vận chuyển từ mẹ qua rau thai cho thai nhi dưới lượng
rất thấp so với nhu cầu sinh lý.
- Gan trẻ sơ sinh chưa trưởng thành đặc biệt với sự tổng hợp prothrombin.
- Nồng độ vit K trong sữa mẹ rất thấp (1,5 - 4?g/l)
Ruột trẻ sơ sinh vô trùng trong những ngày đầu của cuộc sống nên lượng vit
K có trong phân su rất thấp do đó không hy vọng cung cấp đủ vit K cho trẻ sơ sinh
bằng sự tổng hợp từ vi khuẩn [7], [35].
1.4.2. Nguồn cung cấp vitamin K từ chế độ ăn và từ sự tổng hợp của vi khuẩn ruột.
Chế độ ăn là nguồn cung cấp quan trọng vit K1, điều này đã được xác nhận
năm 1932 [35]. Sự cung cấp sớm thức ăn có vit K có thể giảm được bệnh xuất
huyết sơ sinh. Vit K1 chủ yếu có trong rau xanh và dầu thực vật. Hầu hết sữa công
nghiệp sản xuất tại Mỹ có lượng vit K1 vào khoảng 50?g/l. Tỷ lệ vit K trong sữa
mẹ và sữa bò là 1/4. Sự hấp thu vit K1 được thực hiện ở ruột non với vai trò của
acide mật [7], [38], [67].
Các quần thể vi khuẩn ở ruột tham gia tổng hợp vit K2 (Menaquinone) là
bacteroides, Frogidis một số chủng E. Coli [52]. Vi khuẩn ruột ở trẻ bú sữa mẹ
sản xuất ít vit K2 hơn vi khuẩn ruột có trong trẻ được nuôi bằng sữa nhân tạo. Vì
vậy sự tổng hợp vit K đường nội sinh không đủ có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh
xuất huyết do thiếu vit K ở trẻ bú sữa mẹ [ 35].
1.5. SINH LÝ BỆNH HỌC THIẾU VITAMIN K Ở TRẺ SƠ SINH VÀ NHỦ NHI.
Ở trẻ sơ sinh nồng độ vit K1 trong huyết thanh rất thấp, dự trữ ở gan không
đáng kể, lại không có nguồn vit K nội sinh(K2) vì sự tổng hợp vit K2 của vi
khuẩn ruột chỉ bắt đầu vào cuối tuần đầu tiên của đời sống do đó ở trẻ sơ sinh bình
thường người ta ghi nhận hiện tượng giảm các yếu tố đông máu phụ thuộc vit K
sau sinh. Nồng độ của các yếu tố này giảm rõ rệt từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5, sau

- Tr bỳ sa m hon ton.
- Tr con ca cỏc b m dựng thuc l cht i khỏng vi vit K
- Tr b bnh tiờu chy, kộm hp thu, tc mt.
- Tr dựng khỏng sinh ng ung kộo di.
- T phỏt khụng rừ nguyờn nhõn: thng gp tr khụng c tiờm phũng
vit K v bỳ sa m hon ton.

S 1.4 S v quỏ trỡnh hp thu, chuyn húa Vit K v s tng hp cỏc
yu t ụng mỏu ph thuc vo Vit K. Nhng nguyờn nhõn a n thiu Vit K.

14
1.6. NGUYÊN NHÂN, LÂM SÀNG CỦA BỆNH XUẤT HUYẾT DO THIẾU
VITAMIN K Ở TRẺ SƠ SINH VÀ NHỦ NHI.
Khác hẳn với thiếu vit K ở người lớn, hiện tượng xuất huyết ở trẻ 0 - 12
tháng xảy ra sớm và đột ngột. Cho đến thập niên 60, bệnh xuất huyết do thiếu vit
K vẫn được coi là “ Vấn đề của tuần lễ đầu của thời kỳ chu sinh”. Ngày nay tùy
theo khởi điểm của hội chứng xuất huyết người ta phân biệt 3 thể lâm sàng xuất
huyết do thiếu vit K là: bệnh xuất huyết sơ sinh sớm, bệnh xuất huyết sơ sinh kinh

huyết muộn
7 ngày - 12
Tháng
- XHN - MN (hay gặp
nhất)
- Xuất huyết da, niêm mạc
- Xuất huyết tiêu hóa
- Tự phát
- Thứ phát
- Warfarin

1.6.1. Bệnh xuất huyết sơ sinh sớm.
1.6.1.1. Nguyên nhân.
- Bệnh xảy ra tự phát (Forme idiopathique) ở một số trẻ sơ sinh mà không giải
thích được nguyên nhân ngoài hiện tượng thiếu vit K sinh lý ở trẻ sơ sinh. Thể bệnh

15
này rất hay gặp ở trẻ em châu Phi, Atkinson đã phát hiện ra một tỷ lệ rất lớn trẻ sơ sinh
da đen có PIVKA II nhưng chưa giải thích được nguyên nhân [66].
- Bệnh xảy ra thứ phát ở những trẻ sơ sinh mà mẹ đã dùng các thuốc ảnh
hưởng đến chuyển hóa vit K như: Warfarin, thuốc chống co giật (hydantoin,
barbiturat), Rifammycin, Isoniazit. Những thiếu hụt vit K ở trẻ sơ sinh này có thể
được dự phòng bằng cách tiêm vit K cho mẹ trước khi sinh [7], [66], [69].
Tuy nhiên các bà mẹ đang mắc một bệnh tiến triển hoặc có các tai biến sản
khoa, ngôi thai bất lợi, khung chậu hẹp, thời gian chuyển dạ kéo dài cũng dễ gây
nên xuất huyết ở trẻ sơ sinh[5].
1.6.1.2. Lâm sàng.
Bệnh xảy ra đột ngột trong vòng 24 giờ đầu sau sinh. Bệnh diễn tiến nặng
và hay gây tử vong [5],[50]. Bệnh nhi bị các tụ máu lớn ở dưới da đầu, chảy máu
rốn, chảy máu tiêu hóa, XHN - MN [35].

này thường được nuôi bằng sữa mẹ và không được bổ sung vit K sau sinh
[30],[39]. Motohara[6] báo cáo 51 trường hợp tìm thấy PIVKA II trên tổng số
19029 trẻ 1 tháng tuổi được nuôi bằng sữa mẹ (2,6%).
+ Các trường hợp tự phát thường xảy ra ở trẻ 1 - 3 tháng tuổi, các trường
hợp thứ phát xảy ra muộn hơn trong năm đầu tiên. Nguyên nhân thứ phát là các
bệnh gây ra tình trạng thiếu vit K như:
- Tiêu chảy kéo dài - Thiếu ?1 Antitrypsin
- Bệnh xơ nang tụy - Mẹ dùng thuốc chống co giật
??Dùng kháng sinh
- Nuôi dưỡng bằng đường TM kéo dài
- Dùng Warfavin:Trong số 741 trường hợp xuất huyết do thiếu vit K có177
trường hợp tử vong đã được báo cáo ở Việt Nam do dùng phấn rôm có chứa
Warfavin (Coumadine)[66].
Không kể những trường hợp viêm gan, thiểu sản đường mật [69]. Bệnh xuất huyết
hiếm xảy ra hơn ở những trẻ được dự phòng vitamin K lúc mới sinh [30], [31], [50].

17
1.6.3.2. Lâm sàng:
Bệnh thường xảy ra ở trẻ từ 1 - 3 tháng tuổi, biểu hiện là xuất huyết tiêu
hóa, xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc, đặc biệt hay gặp nhất là xuất huyết
não - màng não với các triệu chứng: bỏ bú, thóp phồng, co giật, hôn mê, thiếu
máu, bệnh được xác định nhờ chọc dịch não tủy có máu không đông hoặc phát
hiện được các đám xuất huyết trong não thất hoặc trong tổ chức não nhờ siêu âm
qua thóp. Bệnh gây tử vong cao và di chứng nặng ở hệ thần kinh [4],[9],[22],[26].
Vị trí xuất huyết thường là : trong tổ chức não (91%), khoang dưới nhện (46%),
dưới màng cứng (27%), trong não thất (27%) [31].
1.7. CÁC YẾU TỐ ĐÔNG MÁU PHỤ THUỘC VITAMIN K - CẬN LÂM
SÀNG TRONG CHẨN ĐOÁN THIẾU VITAMIN K Ở TRẺ SƠ SINH VÀ
NHỦ NHI:
1.7.1. Các yếu tố đông máu phụ thuộc vit K.

1. Giảm dự trữ vit K.
2. Giảm nồng độ vit K trong huyết tương.
3. Tăng nồng độ các K1 epoxide và xuất hiện các PIVKA.
4. Giảm nồng độ các yếu tố đông máu phụ thuộc vào vit K.
5. PT (prothrombin Time) kéo dài.
6. PTT (activated partial thromboplastin - time) kéo dài.
Việc khảo sát dự trữ vit K, đo nồng độ vit K trong cơ thể và trong huyết
tương, định lượng các vit K epoxide, khảo sát định tính, định lượng PIVKA, định
lượng gamma Gla trong nước tiểu là các xét nghiệm tương đối mới chỉ có thể thực
hiện trong phòng thí nghiệm có quy mô lớn. Các xét nghiệm này giúp cho việc
nghiên cứu và phát hiện thiếu vit K ngay từ lúc mới bắt đầu. Do đó trong chẩn
đoán bệnh xuất huyết do thiếu vit K các xét nghiệm đông máu cho đến nay vẫn
còn được xem là các xét nghiệm cơ bản[8].
1.7.2.1. Prothrombin time (PT)
Trong thiếu vit K, yếu tố VII có thời gian bán hủy ngắn nhất sẽ bị giảm trước tiên.
Khảo sát đông máu đường ngoại sinh prothrombin time kéo dài được ghi nhận sớm nhất.
PT bình thường cho phép loại hẳn các nguyên nhân chảy máu do thiếu vit K [8].
- Thời gian Quick và tỷ lệ nhóm prothrombin [6]

19
Thời gian Quick là thời gian đông của huyết tương đã được chống đông
bằng Natri oxalat nay đặt lại vào trong một môi trường có canxi, đồng thời có thừa
thromboplastin . Thời gian Quick thăm dò tốc độ hình thành thrombin.
Thời gian Quick phản ánh tình hình prothrombin (II), proconvertin (yếu tố
VII) proaccelarin (yếu tố V) và yếu tố Stuart - prower (yếu tố X) gọi chung là
nhóm prothrombin, ngoài ra còn thăm dò cả fibrinogen.
Kết quả của thời gian Quick phụ thuộc vào mẫu Thromboplastin mỗi đợt
xét nghiệm mỗi khác nên kết quả phải so sánh với kết quả làm với một người bình
thường được chọn làm chứng. Quick đề nghị nên chọn mẫu thromboplastin nào
cho kết quả với huyết tương của chứng từ 11 giây đến 16 giây, tốt nhất 12 giây

bệnh và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vit K và yếu tố đông máu, huyết
tương đông lạnh trong điều trị. Xa hơn nữa việc cải thiện về mặt lâm sàng hội
chứng xuất huyết kết hợp với sự cải thiện dần dần của các xét nghiệm đông máu
sau khi sử dụng vit K cho phép xác nhận tình trạng thiếu vit K.
1.8. CÁC PHƢƠNG THỨC PHÕNG NGỪA BỆNH XUẤT HUYẾT DO
THIẾU VITAMIN K Ở NƢỚC NGOÀI.
1.8.1. Các đặc tính của vitamin K [19].
- Vit K1 có từ thực vật, đã được dùng tại nhiều nước phản ứng có tính sinh
học hơn và có hiệu quả nhanh hơn.
- Vit K2 xuất phát từ động vật, chậm hiệu quả, có nhiều biến chứng: vàng
da, choáng phản vệ, độc tính. Vit K tổng hợp (K3) như Menadion Natridiphophat
không nên dùng cho trẻ sơ sinh vì có thể gây tác dụng phụ như tăng Bilirubin
huyết, vàng da nhân ở trẻ sơ sinh.
Các nước trên thế giới hiện nay thường lựa chọn vit K1 dùng phòng ngừa
bệnh xuất huyết.
1.8.2. Phƣơng thức phòng ngừa bệnh xuất huyết do thiếu vitamin K ở nƣớc
ngoài:
Dùng vit K để phòng ngừa bệnh xuất huyết sơ sinh đã được khuyến cáo từ
những năm 60. Nhiều nước đã áp dụng phương pháp này nhưng liều lượng và
đường sử dụng không thống nhất. Sau đây là một số cách thức phòng ngừa.

21
* Phương pháp do ủy ban dinh dưỡng của Hiệp hội thầy thuốc Nhi khoa
Pháp [72 ].
+ Tất cả trẻ sơ sinh phải nhận vit K để ngăn ngừa thể kinh điển của bệnh
chảy máu sơ sinh.
- Trẻ đủ tháng bình thường: 2mg K1 uống sau sinh.
- Trẻ đẻ non hoặc trẻ đủ tháng bệnh lý : 2mg K1 tiêm bắp tay TM chậm.
+ Để dự phòng thể xuất huyết sơ sinh sớm.
Các bà mẹ có nguy cơ thiếu vit K như dùng thuốc chống động kinh, chống

bệnh viện Trung ương Huế.
- Nhóm đối chứng: Để nghiên cứu yếu tố nguy cơ chúng tôi chọn nhóm đối
chứng theo tiêu chuẩn sau: lấy ngẫu nhiên 48 trẻ cùng lứa tuổi, vào viện cùng thời
gian với trẻ bị bệnh xuất huyết do thiếu vit K, không phân biệt giới tính, địa
phương, bị các bệnh thông thường không ảnh hưởng đến chức năng đông máu,
không có tiền sử bị bệnh gan mật hay bệnh máu.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân thuộc nhóm bệnh.
Bệnh nhân được chẩn đoán xuất huyết do thiếu vit K phải hội đủ 2 tiêu chuẩn sau:
2.1.1.1. Tiêu chuẩn lâm sàng: phải có đầy đủ hai tiêu chuẩn:
* Hội chứng xuất huyết: xuất huyết có thể biểu hiện dưới một hay nhiều hình
thái khác nhau, một bệnh nhân có thể có một hay nhiều hình thái xuất huyết:
- Xuất huyết huyết não - màng não (XHN - MN): trẻ có biểu hiện lâm sàng
như khóc thét từng cơn, thóp phồng, co giật, tăng hay giảm trương lực cơ, ngừng
thở, bỏ bú, da xanh, liệt, hôn mê và cận lâm sàng dịch não tủy có máu không đông
hoặc có dấu hiệu XHN - MN trên siêu âm qua thóp.
- Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) :Trẻ có biểu hiện nôn ra máu hoặc đi cầu ra máu.
- Xuất huyết đường tiết niệu(XHTN): Trẻ đi tiểu ra máu đại thể.
- Xuất huyết da, niêm mạc (XHD - NM): trẻ có những chấm đốm, mảng
xuất huyết ở dưới da hoặc có xuất huyết ở niêm mạc mũi, miệng, lợi răng.
- Chảy máu cuống rốn: Rốn rỉ máu kéo dài sau khi cắt và băng rốn hoặc
chảy máu sau khi rụng rốn.
- Vết chích lễ chảy máu kéo dài: Trẻ bị chích lễ tại nhà chảy máu kéo dài
không tự cầm được hoặc để lại đám bầm máu lớn.

23
* Điều trị đáp ứng với vit K: Bệnh nhân phải hội đủ hai tiêu chuẩn
- Đáp ứng về mặt lâm sàng: Ngừng xuất huyết được biểu hiện trên lâm sàng
bằng sự cải thiện của các dấu hiệu đe dọa chức năng sống, hết co giật, hết nôn, hết
đi cầu, đi tiểu ra máu, vết chích lễ ngừng chảy máu. Các biểu hiện lâm sàng của tình
trạng thiếu máu không tăng thêm. Bệnh diễn biến thuận lợi và xuất viện.

- Thiết lập phiếu điều tra cấu trúc theo mẫu chuyên biệt phù hợp với các
mục tiêu nghiên cứu.
- Nguồn thu thập thông tin:
+ Phỏng vấn bà mẹ hoặc người thân trong gia đình
+ Thăm khám lâm sàng.
+ Xét nghiệm cận lâm sàng
2.2.3. Thăm khám lâm sàng:
2.2.3.1. Đánh giá hội chứng xuất huyết
* Xác định hình thái xuất huyết
- Xuất huyết não - màng não
- Xuất huyết tiêu hóa
- Xuất huyết da - niêm mạc tự nhiên
- Xuất huyết tiết niệu
- Xuất huyết cuống rốn
- Xuất huyết vết chích lễ kéo dài.
- Xuất huyết nhiều cơ quan: trẻ có biểu hiện từ 2 hình thái xuất huyết trở lên.
* Xác định mức độ xuất huyết thông qua đánh giá lâm sàng bằng dấu hiệu
xuất huyết ồ ạt ra ngoài như nôn, đi cầu ra máu với số lượng lớn hoặc bằng biểu
hiện của một tình trạng thiếu máu cấp thông qua dấu hiệu lâm sàng như rối loạn
cấp tính các chức năng sống, hoặc da - niêm mạc nhợt nhạt, lòng bàn tay nhợt và
xác định bằng các chỉ số của xét nghiệm máu như Hb, hồng cầu.
* Phân loại bệnh theo thời gian xuất hiện bệnh [38],[57]:
-Xuất huyết sơ sinh sớm (Early HDN): bệnh xảy ra đột ngột trong vòng 24
giờ đầu sau sinh.

25
-Xuất huyết sơ sinh kinh điển (Classic HDN): bệnh xảy lúc 1-7 ngày tuổi.
-Xuất huyết muộn (late HDN): bệnh xảy ra ở lứa tuổií 7 ngày đến 12 tháng.
*Phân loại bệnh theo nguyên nhân gây thiếu vit K [40],[41]:
-Xuất huyết do thiếu vit K thể tự phát (Forme Idiopathique): Không tìm ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status