1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngủ là một hoạt động sinh lý của con người, là nhu cầu bắt buộc giúp
con người tồn tại và phát triển. Những quan tâm về mặt y học đối với giấc
ngủ từ khoảng 1000 năm trước công nguyên. Tuy nhiên đến thế kỷ 19 y học
nhân loại mới bước vào nghiên cứu về giấc ngủ và phải gần một thế kỷ sau,
các tác giả mới thực sự mô tả về biểu hiện của hội chứng ngừng thở khi ngủ.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) là sự lặp lại liên tiếp hiện
tượng hẹp hoặc tắc nghẽn đường hô hấp trên vùng hầu họng trong khi ngủ dẫn đến
hậu quả giảm thở hoặc ngừng thở hoàn toàn mặc dù vẫn có tăng cường hô hấp [1].
Bệnh nhân mắc OSA bị suy giảm về nhận thức, giảm độ tập trung và trí
nhớ, mệt mỏi, căng thẳng, hoạt động tình dục kém, chất lượng cuộc sống
giảm sút cũng như chất lượng lao động của con người. Mặt khác nhiều nghiên
cứu cho thấy hội chứng này là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao
thông do triệu chứng buồn ngủ ban ngày quá mức cũng như sự suy giảm tập
trung chú ý mà hội chứng này gây ra.
Đây là một bệnh lý thường gặp ở người trưởng thành và gia tăng theo
tuổi với tỉ lệ mắc từ 4-7%. Người bị hội chứng OSA gia tăng nguy cơ mắc và tử
vong do bệnh lý tim mạch. Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng OSA
có thể đi kèm với cao huyết áp trong khoảng 50% trường hợp và ngược lại, trên
50% trường hợp cao huyết áp bị OSA, đặc biệt đối với những bệnh nhân tăng
huyết áp kháng trị thì tần suất của HCNTKN do tắc nghẽn là 80% [4], [5], [6].
HCNTKN do tắc nghẽn được coi là một bệnh lý nguy hiểm, vì nó làm
giảm đột ngột lượng oxy trong máu. Khi oxy trong máu giảm đột ngột gây tăng
huyết áp và tạo gánh nặng cho hệ tim mạch. Các công trình nghiên cứu gần đây
cho thấy HCNTKN do tắc nghẽn là yếu tố nguy cơ độc lập với một loạt các bệnh
lý tim mạch và thần kinh như bệnh lý bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy
tim, tăng huyết áp kháng trị và tai biến mạch não [9], [10], [11]. Mặc dù hội
hiểu thêm nhiều về cơ chế giấc ngủ. Một trong số quan niệm đó là ngủ không
khác gì trạng thái bất hoạt động, vì khi ngủ các hoạt động của cơ thể đều
chậm lại.
Ở người trưởng thành trung bình mỗi ngày cần ngủ từ 7 đến 8 giờ. Một
giấc ngủ bình thường một đêm gồm khoảng 4 đến 5 chu kỳ. Mỗi chu kỳ từ 90
đến 120 phút với những đặc điểm sau:
Chu trình đầy đủ của giấc ngủ được chia làm 2 giai đoạn chính là giai
đoạn không động mắt nhanh (Non REM) và giai đoạn động mắt nhanh
(REM), trong đó non – REM được chia làm 4 giai đoạn, hai giai đoạn đầu tiên
tương ứng với giấc ngủ chậm nông và hai giai đoạn sau tương ứng với giấc
ngủ chậm sâu.
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuyển từ buồn ngủ sang ngủ. Đặc điểm nhận
biết giai đoạn này là hoạt động điện não và điện cơ giảm dần.
Giai đoạn 2: Giai đoạn ngủ nông khi mà các vận động của mắt dừng
lai. Nhịp tim và nhiệt độ cơ thể giảm xuống. Đăc trưng của giai đoạn này là
hoạt động nền phối hợp với sự xuất hiện của các thoi ngủ và các phức bộ K
(K – complex) . Các thoi ngủ là các sóng hình sin tần số 12 – 14 hz, khoảng
trên 50 giây và biên độ dưới 50 microvolt. Chúng có thể xuất hiện tự phát
hoặc phối hợp với các phức bộ K. Phức bộ K gồm một sóng âm nhọn theo sau
bởi một thành phần chậm kéo dài ít nhất la 0.5 giây, biên độ trên 200
microvolt.
4
Giai đoạn 3 và 4: đặc trưng bởi sóng delta chậm. Mọi chỉ số sống giảm
xuống và cả cơ thể như bất động. Hoạt động của mắt và cơ là không có và rất
khó bị đánh thức.
Giai đoạn REM: Đặc trưng bởi hoạt động mạnh của não, sóng điện não
nhanh và không đồng bộ, tương tự như giai đoạn thức. Nhịp thở nhanh nông
thích hô hấp trở nên thấp nhất [14], [15].
1.2.2. Liên quan với hoạt động tim mạch
Cũng như biến đổi trong các hoạt động hô hấp, các biến đổi về tim
mạch khi ngủ cũng phụ thuộc vào các giai đoạn của giấc ngủ. Giai đoạn non REM, ảnh hưởng của hệ giao cảm lên độ sâu của giấc ngủ làm giảm nhịp tim
và huyết áp động mạch, làm giảm cung lượng tim. Đồng thời hoạt động phó
giao cảm tăng lên trong giấc ngủ cũng làm nhịp tim chậm lại. Trong giai đoạn
REM, nhịp tim và huyết áp động mạch có những dao động lớn làm thay đổi
cung lượng tim và huyết áp. Đây cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ xảy
ra các tai biến tim mạch như nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não vào đầu
buổi sáng [15]. OSA liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp, tăng áp lực động
mạch phổi, suy vành, rối loạn nhịp tim và là một trong các nguyên nhân gây
đột tử [16].
1.3. Các khái niệm về rối loạn giấc ngủ
Đại cương về giấc ngủ phân loai có tám nhóm chính, bao gồm [31]
- Mất ngủ
- Rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ
- Ngủ nhiều không liên quan đến các rối loạn hô hấp
- Rối loạn nhịp thức ngủ
- Các rối loạn trong giấc ngủ
- Rối loạn vận động liên quan đến giấc ngủ
- Các triệu chứng riêng rẽ, với các biến thể khác nhau
6
- Các rối loạn giấc ngủ khác
Theo Michael.T [31], rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ được phân
ra các phân nhóm nhỏ hơn bao gồm:
- Hội chứng ngừng thở trung ương khi ngủ.
- Ngừng thở khi ngủ tiên phát ở trẻ em.
lên chất lượng cuộc sống hậu quả về tim mạch, hô hấp, an toàn giao thông.
Năm 2004 tại Hàn Quốc, Kim và cs tiến hành nghiên cứu giấc ngủ tại
nhà trên 457 bệnh nhân trong đó nam giới chiếm 67,6%. Nghiên cứu ghi nhận
OSA là 4,5% ở nam và 3,2% ở nữ.
Năm 2007 Lu G nghiên cứu thấy có mối liên quan giữa hội chứng
ngừng thở khi ngủ và bệnh lý mạch vành [54].
Năm 2009, Ishida K và cộng sự theo dõi hiệu quả của biện pháp thở áp
lực dương liên tục trên 55 bệnh nhân, tác giả thấy nồng độ protein phản ứng
C (CRP) là một yếu tố nguy cơ cao của tim mạch giảm rõ rêt, từ đó cải thiện
các biến chứng và tỷ lệ tử vong do tim mạch [26].
Tại Nhật Bản năm 2010, Asaoka và cs sử dụng 3 kênh theo dõi giấc
ngủ tại nhà cho bệnh nhân dương tính với bảng điểm Epworth (ESS) và ngủ
ngáy, có cơn ngưng thở được chứng kiến, BMI > 25 kg ∕m 2 có kèm THA tiến
hành trên 370 bệnh nhân thu được tỷ lệ OSA là 3,7%.
1.34.1.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, cho tới nay vấn đề rối loạn giấc ngủ, đặc biệt là hội chứng
ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn bắt đầu được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên
do thiếu các phương tiện chẩn đoán hiện đại nên các nghiên cứu chuyên sâu
chưa có nhiều.
8
Năm 2009 Nguyễn Xuân Bích Huyên và cộng sự lần đầu tiên tiến hành
nghiên cứu tỷ lệ hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân
Việt Nam có ngáy và rối loạn giấc ngủ tại khoa hô hấp bệnh viện Chợ Rẫy.
Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định qua kết quả của đa ký hô hấp hoặc
đa ký giấc ngủ. Tác giả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng này trong
nhóm bệnh nhân đến khám vì ngáy và rối loạn giấc ngủ là 88,3%[30].
Năm 2010, trong hội nghị do Hội Phổi Pháp - Việt tổ chức, Nguyễn
nghiên cứu đặc điểm hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân
COPD thấy rằng OSA thường gặp trên bệnh nhân COPD hơn trong dân số
chung. Đây là nguyên nhân làm nặng thêm những biến chứng và tỷ lệ tử vong
của người bệnh.
1.34.2. Đặc điểm dịch tễ
Rối loạn giấc ngủ mới được nghiên cứu khoảng 40 năm trở lại đây và
mới thực sự được quan tâm trong khoảng 10 năm lại đây do người ta nhận
thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của những rối loạn này nhất là hội chứng ngừng thở
khi ngủ lên chất lượng cuộc sống và sức khỏe bệnh nhân.
Tần suất của OSA cũng tăng theo độ tuổi. Theo các nghiên cứu cho
thấy các bệnh nhân trên 65 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn gấp 3 lần so với
lứa tuổi 30- 64 tuổi.
Giới tính nam có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nữ, tỷ lệ nam là khoảng 27%
đến 35% trong khi đó ở nữ khoảng 12% nếu định nghĩa mắc bệnh với chỉ số
AHI > 5 biến cố ngừng thở, giảm thở trong một giờ.
Các nghiên cứu cũng cho thấy chủng tộc Mỹ gốc Phi có tỷ lệ mắc bệnh
cao hơn so với chủng tộc da trắng (yếu tố này độc lập với cân nặng). Một đặc
điểm đặc biệt là dân số Châu Á có tỷ lệ mắc bệnh tương đương với Mỹ (mặc
dù cân nặng trung bình của họ thì thấp hơn). Những điều này gợi ý rằng sự
10
khác biệt về chủng tộc là một yếu tố nguy cơ quan trọng, có thể do sự khác
biệt về cấu trúc sọ mặt [18].
Hiện nay có nhiều nghiên cứu cho thấy tần suất của OSA tăng trong
những bệnh lý khác. Đối với những bệnh nhân tăng huyết áp có 35% bệnh
nhân bị OSA, đặc biệt đối những bệnh nhân có tăng huyết áp kháng trị thì tần
suất của OSA là 80%, đái tháo đường type 2 là 35% và béo phì là 77%.
1.34.3. Sinh lý bệnh [1], [34], [35], [15]
của cơ dãn đường hô hấp trên lúc đầu hít vào.
2: Vùng hô hấp trên được duy trì tương đối hằng định trong suốt phần
còn lại của thì hít vào
3: Lúc đầu thì thở ra, cơ dãn đường hô hấp giảm hoạt động và đường thở
rộng ra
4: Kích thước đường hô hấp giảm nhanh đến cuối kỳ thở ra.
Như vậy, đường hô hấp rất dễ bị hẹp lại vào cuối kỳ thở ra, sự đóng
đường hô hấp trong lúc thở ra được quan sát ở bệnh nhân OSA.
1.34.4. Các yếu tố nguy cơ
Tại Hoa Kỳ, trên 12 triệu người mắc HCNTKN, trong đó tỷ lệ phụ nữ
trên 35 tuổi mắc hội chứng này là 2% và nam giới là 4%. Nam giới thường
mắc HCNTKN hơn nữ giới [36]. Nhóm phụ nữ có nguy cơ cao là béo phì và
mãn kinh [37]. Tỷ lệ ngừng thở tăng lên theo tuổi, thường gặp nhiều ở nam
giới và những người béo phì. Cổ to, ngắn, béo phì là các yếu tố nguy cơ của
ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ [38]. Béo phì làm tăng mô mỡ xung quanh
đường hô hấp trên, đồng thời làm tăng thể tích mỡ trong các tạng nhất là ở các
bệnh nhân béo phì trung tâm, từ đó giảm thể tích phổi. Đây là những điều
kiện thuận lợi dễ dẫn đến hẹp và tắc nghẽn đường hô hấp trên.
Tiền sử gia đình cũng là một yếu tố nguy cơ đáng chú ý. Tỷ lệ có rối
loạn hô hấp khi ngủ tăng gấp hai đến bốn lần trong nhóm có yếu tố gia đình.
12
Yếu tố gen cũng liên quan đến giải phẫu sọ - mặt và là yếu tố thuận lợi cho
ngừng thở khi ngủ ở những người có hình dáng sọ mặt đặc biệt, có cằm đẩy ra
sau [39]. Một vài nghiên cứu cho rằng rối loạn hô hấp khi ngủ có liên quan
đến uống rượu trước khi đi ngủ. Rượu làm giảm hoạt động của cơ lưỡi và các
cơ khác tham gia vào việc duy trì đường hô hấp trên. Giảm hoạt động của cơ
dẫn đến hẹp, tắc đường hô hấp trên và gây ra ngừng thở.
những hoạt động hàng ngày trong công việc. Một bảng câu hỏi nhanh và đơn
giản để tầm soát bệnh đó là thang điểm Epwoth, khi sử dụng bảng câu hỏi này
nên có sự tham gia của người ngủ cùng hoặc người nhà bệnh nhân.
- Buồn nôn, đau đầu vào buổi sáng gợi ý tình trạng tăng CO2 máu.
- Ngoài ra còn thấy các triệu chứng khác: Giảm độ tập trung, giảm chú
ý, suy giảm trí nhớ.
1.3.5.23. Thăm khám lâm sàng
Khám thực thể ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở khi ngủ chủ yếu
nhằm phát hiện các yếu tố nguy cơ của bệnh và các triệu chứng của bệnh kèm
theo khác.
- Đo chiều cao và cân nặng để tính chỉ số khối cơ thể ( Body Mass Index).
- Đo kích thước vòng cổ
- Khám tai - mũi - họng để phát hiện các bất thường đường hô hấp trên.
- Khám tim mạch: ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ thường xuất hiện ở
bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, bệnh mạch vành và tăng huyết áp [42].
Vì vậy việc thăm khám và phát hiện các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim
mạch cũng như các bệnh lý tim mạch là bắt buộc trên các bệnh nhân có nghi
ngờ hội chứng ngừng thở khi ngủ:
Khám tim: Phát hiện tiếng tim, tiếng thổi bất thường.
Khám động mạch (mạch, huyết áp).
Phát hiện các triệu chứng ứ máu nội tạng và ngoại vi (phổi, gan to, phù,…).
- Khám thần kinh: Phát hiện các thiếu sót về thần kinh tạm thời hoặc
các di chứng của tai biến mạch não trước đây.
1.3.6. Cận lâm sàng
14
1.3.6.1. Đa ký hô hấp
Đa ký hô hấp là kỹ thuật thăm dò cho phép chẩn đoán hội chứng
Ngừng thở hỗn hợp: Ban đầu là ngừng thở trung ương, sau đó là ngừng
thở hỗn hợp [33].
- Giảm thở
Giảm thông khí ít nhất 50% hay giảm thông khí dưới 50% có kèm giảm
độ bão hòa oxy trên 3% hoặc những cơn thức giấc ngắn.
- Hội chứng ngừng thở khi ngủ
Có các nhóm hội chứng ngừng thở: hội chứng ngừng thở khi ngủ tắc
nghẽn và hội chứng ngừng thở khi ngủ trung ương.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ tắc nghẽn: gặp trong phần lớn trường
hợp, là hậu quả của giảm lưu lượng hô hấp do hẹp đường hô hấp trên.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ trung ương: Các tín hiệu hô hấp từ trung
ương không dẫn truyền đến được cơ quan hô hấp, vì vậy không có gắng sức
hô hấp và không có lưu lượng khí dù đường hô hấp vẫn mở.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ hỗn hợp: Bắt đầu ngừng thở trung ương
sau đó ngừng thở tắc nghẽn.
16
Chẩn đoán xác định hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ dựa vào
đa ký giấc ngủ có từ 5 lần giảm thở và/ hoặc ngừng thở trong 1 giờ khi ngủ.
Các lần này có thể có giảm thở, ngừng thở hoặc thức dậy do tăng cường hô
hấp[46]. Để phân loại mức độ hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ,
người ta dựa vào chỉ số ngừng thở, giảm thở trong một giờ ( bảng 1.1). Số cơn
ngừng thở, giảm thở do tắc nghẽn được tính tổng, chia trung bình cho số giờ
ngủ sẽ thu được chỉ số ngừng thở - giảm thở do tắc nghẽn[46]
Bảng 1.1. Phân loại mức độ ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn[46]
Phân loại mức độ
Nhẹ
dụng. Nó cho phép đánh giá kích thước các buồng tim, bề dày, hình dạng tim,
các chỉ số chức năng tâm thất từng vùng, toàn bộ tâm thu, tâm trương, áp lực
động mạch phổi. Đánh giá phân số tống máu (EF%) là thông số quan trọng
phát hiện bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thu và bệnh nhân còn bảo toàn
chức năng tâm thu.
1.3.6.4 Các xét nghiệm khác
Bên cạnh các xét nghiêm cơ bản, định lượng hormon tuyến giáp chỉ
định nhằm phân biệt chứng buồn ngủ ban ngày có thể do suy giáp.
Xét nghiệm nước tiểu thường được tiến hành vì người ta nhận thấy rối
loạn chức năng của thận thường gặp trong HCNTKH do tắc nghẽn, đặc trưng
là tăng tỷ lệ protein niệu.
Chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ là phương tiện tốt nhất để đánh giá
đường hô hấp trên, mô mềm lân cận và cấu trúc sọ hầu. Trong hội chứng
ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn khi ngủ, cộng hưởng từ giúp xác định nguyên
nhân về giải phẫu gây hẹp đường hô hấp nếu có.
1.34.75. Nguy cơ Một số bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân có hội chứng ngừng
thở khi ngủ
18
Ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ thường xuất hiện ở bệnh nhân có bệnh
lý tim mạch, bệnh mạch vành và tăng huyết áp [42]. Các nghiên cứu về dịch
tễ học cho thấy HCNTKN đặc biệt là ngáy làm tăng tỷ lệ tai biến mạch máu
não và nhồi máu cơ tim [42].
Tăng huyết áp: Có mối liên quan giữa tăng huyết áp và ngừng thở do
tắc nghẽn khi ngủ. Đặc biệt tỷ lệ hội chứng này cao ở những bệnh nhân kháng
thuốc điều trị huyết áp [43].
Rối loạn nhịp tim cũng thường cũng rất thường gặp trong HCNTKN do
tắc nghẽn. Rối loạn nhịp xoang thường đi kèm với chu kỳ tắc nghẽn. Tần số
20
về tim và mạch máu não là 24% cao hơn đáng kể so với nhóm không có OSA
là chỉ có 5%. Ngoài ra, tỉ lệ tử vong ở nhóm có OSAHS cũng cao hơn là 38% so
với 9%, và tỉ lệ tái hẹp của nhóm có OSA cũng cao hơn là 37% so với 15%
Nghiên cứu của Milleron EHJ 2004 cho thấy điều trị OSA giảm số biến cố
tim mạch ở BN bệnh mạch vành: trong nghiên cứu của Milleron có 54 bệnh
nhân OSA và bệnh mạch vành với chỉ số AHI >15/h. Trong đó có 25 bệnh
nhân được điều trị OSA, kết quả là biến chứng lớn đối với tim và mạch máu
não trong nhóm bệnh nhân có điều trị OSA giảm đáng kể so với nhóm không
điều trị: 24% so với 58%
Hội chứng ngưng thở lúc ngủ và suy tim
• 50 % bệnh nhân suy tim có các rối loạn hô hấp trong giấc ngủ
• Thở kiểu Cheyne-Stokes (RCS) và hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi
ngủ (SAOS) có thể cùng tồn tại
• Người ta xem RCS như là 1 dạng rối loạn hô hấp trong lúc ngủ, nó có
lưu hành độ rất cao ở những bệnh nhân rối loạn chức năng thất trái nặng
(FE
nhân, chiếm khoảng 90-95% tổng số bệnh nhân THA
* Các tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA:
- Tim: phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp, dày thất trái, suy vành, suy
tim...
- Mạch não: xuất huyết não, tắc mạch não, TBMMN thoáng qua, bệnh
não do THA.
- Thận: đái máu, đái ra Protein, suy thận...
- Đáy mắt: phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ..
- Bệnh động mạch ngoại vi, phình tách động mạch chủ..
* Rối loạn nhịp tim
Những phát hiện từ nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ cao của rối loạn
nhịp tim ở bệnh nhân OSA và ngược lại. Nguyên nhân chủ yếu là do Các
bằng chứng cho rằng chính tình trạng thiếu oxy liên tục kết hợp với hệ thống
thần kinh giao cảm bị kích thích và tăng stress oxy hóa có thể dẫn tới tổn
thương tế bào cơ tim và các rối loạn về dẫn truyền [60].()
Tỷ lệ rung nhĩ về đêm ở bệnh nhân OSA ước tính vào khoảng 3% đến
5%().
Trong một nghiên cứu quan sát trên bệnh nhân béo phì, tỷ lệ rung nhĩ ở bệnh
nhân OSA là 4,3% so với 2,1% ở những bệnh nhân béo phì mà không OSA.
Ngoài ra, rung nhĩ cũng đã được tìm thấy cao hơn ở nhóm bệnh nhân bị
bệnh động mạch vành và OSA so với nhóm bệnh nhân động mạch vành
23
nhưng không OSA (32% so với 18%), nhóm bị suy tim và OSA so với nhóm
suy tim nhưng không OSA (22% so với 5%).
Một số bằng chứng rõ ràng cho thấy sự liên quan giữa rung nhĩ và
OSA.Năm Trong một nghiên cứu đánh dấu vào năm 2004, nghiên cứu của
của Gami và cs cho thấy sau khi hiệu chỉnh theo BMI, vòng cổ, tăng huyết áp,
mạch vành nặng nề hơn.
Nhồi máu cơ tim là một biến chứng nặng nề có tỷ lệ tử vong rất cao.
Theo Chi-Hang Lee tìm thấy một tỷ lệ cao của OSA trước đây không được
chẩn đoán ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phải nhập viện 65,7% [53].
Nhồi máu cơ tim là tình trạng hoại tử cơ tim do nguyên nhân thiếu máu
cục bộ, trên lâm sàng biểu hiện bằng cơn đau thắt ngực điển hình, khó thở ....
nếu nặng có thể đột tử hoặc số tim.
- Điện tâm đồ:
+ ST chênh lên hoặc chênh xuống > 0,1mV, sóng Pardee ở ít nhất 2
trong các miền chuyển đạo sau: D2, D3 và aVF, V1 đến V6, D1 và aVL.
+ Q mới, rộng ít nhất 30 ms và sâu 0,2 mV ở ít nhất 2 trong các miền
chuyển đạo trên.
+ Bloc nhánh trái hoàn toàn mới trên lâm sàng có thiếu máu cơ tim.
- Xét nghiệm máu: Có tăng các men tim: ALT, AST, CPK, CK-MB,
Troponin T, LDH....
* Suy tim
Theo một nghiên cứu của Rami N Khayat - Đại học bang Ohio,
Columbus,: ngưng thở khi ngủ được phát hiện ở bệnh nhân nhập viện vì suy
tim mạn mất bù cấp chiếm tới 70%,, nhất là ngưng thở khi ngủ trung ương sẽ
giúp tiên đoán nguy cơ tái nhập viện do bệnh tim tăng lên trong khoảng thời
gian từ 3 đến 6 tháng và tăng 2/3 tử vong sau 3 năm.
tTác giả nghiên cứu đề nghị nên tầm soát thường quy và điều trị ngưng
thở khi ngủ trung ương hoặc tắc nghẽn ở các bệnh nhân suy tim đang nằm
25
viện. Đây là một chiến lược có ích nhằm giảm tỷ lệ tái nhập viện vì suy tim
mạn mất bù cấp và tử vong sau đó[60].
Bác sĩ Rami N Khayat– Đại học bang Ohio, Columbus - thành viên