BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VŨ HOÀI NAM
NGHIÊN CỨ
CẬN LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA
HỘI CHỨNG NGƢNG THỞ LÚC NGỦ DO TẮC NGHẼN
Chuyên ngành: Nội hô hấp
Mã số: 62720144
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Công trình được hoàn thành tại:
Đại Học Y Dƣợc Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa hoc:
TS. NGUYỄN THỊ TỐ NHƢ
PGS.TS. LÊ THỊ TUYẾT LAN
Phản biện 1: GS.TS. NGÔ QUÝ CHÂU
Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS. NGUYỄN VIẾT NHUNG
Bệnh viện Phổi Trung ƣơng Hà Nội
trầm cảm,…đau đầu buổi sáng, bu
tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, rối loạn
nhịp tim, suy tim do đó làm tăng nguy cơ tử vong do nguyên nhân
tim mạch. Ngoài ra hội chứng NTLNTN còn gây ra các rối loạn về
chuyển hóa trong cơ thể đặc biệt là hội chứng chuyển hóa trong đó
cơ bản là đề kháng insulin. Trong nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy
năm 2009 trên các bệnh nhân NTLNTN, ghi nhận được tăng huyết áp
là 50,4%, rối loạn mỡ máu là 57,7%, đái tháo đường là 12,4%, nhồi
máu cơ tim là 2,9%, suy tim là 5,1%, đột quị là 2,9%.
Trên thế giới, ước lượng tỉ lệ NTLNTN là 3 - 7% ở nam và 2 5% ở nữ người lớn. Tại châu Á tỉ lệ này ở nam là 4,1 - 7,5% và ở nữ
là 2,1 - 3,2%. Tại Việt Nam, tỉ lệ NTLNTN (AHI ≥ 5 lần/giờ) là
8,4% ở dân số người trưởng thành và 16% ở các đối tượng có triệu
chứng lâm sàng.
2
Do NTLNTN gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đặc biệt là
NTLNTN trung bình nặng (AHI ≥ 15 lần/giờ) và khả năng số người
mắc NTLNTN ngày càng gia tăng ở Việt Nam, do đó cần phải tìm
các yếu tố gợi ý sàng lọc giúp chẩn đoán và điều trị sớm NTLNTN.
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về giá trị dự đoán của
các triệu chứng lâm sàng
người có khả năng mắc NTLNTN giúp chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Vì vậy câu hỏi nghiên cứu là tỉ lệ NTLNTN tại khoa Hô Hấp,
Bệnh viện Chợ Rẫy là bao nhiêu và các yếu tố liên quan đến hội
chứng NTLNTN và NTLNTN trung bình nặng là gì?.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm:
1. Xác định tỉ lệ NTLNTN trên các bệnh nhân đến khám tại khoa
nghiệm sinh hóa như đường huyết và mỡ máu) và các bệnh lý đồng
mắc của ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn trên đối tượng các bệnh
nhân đến khám tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Kết quả có so sánh với nhóm chứng là các đối tượng có các
triệu chứng liên quan đến giấc ngủ nhưng không mắc ngưng thở lúc
ngủ do tắc nghẽn. Phân tích các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng do
đó nêu lên được các yếu tố có liên quan đến ngưng thở lúc ngủ do tắc
nghẽn. Sau đó dùng phương pháp hồi qui logistic đa biến kiểm soát
các biến nhiễu nên kết quả là tin cậy được. Kết quả này đáp ứng được
nhu cầu là tìm các yếu tố liên quan giúp sàng lọc để chẩn đoán và
điều trị ngưng thở lúc ngủ do tắc nghẽn hiện nay ở nước ta.
4. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 116 trang: Phần đặt vấn đề 3 trang, mục tiêu
nghiên cứu 1 trang, tổng quan tài liệu 34 trang, đối tượng và phương
pháp nghiên cứu 13 trang, kết quả nghiên cứu 21 trang, bàn luận 41
trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang. Có 45 bảng, 04 biểu đồ, 17
hình, 05 sơ đồ và 199 tài liệu tham khảo (13 tài liệu tham khảo tiếng
Việt, 186 tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài).
4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2. NGƢNG THỞ LÚC NGỦ TẮC NGHẼN
1.2.1. Đại cƣơng
Trong thế kỷ 19, Charles Dickens vào năm 1837 mô tả một số
trường hợp những người béo phì với buồn ngủ ban ngày quá mức và
được gọi là hội chứng Pickwick.
Giữa những năm 1960, Gastaut quan sát ngưng thở lúc ngủ ở
người béo phì cũng như tắc nghẽn đường thở liên tục với vi thức giấc
thường xuyên, qua đó cho thấy sự liên kết toàn diện đầu tiên giữa béo
1.2.4.2. Vai trò của giải phẫu đường hô hấp trên
Giải phẫu học đường hô hấp trên
Đường hô hấp trên là một cấu trúc duy nhất có nhiều nhiệm vụ
như nói, nuốt thức ăn/nước uống và thở không khí đi qua. Tắc nghẽn
đường hô hấp trên lúc ngủ là rối loạn phổ biến nhất vì đường hô hấp
trên gồm nhiều cơ và mô mềm nhưng lại thiếu cấu trúc cứng chống
đỡ và vì xương móng, một bên gắn vào cơ dãn hầu, không được cứng
chắc như gắn liền với cấu trúc xương. Do đó, diện tích mặt cắt ngang
hầu sẽ thay đổi theo áp lực khoang, đặc biệt là phần có thể gập lại từ
khẩu cái cứng đến thanh quản. Độ mở hầu phụ thuộc rất nhiều vào sự
phối hợp và tương tác của hơn 20 cơ xương mà có tác dụng dãn và
nâng độ mở hầu họng.
Mô mềm và cấu trúc xương
Thông thường, khi đường hô hấp trên hẹp thì nhiều khả năng
sẽ dễ bị xẹp hơn đường hô hấp trên lớn. Phì đại các cấu trúc mô mềm
cả ở bên trong và xung quanh đường hô hấp góp phần đáng kể làm
hẹp đường hô hấp trên trong hầu hết các trường hợp NTLNTN. Khẩu
6
cái mềm lớn và lưỡi to sẽ chiếm hầu hết đường kính trước sau của
đường hô hấp trên, trong khi thành hầu dày sẽ chiếm mặt phẳng bên.
Ở bệnh nhân NTLNTN, việc giảm kích thước của các cấu trúc
xương sọ mặt bao gồm giảm chiều dài thân xương hàm dưới, vị trí
xương móng hạ xuống thấp, vị trí xương hàm trên thụt ra sau cũng
như đường hô hấp dài đã làm tăng tỉ lệ xẹp của đường hô hấp trên, và
khi có áp lực đè vào, nó sẽ bị sụp đổ.
Khi điều trị bằng thông khí áp lực dương liên tục (CPAP),
giảm cân, hoặc đưa hàm dưới ra trước, tất cả là để làm tăng kích
thước thành bên của hầu.
hoạt trương lực một hoặc nhiều cơ đường hô hấp trên có khả năng
can thiệp đáng kể tới những công việc quan trọng khác của hầu.
1.2.5. Triệu chứng lâm sàng và các yếu tố nguy cơ
+ Các triệu chứng:
+ Các yếu tố nguy cơ thường gặp:
1.2.6. Hậu quả của NTLNTN
1.2.7. Chẩn đoán và điều trị hội chứng NTLNTN
Tiêu chuẩn chẩn đoán và mức độ nặng của NTLNTN
Tiêu chuẩn chẩn đoán:
A: buồn ngủ ban ngày nhiều không giải thích được.
B: có 2 trong các yếu tố sau không giải thích được: ngáy to (>
3 lần/ tuần)//cảm giác ngạt thở lúc ngủ//giấc ngủ không phục hồi sự
mệt mỏi//khó tập trung//mệt mỏi ban ngày//tiểu đêm (>1 lần/đêm).
C: chỉ số ngưng thở giảm thở AHI ≥ 5 lần/giờ.
Hội chứng ngưng thở lúc ngủ = A hay B + C hoặc AHI ≥ 15
lần/giờ.
Mức độ NTLNTN: được đánh giá như sau: chỉ số AHI: < 5
lần/giờ Bình thường // ≥ 5 – 15 lần/giờ Nhẹ // ≥ 15 – 30 lần/giờ
Trung bình // > 30 lần/giờ Nặng.
Phương tiện chẩn đoán ngưng thở lúc ngủ
Dựa vào đa ký giấc ngủ hoặc đa ký hô hấp. Đa ký hô hấp có từ
04 kênh theo dõi (type 3) trở lên có giá trị tương tự đa ký giấc ngủ
trong chẩn đoán hội chứng NTLNTN.
8
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân ≥ 18 tuổi đến khám tại Khoa Hô Hấp, Bệnh Viện Chợ
Rẫy trong thời gian từ tháng 03/2010 đến 12/2014 vì các triệu chứng
2.2.5. Tiến trình nghiên cứu
Đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng.
- Tuổi, giới. Chỉ số cơ thể: BMI, vòng cổ, vòng eo.
- Khám tai mũi họng.
- Chụp xquang sọ nghiêng.
- Đo chức năng hô hấp.
- Triệu chứng lâm sàng.
- Các bệnh lý đồng mắc.
- Xét nghiệm máu: đường, mỡ máu, yếu tố viêm
Chuẩn bị và đo đa ký lúc ngủ
Sau khi khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm, bệnh
nhân được hẹn ngày để đo đa ký trong lúc ngủ. Bệnh nhân được dặn
dò không được uống rượu bia, các chất kích thích trong ngày trước
khi đo giấc ngủ, tốt nhất là không nên ngủ trưa hôm đo giấc ngủ.
Đa ký hô hấp có từ 04 kênh theo dõi (type 3) trở lên có giá trị
tương tự đa ký giấc ngủ trong chẩn đoán hội chứng NTLNTN. Bệnh
nhân được gắn máy đa ký CIDELEC 102P đo được 08 chỉ số: lưu
lượng khí tại mũi, độ bão hòa oxy theo mạch đập, đo áp lực hõm ức,
áp lực cơ hô hấp ngực, bụng, đo âm thở, đo cường độ tiếng ngáy và
đo chỉ số ngáy. Bệnh nhân được bác sĩ theo dõi qua camera hồng
ngoại kết hợp quan sát 08 chỉ số đo được trên màn hình vi tính.
Qua đó đánh giá tình trạng thức ngủ và thời gian ngủ của bệnh
nhân trong đêm đo giấc ngủ. Chỉ số ngưng thở giảm thở (AHI) được
đánh giá bằng tổng số lần ngưng thở giảm thở trong 01 giờ ngủ.
2.4. QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Nhập, xử lý, phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0.
10
Chƣơng 3:
Bảng 3.7: Đặc điểm các chỉ số sọ mặt
Đặc điểm (n=103)
Đơn vị
Giá trị
SN
mm
72,2 ± 5,2
SNA
độ
82,9 ± 4,8
SNB
độ
80,9 ± 4,4
H-MP
mm
18,4 ± 7,1
ANB
độ
2 (1-3,5)
ANB ≥ 2 độ
có
57 (55,3%)
11
3.1.6. Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng
Các triệu chứng hay gặp là ngáy to (87,8%), ngộp thở lúc ngủ
(73%) và buồn ngủ ban ngày (63,5%). Các triệu chứng ít gặp hơn là
đau đầu buổi sáng (23,3%), buồn ngủ khi lái xe (20,1%) và kém tập
trung khi làm việc (21,2%).
92
pg/ml
1,8 (0,5-4,5)
3.1.9. Chức năng hô hấp
Hội chứng hạn chế và tắc nghẽn có 13 đối tượng (chiếm 11,7%).
3.2. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NTLNTN
3.2.1. Liên quan của tuổi và giới tính
Bảng 3.12: Liên quan của tuổi, giới
AHI ≥ 5(n=144)
AHI ≥ 15
Đặc điểm
(n=189)
AHI < 5 AHI ≥ 5 OR
p
OR
p
43,5 ±
51,1 ±
Tuổi
1,038 0,003 1,026 0,01
16,5
13,8
24
113
Giới nam
3,19
0,001 1,786 0,08
(17,5%)
(82,5%)
p: Hồi qui logistic đơn biến.
0,001
Vòng eo 85,9 ± 9,4 93,1 ± 8,4 1,109 0,001 4,871 0,001
p: Hồi qui logistic đơn biến.
3.2.5. Liên quan của các chỉ số sọ mặt
Bảng 3.16: Liên quan của các chỉ số sọ mặt
AHI ≥ 5
AHI ≥ 15
Đặc
điểm
AHI < 5 AHI ≥ 5
OR
p
OR
p
SN
72,2 ± 5,7 71,9 ± 5,1 0,957 0,35 0,959 0,29
SNA
82,8 ± 5,2 82,9 ± 4,7 1,006 0,91 1,047 0,29
SNB
81,1 ± 4,2 80,8 ± 4,4 0,982 0,76 0,995 0,91
H-MP
17,1 ± 8,5 18,7 ± 6,8 1,033 0,39 1,035 0,24
ANB ≥ 2 8 (14%)
49 (86%) 1,925 0,20 3,059 0,007
p: Hồi qui logistic đơn biến
3.2.6. Liên quan của các đặc điểm lâm sàng
Bảng 3.17: Liên quan của các đặc điểm lâm sàng
AHI ≥ 5
AHI ≥ 15
Đặc điểm
2,6%
97,4%
15,2 0,008 4,830
0,001
Kém tt
12,5%
87,5%
2,56 0,066 2,096
0,045
p: Hồi qui logistic đơn biến.
13
3.2.7. Liên quan của các bệnh lý đồng mắc với NTLNTN
Bảng 3.18: Liên quan của các bệnh lý đồng mắc và NTLNTN
AHI ≥ 5
Đặc điểm
AHI ≥ 15
AHI < 5
AHI ≥ 5
OR
p
OR
RLMM
16,9%
83,1%
2,03
0,05
1,976
0,02
HCCH
8,6%
91,4%
4,66
0,002
2,665
0,003
(n = 189)
0,07
12
81
0,06
0,10
IL1b
12
80
0,23
0,27
IL6
12
81
0,57
0,17
OR
p
Tuổi
năm
1,058
0,003
1,036
0,04
Giới
Nam
7,213
0,003
--
--
kg/m
0,53
Góc ANB
≥ 2 độ
--
--
3,808
0,01
Ngộp thở
có
3,379
0,013
2,484
0,12
BNBN
có
--
BNLX
có
6,638
0,105
2,671
0,18
KémTT
có
--
--
0,639
0,47
RLMM
có
4.1. ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ THAM GIA NGHIÊN CỨU
4.1.1. Tuổi và giới tính
4.1.1.1. Tuổi
Tuổi trung bình là 49,3 tuổi. Nhỏ nhất là 18 tuổi và lớn nhất là
86 tuổi. Khi tăng 01 tuổi nguy cơ mắc NTLNTN tăng 3,8% và nguy
cơ mắc NTLNTN trung bình nặng tăng 2,6%. Cho thấy tuổi liên quan
NTLNTN và tuổi càng cao thì NTLNTN càng nặng.
Theo Bixler, ở nam giới, tỉ lệ NTLNTN là 3,2% tăng lên
11,3% và 18,1% tương ứng 20-44 tuổi, 45-65 tuổi và 65-100 tuổi. Ở
nữ, tỉ lệ NTLNTN là 0,6–2 và 7% tương ứng với 20-44, 45-64 và 61100 tuổi. Cơ chế là do tích tụ mỡ vùng cạnh hầu, kéo dài khẩu cái
mềm và thay đổi cấu trúc giải phẫu xung quanh hầu họng. Tương tự
nhiều phản xạ đường hô hấp, phản xạ áp lực âm cơ cằm lưỡi giảm
hiệu quả khi lớn tuổi. Vì vậy, hai yếu tố giải phẫu và sinh lý đều
đóng góp vào việc tăng khả năng xẹp đường hô hấp trên khi lão hóa.
4.1.1.2. Giới tính
Tỉ lệ nam/nữ là 2,6/1. Khuynh hướng dễ bị bệnh của nam có
thể do sự khác biệt về giải phẫu, tính chất chức năng của đường hô
hấp trên và đáp ứng thông khí đối với vi thức giấc. Theo Newman, so
với những người không thay đổi cân nặng sau một khoảng thời gian
theo dõi, nam giới tăng lên 10kg, nguy cơ tăng AHI của họ ≥ 15
lần/giờ là 5,2 lần. Ngược lại, ở phụ nữ, cùng với tăng cân số lượng
như trên, nguy cơ tăng chỉ số AHI của họ là 2,5 lần.
Trong nghiên cứu, giới tính có liên quan chẩn đoán NTLNTN
nhưng không liên quan mức độ nặng của NTLNTN.
16
4.1.3. Các chỉ số cơ thể
4.1.3.1. Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Béo phì, quá cân là yếu tố nguy cơ hàng đầu của NTLNTN ở
Số đo vòng eo là một yếu tố thể hiện tình trạng béo phì và sự
tích tụ mỡ quanh bụng dẫn đến giảm dung tích dự trữ chức năng, qua
đó có thể dự đoán giảm thể tích phổi và ảnh hưởng lên đường hô hấp
trên. Thể tích phổi thấp kết hợp với giảm dự trữ oxy, có thể đóng góp
vào sự không ổn định trong kiểm soát thông khí.
4.1.4. Các bất thƣờng khi khám tai mũi họng
4.1.5. Các chỉ số sọ mặt
Sự khác nhau về hình thái học sọ mặt có thể giải thích cho sự
khác nhau về yếu tố nguy cơ NTLNTN ở các nhóm chủng tộc khác
nhau. Người Châu Á có nền sọ ngắn, xương mặt nhỏ, hộp sọ dẹt,
đường thở qua mũi hẹp, cằm thụt ra sau, mô mềm đường hô hấp trên
quá phát làm tăng khả năng mắc NTLNTN.
4.1.5.1. Chiều dài nền sọ (SN)
Chiều dài nền sọ (SN) là 72,2 mm. SN càng lớn càng làm giảm
nguy cơ NTLNTN cũng như NTLNTN trung bình nặng. Tuy nhiên,
mối liên hệ này không có ý nghĩa thống kê.
4.1.5.2. Góc giữa nền sọ và xương hàm trên (SNA)
Góc giữa nền sọ và xương hàm trên (SNA) là 82,9 độ. SNA
càng lớn càng làm tăng nguy cơ NTLNTN cũng như NTLNTN trung
bình nặng. Tuy nhiên, mối liên hệ này không có ý nghĩa.
4.1.5.3. Góc giữa nền sọ và xương hàm dưới (SNB)
Góc giữa nền sọ và xương hàm dưới (SNB) là 80,9 độ. SNB
càng lớn càng làm giảm nguy cơ NTLNTN cũng như NTLNTN trung
bình nặng. Tuy nhiên, mối liên hệ này không có ý nghĩa.
18
4.1.5.4. Góc giữa xương hàm trên và xương hàm dưới (ANB)
Góc giữa xương hàm trên và xương hàm dưới (ANB) có trung
vị là 2 độ. Góc ANB ≥ 2 độ không có liên quan NTLNTN nhưng lại
lại. Bệnh nhân buồn ngủ và rơi vào giấc ngủ khi ngồi yên hoặc khi
đang thực hiện các hoạt động có chủ đích và có thể dẫn đến lúng
túng, giảm năng suất làm việc, mất việc làm và tăng tỷ lệ tai nạn.
Buồn ngủ ban ngày là một triệu chứng quan trọng và thường là
triệu chứng mà bệnh nhân sẽ yêu cầu và chấp nhận điều trị. Buồn ngủ
thường phát triển trong một thời gian dài và rơi vào giấc ngủ khi
không có sự chú ý ví dụ như lúc xem TV, xem báo hay chờ đợi ở một
đèn giao thông.
4.1.6.4. Thang điểm Epworth
Ta thấy Epworth ≥ 7 có liên quan NTLNTN và mức độ nặng
của NTLNTN.
4.1.6.5. Đau đầu buổi sáng
Đau đầu buổi sáng có 23,3%. Đau đầu buổi sáng là tình trạng
giảm thông khí lúc đêm và ứ đọng khí cacbonic gây đau đầu lúc sáng
Trong nghiên cứu, ta thấy đau đầu buổi sáng có liên quan NTLNTN
nhưng không liên quan mức độ nặng của NTLNTN.
4.1.6.6. Buồn ngủ lúc lái xe
Buồn ngủ lúc lái xe có 20,1% và liên quan NTLNTN và mức
độ nặng của NTLNTN.
4.1.6.8. Kém tập trung khi làm việc
Kém tập trung khi làm việc có 21,2% và không liên quan
NTLNTN nhưng có liên quan mức độ nặng của NTLNTN. Cấu trúc
giấc ngủ bị phá vỡ và tình trạng giảm oxy tái diễn trong đêm làm tổn
20
hại chức năng nhận thức thần kinh và làm thay đổi khả năng tập
trung ban ngày do đó gây kém tập trung trong công việc.
4.1.7. Các bệnh lý đồng mắc của NTLNTN
4.1.7.1. Tăng huyết áp
máu không liên quan chẩn đoán NTLNTN nhưng có liên quan mức
độ nặng của NTLNTN. NTLNTN ngoài việc tăng mỡ máu, có bằng
chứng cho thấy stress thiếu oxy có thể ảnh hưởng đến sự tích tụ mỡ
và yếu tố viêm trong các cơ quan, cũng như sự tích tụ mỡ của toàn cơ
thể. Ngoài ra, NTLNTN ảnh hưởng đến tăng cân và có khả năng ảnh
hưởng đến việc tăng lắng đọng mỡ nội tạng so với mỡ dưới da.
4.1.7.7. Hội chứng chuyển hóa
Hội chứng chuyển hóa có 30,7%. Trong nghiên cứu, hội chứng
chuyển hóa liên quan NTLNTN cũng như mức độ nặng của
NTLNTN. Các cơ chế của NTLNTN trên rối loạn chuyển hoá bao
gồm: Thiếu ngủ, góp phần tác động có hại trên điều hoà đường huyết
hoặc qua con đường rối loạn điều hoà sự thèm ăn. Tăng hoạt động
giao cảm cùng với sự sai sót trong chức năng kích thích dinh dưỡng
dẫn đến giảm sản xuất insulin giống yếu tố tăng trưởng I tại gan.
Tăng các dấu ấn viêm như TNFα hoặc IL6 quan trọng trong phát
triển của hội chứng chuyển hoá.
4.1.8. Các yếu tố viêm
Stress oxy hóa và tình trạng viêm do NTLNTN gây ra góp
phần phát triển các tổn thương xơ vữa động mạch. Các gốc oxy hóa
kích hoạt các yếu tố phiên mã tiền viêm, như protein-1 và nuclear
factor-κB, kích thích sự sản xuất các cytokine gây viêm gây ra sự
tăng sinh của các tế bào mạch máu cơ trơn trong lớp nội mạc và sự
bám dính của bạch cầu ở lớp nội mạc.
Trong mẫu nghiên cứu, CRP có trung vị là 2 mg/l, TNFα là
4,66 pg/ml, IL1b là 1,5 pg/ml, IL6 là 3,8 pg/ml, IL10 là 1,8 pg/ml.
Tuy nhiên sự khác biệt của các chỉ số CRP, TNFα, IL1b, IL6, IL10 ở
2 nhóm AHI < 5 và AHI ≥ 5 lần/giờ cũng như giữa AHI < 15 và AHI
22
Qua nghiên cứu 189 bệnh nhân ta có kết quả sau:
1. Các đối tượng đến khám tại khoa Hô Hấp bệnh viện Chợ
Rẫy vì rối loạn giấc ngủ có tỉ lệ NTLNTN là 76,1% và NTLNTN
trung bình nặng là 50,8%.
2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng:
- Đặc điểm tuổi, giới: các đối tượng nhóm NTLNTN có tuổi
trung bình là 51,1 tuổi và tỉ lệ nam/nữ là 3,6/1.
- Các chỉ số cơ thể: đa số đối tượng nhóm NTLNTN là thừa cân
và béo phì với BMI là 26,6kg/m2, vòng cổ là 38,4cm, vòng eo là
93,1cm.
- Đặc điểm tai mũi họng: chưa phát hiện bất thường mũi và vòm
họng, Friedman 2 (89,6%) và Friedman 3 (10,4%), Friedman 1(0%).
- Đặc điểm các chỉ số sọ mặt: chiều dài nền sọ (SN) là 71,9 mm,
góc giữa nền sọ và xương hàm trên (SNA) là 82,9 độ, góc giữa nền
sọ và xương hàm dưới (SNB) là 80,8 độ, khoảng cách giữa xương
móng và mặt phẳng xương hàm dưới (H-MP) là 18,7 mm, góc giữa
xương hàm trên và xương hàm dưới (ANB) là 2 độ; Tỉ lệ đối tượng
có góc ANB ≥ 2 độ là 58,3%.
- Các triệu chứng lâm sàng: hay gặp nhất là các triệu chứng ngáy
to (90,2%), ngộp thở lúc ngủ (81,2%), buồn ngủ ban ngày (69,4%) và
thang điểm đánh giá buồn ngủ ban ngày Epworth ≥ 7 điểm (63,8%).
- Các bệnh lý đồng mắc với NTLNTN hay gặp nhất là tăng huyết
áp (37,5%), đái tháo đường típ 2 (10,4%), rối loạn mỡ máu (47,9%),
hội chứng chuyển hóa (36,8%).