1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến trong cộng đồng. Bệnh
có thể gặp ở tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia đã phát triển
cũng như các quốc gia đang phát triển. Bệnh là nguyên nhân gây tàn phế và tử
vong hàng đầu ở người cao tuổi. Trong số các trường hợp mắc bệnh và tử
vong do tim mạch hàng năm có khoảng 35% - 40% nguyên nhân do THA.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì hàng năm có khoảng
9,4 triệu người chết do bệnh THA. Số người mắc bệnh THA tăng từ 600 triệu
người năm 1980 lên đến 1 tỷ người năm 2008. Theo ước tính đến năm 2025,
toàn thế giới có khoảng 1/3 dân số mắc bệnh THA.
Tại Việt Nam, trước 1950 bệnh THA ít được các y văn trong nước nói
đến, tuy nhiên trong những năm gần đây bệnh THA có chiều hướng gia tăng
rất rõ. Theo các số liệu điều tra, tỷ lệ bệnh THA ở tuổi lao động trong những
năm 60 là 1,8%, đến những năm 70 tăng đến 3%. Đến năm 2002, tỷ lệ THA
trong cộng đồng dân cư miền Bắc đã là 16,3%, ở thành phố Hồ Chí Minh năm
2004 là 20,5%.
Tăng huyết áp là một bệnh mãn tính mà phần lớn không tìm thấy nguyên
nhân. THA nguy hiểm vì bệnh thường diễn biến âm thầm không có triệu
chứng nhưng gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: tai biến mạch máu não,
suy tim, suy mạch vành, suy thận… phải điều trị lâu dài, cần sử dụng thuốc và
phương tiện kỹ thuật đắt tiền, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và là
gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Trong những năm tới số người mắc bệnh THA sẽ còn tăng do một số yếu
tố liên quan THA vẫn còn phổ biến như: hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh
dưỡng bất hợp lý, ít vận động... Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khống
chế được các yếu tố nguy cơ này sẽ làm giảm được 80% bệnh THA.
2
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa THA
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khi HA tối
đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương
(HATTr) ≥ 90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất
2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA.
Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều
nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác
nhau. THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác nhau: tai
biến mạch máu não, bệnh mạch vành…
1.1.2. Phân loại THA
Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây. Theo
WHO/ISH (năm 2003) chia lại THA làm 3 độ:
Bảng 1.1. Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003)
Phân độ THA
THA độ I
THA độ II
THA độ III
Huyết áp (mmHg)
Tâm thu
Tâm trương
140-159
90-99
140 - 159
90 – 99
THA độ II
≥ 160
≥ 100
- Cách phân loại THA tại Việt Nam: năm 2010, Bộ Y tế đã ban hành
Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày 31/8/2010 về hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị tăng huyết áp trong đó phân loại tăng huyết áp như sau:
Bảng 1.3. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
Phân độ huyết áp
Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm trương
(mmHg)
(mmHg)
HA tối ưu
< 120
và
và/hoặc
100 – 109
THA độ 3
≥ 180
và/hoặc
≥ 110
Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ
thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ
theo các mức biến động của huyết áp tâm thu.
5
1.2. Tình hình bệnh THA ở một số nước trên thế giới
Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức
cao, đặc biệt ở các nước phát triển. Tại các nước phát triển có hình thái bệnh
tật chuyển từ các bệnh nhiễm trùng sang các bệnh không nhiễm trùng là chủ
yếu, trong đó có bệnh THA. Nhìn chung các nghiên cứu về tình hình bệnh
THA ở một số nước trên thế giới đều cho kết quả tỷ lệ THA ở người trưởng
thành vẫn còn cao (trên 28%), có xu hướng tăng theo thời gian và tăng theo
nhóm tuổi.
Theo số liệu báo cáo của CDC – Hoa Kỳ từ năm 2003-2010, tỷ lệ THA
ở người trưởng thành ở Mỹ (từ 18 tuổi) là 30,4%. Còn trong nghiên cứu
16,05%. Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ THA
là 23,2%.
Theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 – 2002 của Việt Nam, tỷ
lệ THA ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và ở nữ giới là 13,5%.
Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố
nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 – 2002 (trên 5012 người)
cho thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,05%, trong đó THA độ I,
độ II, độ III lần lượt là 10,2%, 4,2%, 1,9%.
Kết quả điều tra năm 2007 tại Long Biên - Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc
bệnh THA của người cao tuổi tại đây là 47,7% và có xu hướng tăng dần theo
độ tuổi.
Nghiên cứu về mô hình bệnh tật tại bệnh viện và các trạm y tế xã tại
Đồng Tháp trong năm 2008 cũng cho kết quả là tăng huyết áp là nguyên nhân
thứ hai nhập viện tại các bệnh viện huyện và cũng là 1 trong 10 nguyên nhân
nhập viện nhiều nhất tại bệnh viện tỉnh.
Còn tại Hải Dương, theo tác giả Bùi Đức Long, tỷ lệ người dân (trên 18
tuổi) mắc bệnh THA tại huyện Chí Linh – tỉnh Hải Dương là 18,7% trong đó
có khoảng 32% người mắc bệnh THA đang được điều trị[].
Theo kết quả điều tra 1833 người dân tại thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh năm
2014 thì tỷ lệ mắc THA của người dân từ (từ 25 tuổi) ở đây là là 11,8%,
7
trong đó THA độ 1 chiếm 6,7%, THA độ 2 chiếm 3% và THA độ 3 chiếm
2,1% [29].
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất năm 2014, tỷ lệ người dân mắc THA
ở Việt Nam là 20,7% và thường gặp ở nam giới [30].
Đối với người cao tuổi, tỷ lệ mắc bệnh THA cao hơn so với nhóm ít tuổi
hơn. Ví dụ tại thành phố Huế năm 2009, số người trên 60 tuổi mắc bệnh THA
Nghiên cứu từ năm 2009 đến 2010 trên 25.196 người trưởng thành từ
18-74 tại 33 khu vực thành thị của Trung Quốc cũng chỉ ra rằng yếu tố giới,
tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, chỉ số BMI, vòng eo và tiền sử
gia đình có người mắc THA có mối liên quan mật thiết với tình trạng mắc
bệnh THA. Trong đó, tỷ lệ nam giới mắc THA là 32,9% cao hơn ở nữ giới
(24,7%). Theo tuổi, tỷ lệ tăng huyết áp tăng dần theo nhóm tuổi, từ 19,8% ở
nam và 4,7% ở độ tuổi 18-34 tuổi tăng lên tương ứng là 56,5% và 60,4% ở độ
tuổi 65-74 tuổi. Theo trình độ học vấn, tỷ lệ tăng huyết áp có mối liên quan
nghịch nghĩa là trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ măc THA càng thấp, tỷ lệ
này trong nhóm không đi học là 52% ở nam và 43,9% ở nữ có xu hướng giảm
dần và thấp nhất trong nhóm có trình độ từ THPT trở lên tương ứng là 27,5%
ở nam và 10,1% ở nữ. Theo chỉ số BMI, tỷ lệ THA tăng rõ rệt ở nhóm thừa
cân và béo phì ( chỉ số BMI > 25). Ở nam giới,tỷ lệ THA ở nhóm thừa cân và
béo phì tương ứng là 43,7% và 70,6% trong khi tỷ lệ này ở nhóm người có
cân nặng bình thường là 24,9%. Tương tự như vậy, ở nữ giới tỷ lệ THA ở
nhóm thừa cân và béo phì tương ứng là 40,1% và 55,2% trong khi tỷ lệ măc
THA ở người có cân nặng bình thường là 17,1% [21].
Tại Bồ Đào Nha, nghiên cứu của tác giả Pereira M và cộng sự cũng cho
thấy mối liên quan mật thiết giữa tuổi và chỉ số BMI với tình trạng mắc bệnh
THA của 2.310 người trưởng thành tại thành phố Porto từ năm 1999 đến năm
2003 [23].
9
Tại Nam Phi, tiến hành nghiên cứu 231 nữ sinh viên da đen tại 01 trường
đại học miền Bắc nước này năm 1994 về ảnh hưởng của các yếu tố : trọng
lượng, chiều cao,vòng mông và vòng bụng tới THA, kết quả cho thấy BMI và
WHR có mối tương quan với THA và tuổi. Trong đó, BMI và WHR có mối
tương quan thuận với cả HA tâm trương và HA tâm thu ( p< 0,01), có nghĩa
tăng. Hiện nay, bệnh THA đã được WHO và nhiều quốc gia chú trọng, đưa ra
nhiều biện pháp tích cực, trong đó có tăng nguồn kinh phí cho công tác phòng
chống bệnh. Để có những giải pháp hữu hiệu trong phòng chống bệnh THA,
chúng ta cần nghiên cứu một cách có hệ thống, ở nhiều địa phương khác
nhau. Xây dựng những mô hình thí điểm trong việc phát hiện sớm, quản lý và
điều trị tại cộng đồng. Mặt khác, xác định được các yếu tố nguy cơ gây bệnh
THA để áp dụng các giải pháp can thiệp cộng đồng nhằm phòng mắc bệnh
THA, giảm tỷ lệ tử vong do nguyên nhân THA vào thời gian tới.
1.5. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức, thực hành đối
với bệnh THA
1.5.1. Trên thế giới
Để góp phần vào công tác quản lý và điều trị bệnh nhân THA, tại nhiều
quốc gia người ta đã tiến hành các nghiên cứu đánh giá về kiến thức, thực
hành về bệnh THA trong cộng đồng.
Nghiên cứu khả sát 1019 người dân đang sinh sống tại Luân Đôn – nước
Anh trong năm 2014 cho thấy có tới 52% người dân không trả lời được
khoảng giá trị huyết áp bình thường [36].
Một nghiên cứu khác tại Mông Cổ 2010 trên 3450 người trưởng thành
cho thấy có tới 20% người dân chưa hề biết khái niệm huyết áp. Trong đó,
những người đàn ông trẻ có kiến thức về chủ đề này kém hơn so với phụ nữ,
người dân ở thành thị có kiến thức tốt hơn về chủ đề này so với người dân ở
nông thôn [37].
11
Trong khi đó, tại Thụy Sỹ - một đất nước có thu nhập cao, nghiên cứu tại
nước này trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2009 cho thấy số người dân
có hiểu biết kém về căn bệnh THA đã giảm đi trong vòng 10 năm, từ tỷ lệ
36% xuống còn 17,7% [18].
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho thấy số người bị bệnh THA mà chưa biết bệnh của
mình lên tới 41,2% [29].
Nghiên cứu năm 2005 tại Việt Nam trên 17.199 người dân từ 25-64 tuổi
cho thấy chỉ có 26% bệnh nhân THA hiểu biết về tình trạng sức khỏe của
mình [30].
Nghiên cứu những bệnh nhân khám BHYT tại Tp. Hồ Chí Minh trong
năm 2009 về kiến thức kiểm soát các yếu tố nguy cơ THA cho thấy 81,2%
bệnh nhân có kiến thức tốt về kiểm soát ăn mặn, 80% bệnh nhân thực hành
các biện pháp kiểm soát bệnh THA theo tư vấn của bác sĩ [39].
Cũng tại Tp. Hồ Chí Minh, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Út (năm
2007) cho thấy những bệnh nhân THA thường áp dụng biện pháp kiểm soát
ăn mặn (70%) và tăng cường hoạt động thể lực (90%) để thuwch hành điều trị
bệnh THA [40].
Trong nghiên cứu của tác giả Trần Thiện Thuần ( năm 2006) cho thấy
những bệnh nhân THA ở Tp. Hồ Chí Minh có tỷ lệ thiếu kiến thức và thiếu
thực hành theo dõi bệnh ở mức 50%. Mà nguyên nhân được đề cập chính ở
đây là do người bệnh có trình độ học vấn thấp, thiếu nguồn thông tin tư vấn
cung cấp về bệnh THA [41].
Kết quả điều tra năm 2007 của tác giả Nguyễn thị Thúy tại Long BiênHà Nội cho thấy tỷ lệ người cao tuổi có kiến thức đạt về dấu hiệu của bệnh
THA là 9%. Những người có kiến thức đạt về biến chứng của bệnh chiếm tỷ
lệ 4,8%. Số người có kiến thức đạt về các yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ 23,6%.
Khoảng 26% số người có kiến thức đạt về các biện pháp phòng bệnh. Người
13
cao tuổi ở Long Biên thường theo dõi huyết áp 1-3 lần/tuần (50,7%), số người
theo dõi huyết áp 4 lần/tuần trở lên chiếm tỷ lệ khoảng 40%. Có 37,5% người
cao tuổi mắc bệnh sử dụng thuốc Tây y để điều trị, số người sử dụng thuốc
Đông y chiếm tỷ lệ 19,8%.Có khoảng 50% số người bị bệnh áp dụng biện
những rối loạn về tâm thần hoặc từ chối không tham gia nghiên cứu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.2.1. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính cho chỉ số chính của nghiên cứu là tỷ lệ một số yếu
tố nguy cơ tim mạch chính và theo công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô
tả cắt ngang.
15
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau:
Z21-α/2 p(1-p)
d2
• Với p là tỷ lệ ước đoán mắc tăng huyết áp ở quần thể người dân ≥ 25 tuổi
n=
• d là độ chính xấc tuyệt đối lấy bằng 0,03.
• Z1-α/2 là hệ số tin cậy, bằng 1,96 với độ tin cậy 95%.
Dựa vào tần suất tăng huyết áp là 25% thì cỡ mẫu theo thứ tự được tính là
437 người cho mỗi điểm điều tra. Do cỡ mẫu được chọn theo nhiều tầng và để
tránh sai số do cách thức thiết kế nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu nên
chúng tôi nhân đôi cỡ mẫu vì vậy cỡ mẫu cho tăng huyết áp là 874, làm tròn
khoảng 900 người cho một điểm nghiên cứu (mỗi tỉnh hay thành phố). Như
vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 900 người dân > 25 tuổi.
2.4.2.2. Phương pháp chọn mẫu:
Chọn theo các bước sau:
Bước 1: Chọn tỉnh/ thành phố: Tỉnh Thái Bình
- Các chỉ số về thể lực: Tất cả các đối tượng điều tra đều được khám để
thu thập các số liệu về chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng hông, chỉ số huyết
áp tâm thu và chỉ số huyết áp tâm trương.
• Đo chiều cao (cm) bằng thước dây không co giãn có vạch chia đến mm,
đo 2 lần sau đó lấy trị số trung bình.
• Đo cân nặng (kg), sử dụng cân bàn có độ chính xác đến gram, đo 2 lần
sau đó lấy trị số trung bình.
• Tính chỉ số khối cơ thể BMI: BMI = Cân nặng (kg) / Chiều cao2 (m)
- Đo vòng eo bằng thước dây không co giãn: đối tượng đứng thẳng, thoải
mái, hít thở đều, dùng thước dây, đo ngang qua điểm giữa từ bờ trên mào
17
chậu hai bên và đỉnh của xương sườn cuối cùng, đảm bảo rằng thước đo ở
vịtrí nằm ngang, đọc số đo đến mm.
- Đo vòng hông cũng bằng thước dây không co giãn: đối tượng đứng
thẳng, thoải mái, hít thở đều, dùng thước dây đo ngang qua hai lồi cầu xương
đùi hai bên đảm bảo rằng thước đo ở vị trí nằm ngang, đọc số đến mm.
Đo vòng eo, hông theo qui luật sau:
Vòng eo lần 1
Vòng hông lần 1
Vòng eo lần 2
Vòng hông lần 2.
Số đo vòng eo và vòng hông là trung bình cộng của 2 số đo lần 1 và lần 2.
- Đo huyết áp: bằng huyết áp tự động với băng quấn ở cánh tay phù hợp
Thừa cân:
23≤ BMI < 25
Béo phì:
BMI≥25
Phân loại vòng eo
Theo tiêu chuẩn của WHO 2000 áp dụng cho người trưởng thành Châu Á.
Vòng eo bình thường:
Nam 90
cm;Nữ > 80cm
2.4.4. Chẩn đoán tăng huyết áp
Theo Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng tăng huyết áp được Bộ Y
tế ban hành năm 2010.
Bảng phân độ THA
TT
1
2
3
4
Viết đề cương, bảo vệ đề cương
nghiên cứu
Tập huấn nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu
Lập danh sách xác định số lượng các địa điểm đối
tượng nghiên cứu, chuẩn bị vật liệu N/C
Phỏng vấn đối tượng
theo bộ câu hỏi tại
Khám lâm sàng
địa điểm
Nhập, xử lý số liệu, viết báo cáo
Báo cáo nghiệm thu đề tài
20
CHƯƠNG 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ
CHƯƠNG 4
DỰ KIẾN BÀN LUẬN
and developed countries. JHypertens 2009, 27(5):963-975.
5.
Whitworth JA: 2003 WorId Health Organization (WHO)/ĩnternational
Society of Hypertension (ISH) statement on management of
hypertension. JHypertens 2003, 21(11): 1983-1992.
6.
Lim ss, Gaziano TA, Gakidou E, Reddy KS, Farzadfar F, Lozano R,
Rodgers A: Prevention
of
cardiovascular
disease
in
high-risk
individuals in low-income and middle-income countries: health effects
and costs. Lancet 2007, 370(9604):2054-2062.
7.
Nissinen A, Berrios X, Puska P: Community-based noncommunicable
disease interventions: lessons from developed countries for developing
ones. Bull World Health Organ 2001, 79(10):963-970.
Asaria p, Chisholm D, Mathers c, Ezzati M, Beaglehole R: Chronic
disease prevention: health effects and fínancial costs of strategies to
reduce
salt
intake
and
control
tobacco
use.
Lancet
2007,
370(9604):2044-2053.
13.
Funk KL, Elmer PJ, Stevens VJ, Harsha DW, Craddick SR, Lin PH,
Young DR, Champagne CM, Brantley PJ, McCarron PB et al:
PREMIER--a trial of lifestyle interventions for blood pressure control:
intervention design and rationale. Health Promot Pract 2008, 9(3):271280.
14.
knowleđge on the role of physical activity in the prevention and
treatment of diabetes and hypertension: a population-based study in
Southern Brazil]. Cad Saude Publica 2009, 25(3 ):513-520.
19.
Wang z WY, Zhao L, et al.: Trends in prevalence, awareness, treatment
and control of hypertension in the middle-aged population of China,
1992 — 1998. Hỵpertension Res 2004, 27:703-709.
20.
Vietnam-National-Heart-Institue:
Survey
on
hypertension
in
vietnamese adult population. In. Hanoi: Vietnam National Heart
Institute; 1992.
21.
Vietnam-National-Heart-Institue:
Epidemiologycal
Vietnam-Prime-Minister’s-Offce.: Decision77/2002/QD-TTg:
Ratiíication of programme of prevention and control of certain
noncommunicable diseases for the period 2002-2010. In.; 2002.
27.
Vietnam-Prime-Minister’s-Offíce.: Decision No. 172/2008/QD-TTg on
the Approve of the National Targeted Programme of Prevention and
Control of Hypertension. In.; 2008.
PHỤ LỤC
PHIẾU ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG DỰ ÁN TĂNG
HUYẾT ÁP 2012 - 2015
(DÀNH CHO NGƯỜI DÂN)
Phần hướng dẫn cho người hỏi
1. Giới thiệu vài nét vê bản thân và giải thích ngắn gọn về mục đích Ch
2. Giải thích với người được phỏng vấn về cách chọn đối tượng điệu tra.
3. Hỏi người được phỏng vân để xem có đồng ý tham gia cuộc điêu tra ha'
4. Nếu người được phỏng vấn từ chối không tham gia cuộc điều tra, hãy ghi lại vò
5. Hoàn thành tờ cam đoan trước khi tiến hanh phỏng vấn..
ý không.
)o tờ cam đoan.
HÀNH CHÍNH
101
Họ và tên người được hỏi:
Số HGD:[.........]
Tổ/ Xóm:.............................................................
[
] Mã
106
Ngày điều tra:......................./....../2015
Phần cam đoan của người được phỏng vấn
SAU KHI ĐƯỢC GIẢI THÍCH VỀ MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA CUỘC ĐIỀU TRA,
CÁC QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ, TÔI ĐỒNG Ý THAM GIA CUỘC ĐIỀU TRA
NÀY.
NGƯỜI ĐƯỢC PHỒNG VÁN KÝ TÊN: ...........................................
NGƯỜI LÀM CHỨNG KÝ TÊN:.....................................................
Ngày nhập số liệu:
/ /2015; Người nhập số liệu:.........................
CÁC CÂU HỎI ĐIỀU TRA