Luận văn: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thức ăn đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei giai đoan PL1 đến PL 10 tại công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam doc - Pdf 20


………… o0o…………

Luận văn
Nghiên cứu sự ảnh hưởng
của thức ăn đến sự tăng
trưởng và tỷ lệ sống của tôm
thẻ chân trắng Penaeus
vannamei giai đoan PL1 đến
PL 10 tại công ty cổ phần
chăn nuôi CP Việt Nam
LỜI CẢM ƠN
1
Để hoàn thành bài báo cáo thực tập cuối khóa này tôi nhận được sự giúp đở
rất từ nhiều từ phía nhà trường và công ty nơi tôi thực tập. Tôi xin chân thành
cám ơn Trường ĐH Quảng Bình, Thầy cô giáo khoa Nông Lâm-Thủy sản, Giảng
viên hướng dẫn: Trần Thị Yên. Ban giám đốc công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt
Nam chi nhánh Bình Định III, cùng toàn thể công nhân viên của công ty đã tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành tốt kỳ thực tập vừa qua. Một lần nữa tôi xin chân
thành cảm ơn !
MỤC LỤC Trang
2
1
1. Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 11
2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ từ PL1-PL10 33
DANH SÁCH CÁC BẢNG
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam với diện tích đất liền 329.297 km
2
, vùng biển rộng hơn 1 triệu km

1. Vai trò chiến lược của vị trí địa lý tỉnh Bình Định
Bình Định nằm ở vị trí trung tâm của miền Trung và cả nước; phía Bắc giáp
tỉnh Quảng Ngãi - nơi có khu công nghiệp Dung Quất; phía Nam giáp tỉnh Phú
Yên có nhiều tiềm năng phát triển về du lịch dịch vụ; phía Tây giáp Tây
Nguyên- giàu tiềm năng thiên nhiên cần được khai thác. Với vị trí địa lý đặc
biệt đó nên Bình Định có một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế miền Trung và Tây Nguyên. Hệ thống
đường quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt cùng với đường 19 lên Tây Nguyên
và cảng biển nước sâu Quy Nhơn - Nhơn Hội tạo thành huyết mạch cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của Bình Định, miền Trung và Tây Nguyên, cũng
như khu vực tiểu vùng sông Mê Kông bởi trục đường hành lang Đông- Tây:
Quy Nhơn - Kon Tum - Aptopo - Bắc Xế - Ubon Rat Cha Tha Ni, trục hành
lang này có chiều dài khoảng 770km; mặt khác từ Quy Nhơn lên đường 19 đến
Kon Tum và theo đường 14 rẽ về phía Nam đến Stung Ố Treng (Campuchia).
Huyện Phù Mỹ: Là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định. Phú Mỹ
giáp các huyện Hoài Nhơn phía bắc, nam và tây nam giáp Phù Cát, tây bắc giáp
Hoài Ân và biển đông ở phía đông. Theo thống kê năm 2005 thì huyện Phù Mỹ có
diện tích là 548,9km2 với dân số khoảng 188.000 người, trong đó riêng số nữ
5
chiếm tới 96.700 người. Mật độ dân số là 342 người/ km
2
.
Phù Mỹ cũng như Bình Định trước đây thuộc về nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đó
thuộc sứ Việt Thường Thị rồi sau này thuộc về vương quốc Chămpa. Năm 1471,
sau khi đánh phá Chiêm Thành và mở bờ cõi tới núi Thạch Bi ( Phú Yên), vua Lê
Thánh Tông đã đặt phủ Phù Ly để cai quản những cư dân Chiêm Thành còn ở lại
và những tù nhân hay dân nghèo miền bắc được đưa vào. Sau này qua mấy lần
nhập tách thì Phù Ly được chia đôi thành Phù Cát và Phù Mỹ lấy dòng sông La
Tinh làm ranh giới. Trong những năm chịu sự quản lý của chính quyền Sài Gòn
nơi đây được gọi là phủ Phù Mỹ. Sau 1975 được đổi thành huyện Phù Mỹ.

o
C, nhiệt độ cực đại
6
39,9
o
C và cực tiểu 15,8
o
C. Tổng nhiệt độ năm trong tỉnh (tại Quy Nhơn) đạt
9.636
o
C vượt tiêu chuẩn 9.500
o
C của khí hậu xích đạo.
- Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm 22,5 - 27,9 % và độ ẩm tương
đối từ 79 - 92 % tại khu vực miền núi; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung
bình là 27,9 mb, cực đại 32,7 mb và cực tiểu 20,0 mb. Độ ẩm tương đối trung
bình là 79 % và cực tiểu là 31 %.
- Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối với khu
vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa
mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài từ tháng 1 - 8. Đối với các huyện miền núi
tổng lượng mưa trung bình năm từ 2.000 - 2.400 mm. Riêng thung lũng sông
Kôn từ 1.600 - 2.000 mm. Vùng có tổng lượng mưa trung bình năm lớn nhất là
huyện An Lão (2.400 - 3.200 mm). Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa
trung bình năm là 1.751 mm, cực đại là 2.658mm và cực tiểu là 1.131 mm.
Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải.
Riêng ở phía Bắc tỉnh có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
- Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miền
thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam
- Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tần suất xuất
hiện bão lớn nhất từ tháng 9 - 11.

Nói tới Phù Mỹ bây giờ là nói đến chuyện phát triển nghề nuôi tôm trên cát. Quả
thật, về Mỹ An và Mỹ Thắng vào những ngày này, trong câu chuyện của người
dân, ta dễ dàng nhận thấy bóng dáng của con tôm. Ông Huỳnh Văn Nam – Phó chủ
tịch UBND huyện Phù Mỹ cho biết: "Bên cạnh 2.000 ha ao đầm đã được khai thác
lâu nay, huyện đã hợp đồng nghiên cứu xây dựng quy hoạch vùng nuôi tôm trên
cát để mở rộng khả năng nuôi trồng. Quy hoạch này do Viện Hải dương học Nha
Trang thực hiện, chính Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tác An – Viện trưởng chủ trì. Bản
quy hoạch đã được các cơ quan thẩm định đánh giá rất cao. Tiếp đó hợp phần quy
hoạch chi tiết được các chuyên gia của trường Đại học thủy lợi II thực hiện. Kết
quả chúng tôi đã có một vùng nuôi tôm trên cát rộng 500 ha trong đó diện tích rừng
chắn cát rộng 300ha, diện tích hồ nuôi trồng là 200ha. Huyện đã đầu tư hoàn chỉnh
cơ sở hạ tầng đường giao thông, tiêu thoát nước, kéo điện đến chân công trình ao
hồ. 120ha hồ tôm đầu tiên đã được triển khai xong ở Mỹ An, 80 ha còn lại của Mỹ
Thắng hiện đang được khẩn trương thực hiện. Khu nuôi tôm này là điểm nhấn
quan trọng để thể hiện năng lực khả năng phát triển của Phù Mỹ, bởi giá trị kinh tế
của con tôm thì ai cũng đã biết rồi!"
Ngoài ra cùng với Tuy Phước, Vân Canh, An Nhơn; Phù Mỹ là huyện có nguồn đá
ốp lát, đá xây dựng thuộc loại phong phú nhất. Chưa có những cuộc điều tra, khảo
8
sát để đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ tiềm năng, chủng loại, trữ lượng đá
granite của Phù Mỹ (trừ mỏ đá đen tuyền Phù Hà – Mỹ Hòa được đánh giá sơ bộ
có trữ lượng khoảng 4,5 triệu m3) nhưng điều có thể nói ngay là những loại đá đẹp
nhất, có giá trị cao nhất mà thị trường đang chú ý hầu hết đều có đủ ở huyện này.
Có thể kể đến những mỏ đá sắc xanh ở Mỹ Thành, đá sắc đỏ ở Mỹ Đức, đá sắc
trắng, vàng tổ ong, đen tuyền ở Mỹ Hòa. Cho đến nay trên toàn địa bàn huyện vẫn
mới chỉ có 2 đơn vị tổ chức khai thác đá granite với lượng khai thác hãy còn rất
thấp. Một khi quốc lộ 1A được nâng cấp xong, các cụm công nghiệp được mở
rộng, kinh tế phát triển đồng thời huyện cũng cải thiện sự hấp dẫn của chính sách
hỗ trợ, trải thảm đỏ mời nhà đầu tư thì tình thế sẽ khác hẳn.
Trong những năm qua, các công trình nghiên cứu quốc gia về tuyển quặng

triển hoàn toàn tiềm năng di truyền và nâng cao thành tích sản xuất, an toàn cho
con người khi tiêu thụ vật nuôi ( không có hoocmon tăng trưởng mà bộ Nông
nghiệp và phát triển Nông Thôn nghiêm cấm ), an toàn cho môi trường .
Để hổ trợ cho việc phát triển ngành thức ăn gia súc, giúp ngành chăn nuôi
của Việt Nam phát triển theo hướng nông nghiệp và nâng cao hiệu quả cho các
trang trại, Công Ty đã xây dựng : Nhà máy dụng cụ và thiết bị chăn nuôi tại khu
công nghiệp Biên Hòa 2 Tỉnh Đồng Nai, 3 Trại gà giống Bố Mẹ và 3 Nhà máy Ấp
Trứng tại Tỉnh Đồng Nai.
Nhiều trại heo giống ông bà ở các tỉnh : Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương,
Lâm Đồng
Nhà máy thứ 4 đang được khởi công xây dựng và sẽ đi vào hoạt động tháng
1 năm 2008 tại khu công nghiệp Mỹ Phước với công suất 35.000 tấn /tháng . Đây
là nhà máy có công nghệ sản xuất hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á.
Với đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm của Phòng thu mua, phòng thí nghiệm,
phòng bán hàng, phòng kỷ thuật ….và được sự hổ trợ của các chuyên gia của tập
đoàn C.P trên thế giới . Ngành thức ăn gia súc của công ty C.P.Việt Nam luôn
đứng đầu về chất lượng và doanh số bán hàng trên thị trường.
Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Đinh III, nằm ở
thôn Xuân Thạnh xã Mỹ Ăn huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định. Trại giống được xây
dựng với diện tích khoảng 6ha. Đây là mọt trong những trại sản xuất tôm giống lớn
nhất Việt Nam, sản xuất giống dựa trên công nghệ tiên tiến của Thái Lan. Hệ thống
trại bao gồm:
- Hệ thống văn phòng làm việc của ban giám đốc
- Khu nhà nghỉ của giám đốc và công nhân viên.
10
- Bộ phận thí nghiệm gồm: 1 phòng Vi khuẩn, 2 phòng PCR, 1 phòng kiểm
tra chất lượng nước, 1 phòng kiểm định chất lượng, 1 phòng nuôi cấy tảo thí
nghiệm ( Lab), 1 nhà ấp Artemia, 1 nhà nuôi tảo ống, 8 nhà nuôi tảo sinh khối
( Mass).
- Khu tôm bố mẹ (Maturation) gồm 4 nhà, mỗi nhà có 32 bể x 24m

+ 1 đôi mắt kép có cuống mắt.
11
+ 2 đôi râu: Anten 1(A1) và Anten 2(A2). A1 ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, hai
nhánh ngắn. A2 có nhánh ngoài biến thành vẩy râu (Antennal scale), nhánh trong
kéo dài. Hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng bằng.
+ 3 đôi hàm: đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2.
+ 3 đôi chân hàm (Maxilliped) có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ hoạt động
bơi lội của tôm.
+ 5 đôi chân bò hay chân ngực (walking legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy.
Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum ( cơ quan sinh dục ngoài, nơi
nhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang).
 Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi
là chân bụng ( Pleopds hay Swimming legs). Mỗi chân bụng có một đốt chung bên
trong. Đốt ngoài chia làm hai nhánh: Nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7
biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp cho
tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy. Ở tôm đực, hai nhánh trong của đôi
chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực- là bộ phận sinh dục bên ngoìa của tôm.
Màu sắc của tôm: tôm có màu trắng đục.
1.1.3. Đặc điểm phân bố và nguồn gốc
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích
đạo Ðông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh), phân bố chủ yếu ở ven
biển Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung Pêru,
nhiều nhất ở biển gần Ecuador . Hiện nay tôm chân trắng đã có mặt hầu hết ở các
khu vực ôn và nhiệt đới bao gồm Đài Loan, Trung Quốc và các nước ven biển
thuộc khu vực Đông Nam Á.Tôm Thẻ Chân Trắng có thể sống ở độ sâu 72m, đáy
bùn, nhiệt độ nước ổn định từ 25- 32°C, độ mặn từ 28- 34 ‰, pH từ 7,7- 8,3 , giai
đoạn tôm con sống ở vùng cửa sông, giai đoạn trưởng thành sống ở biển sâu.
1.2. Đặc điểm sinh trưởng và sự lột xác
1.2.1 Các thời kỳ phát triển và vòng đời của Tôm Thẻ Chân Trắng
(Litopenaeus vannamei Boone, 1931)

độ thích hợp, đảm bảo cho việc lọc thức ăn của ấu trùng. Ngoài hình thức ăn lọc,
ấu trùng Z vẫn có khả năng bắt mồi và ăn được các động vật nổi có kích thước nhỏ
( Nauplius của Artemia, luân trùng ) đặc biệt vào cuối giai đoạn này-Z3. Mỗi giai
đoạn phụ của ấu trùng Z thườnh kéo dài khoảng 30- 40h, trung bình 36h ở nhiệt độ
28-29°C.
+ Giai đoạn Mysis (M):
Giai đoạn này gồm có 3 giai đoạn phụ ( M
1
- M
3
), ấu trùng M sống trôi nổi
có đặc tính treo ngược mình trong nước, đầu chúc xuống dưới. Ấu trùng M bơi lội
kiểu búng ngược, vận động chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bò. Ấu trùng M bắt mồi
chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi. Tuy nhiên, chúng vẫn có thể ăn tảo
Silic, đặc biệt là ở giai đoạn phụ M
1
và M
2
. Thời gian chuyển giai đoạn của M
cũng gần giống với giai đoạn Z.
+ Giai đoạn Postlarvae (PL):
Hậu ấu trùng PL đã có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện,
nhánh trong anten 2 chưa kéo dài. PL bơi thẳng có định hướng về phía trước, bơi
lội chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bụng, PL hoạt động nhanh nhẹn và bắt mồi chủ
động, thức ăn chủ yếu ở giai đoạn này là động vật nổi. Tuổi của PL được tính theo
13
ngày, đầu giai đoạn PL sống trôi nổi, từ PL
3
hoặc PL
5

 Thời kỳ trưởng thành
Tôm có khả năng tham gia sinh sản, chúng sống ở vùng xa bờ, nơi có đodj
trong cao và độ mặn ổn định.
b) Vòng đời của Tôm Thẻ Chân Trắng
Ở thời kỳ ấu niên và thiếu niên Tôm Thẻ sống ở vùng cửa sông. Ở giai đoạn
sắp trưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản lần đầu thì
chúng sống ở vùng triều ở độ sâu khoảng 7- 20m nước. Đối với những con trưởng
thành và sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chúng di chuyển ra vùng biển
khơi ở độ sâu khoảng 70m nước và tham gia sinh sản tại đây.
Trứng và ấu trùng Mysis sống và phát triển tại vùng biển khơi theo dòng
nước trôi dạt vào bờ. Khi đến vùng triều thì ấu trùng đã chuyển sang giai đoạn
Postlarvae và tiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào vào vùng cửa sông, phát triển
thành ấu niên và tiếp tục vòng đời của chúng.
14
1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của Tôm Thẻ Chân Trắng
(Litopenaeus vannamei Boone, 1931)
(Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2006)
Sự tăng trưởng về kích thước của Tôm Thẻ có dạng bậc thang, thể hiện sự
sinh trưởng không liên tục. Kích thước giữa hai lần lột xác hầu như không tăng
hoặc tăng không đáng kể và sẽ tăng vọt sau mỗi lần lột xác. Trong khi đó sự tăng
trưởng về trọng lượng có tính liên tục hơn. Tôm Thẻ có tốc độ tăng trưởng tương
đối nhanh, tốc độ tăng trưởng tùy thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển,
giới tính và điều kiên môi trường, dinh dưỡng
Từ ấu trùng đến đầu thời kỳ thiếu niên, không có sự khác biệt về tốc độ tăng
trưởng giữa tôm đực và tôm cái. Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối thời kỳ thiếu niên, con
cái lớn nhanh hơn con đực.
 Sự tăng trưởng của ấu trùng
Sự tăng truởng về chiều dài của ấu trùng tôm như sau: Giai đoạn Nauplius
tăng trên dưới 10%/1 lần lột xác. Lần lột xác từ N
6

2
chuyển sang M
3
tăng >20%. M
3
chuyển sang P
1
tăng 12,6%. Trong giai đoạn
Postlarvae, sự tăng trưởng về chiều dài không đều, đa số ≤ 10%/ lần lộ xác.
Tỉ lệ chiều rộng và chiều dài cơ thể (R/D) lớn nhất ở giai đoạn Nauplius
(50%). Riêng N
1
, R/D = 53,1%. Tỉ lệ này giảm trong quá trình sinh trưởng, sau
mỗi lần lột xác cơ thể thon hơn. Tỉ lệ R/D thấp nhất từ P
1
đến P
4
(R/D = 1/10), sau
đó tăng lên từ P
5
đến P
13
và giảm từ P
13
đến P
17.
Từ P
17
đến P
21

mặn 10- 25‰) tôm tăng trưởng nhanh có thể thu hoạch đạt loại 3, loại 2 sau 2,5 – 3
tháng nuôi.
 Tuổi thọ của tôm Thẻ
Tôm Thẻ có tuổi thọ ngắn, tuổi thọ của tôm đực thấp hơn tôm cái. Trong
điều kiện sinh thái tự nhiên, nhiệt độ nước 30- 32°C, độ mặn 20- 40‰ từ tôm bột
đến thu hoạch mất 180 ngày, cỡ tôm thu trung bình 40g/con, chiều dài từ 4cm tăng
lên tới 14cm. Tuổi thọ trung bình của Tôm Thẻ > 32 tháng.
c) Sự lột xác
 Cơ chế sinh học của quá trình lột xác
Để sinh trưởng được, tôm cũng như tất cả các động vật chân khớp khác phải
tiến hành lột xác. Sự lột xác chỉ là kết quả cuối cùng của 1 quá trình phức tạp, trải
qua nhiều giai đoạn, được chuẩn bị từ nhiều ngày hoặc nhiều tuần trước đó. Quá
trình chuẩn bị diễn ra ở tất cả các mô có liên quan thông qua hoạt động như: huy
động nguồn lipid dự trữ ở gan, tụy, sự phân bào gia tăng và các ARN thông tin
được tạo thành và tiếp theo là quá trinh sinh tổng hợp các protein mới. Trong thời
gian này trạng thái của tôm cung thay đổi.
+ Giai đoạn sau lột xác
Là giai đoạn kế tiếp ngay sau khi tôm lột xác. Đây là khoảng thời gian từ khi
nước được hấp thụ và máu qua biểu bì, mang, ruột để làm tăng thể tích máu, căng
lớp vỏ mới còn mềm dẻo cho đến khi lớp vỏ mới đã cứng lại. Giai đoạn này có thể
kéo dài đối với tôm lớn hoặc vài giờ đối với tôm nhỏ.
+ Giai đoạn giữa lột xác
Đây là giai đoạn dài nhất theo sự phân chia này. Suốt giai đoạn này võ đã
xứng lại nhờ sự tích tụ chất khoáng và protein. Vỏ dày và đầy đủ cả 3 phần.
+ Giai đoạn trước lột xác
Lớp mô sừng ngoài nới hình thành vào đầu giai đoạn trước lột xác. Cuối giai
đoạn trước lột xác hình thành tiếp lớp giữa mô sừng mới. Lúc này lớp vỏ cũ đã
16
bong ra khỏi lớp biểu bì ở phía dưới làm cho vỏ tôm có màu trắng đục. Đây là một
trong những dấu hiệu để nhận biết sự lôt xác sắp xảy ra.

độ cứng đều có sự ảnh hưởng đến sự lột xác. Việc bón vôi thường xuyên ở các ao
nuôi ít thay nước sẽ làm tăng độ cứng của nước làm cản trở sự lột xác xủa tôm.
+ Chu kỳ lột xác có liên quan đến chu kỳ thủy triều, thông thường đầu chu
kỳ thủy triều tôm mới lột xác rộ.
2.3. Đặc điểm dinh dưỡng và nhu cầu về chất của tôm thẻ chân trắng
(Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2006)
a) Đặc điểm dinh dưỡng
17
Trong thiên nhiên thức ăn của tôm thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và có
liên quan mật thiết đến sinh vật phù du và sinh vật đáy. Tôm chân trắng là động vật
ăn tạp.
 Giai đoạn Nauplius
Tôm dinh dưỡng bằng noãn hoàng dự trữ, chưa ăn thức ăn ngoài. Đến cuối
N
6
hệ tiêu hóa bắt đầu có sự chuyển động nhu động.
 Giai đoạn Zoea
Ấu trùng Zoea thiên về ăn lọc, ăn mồi liên tục, thức ăn là thực vật nổi, chủ
yếu là tảo Silic như: Skeletonema costatum, Chaetoceros, ossinodiscus, Nitzschia,
Rhizosolena Ở giai đoạn này ấu trùng ăn mồi liên tục, thức ăn trong ruột không
ngắt quảng, đuôi phân dài cho nên mật độ thức ăn trong môi trường nước phải đạt
mật độ đủ cho Zoea có thể lọc mồi liên tục suốt giai đoạn này. Mật độ thức ăn tăng
dần từ Z
1
đến Z
3
. Ngoài hình thức ăn lọc là chủ yếu, ở giai đoạn này ấu trùng còn
có khả năng bắt mồi chủ động. Khả năng này tăng dần từ Z
1
đến Z

nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis (2002) là 32%.
Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích hợp hơn cả, trong đó
khẩu phần ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng.
Men tiêu hoá protein của tôm chủ yếu ở dạng trypsine, không có pepsine (Vonk,
1970). Ngoài ra trong dạ dày tôm có 85% số vi khuẩn tạo thành chitinase. Ngoài
việc cung cấp dinh dưỡng, quan trọng nhất là giúp tôm có khả năng tiêu hoá
chitinase một phức hợp của protein.
 Hydratcacbon
Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng
60% năng lượng cho hoạt động sống của động vật). Tuy khả năng sản sinh ra nhiệt
lượng của hydratcacbon kém hơn so với lipid, song hydratcacbon lại có ưu thế hoà
tan được, vì vậy quá trình tiêu hoá hấp thu dễ dàng.
Ở giáp xác có nhiều men tiêu hoá hydratcacbon như: amylaza, maltaza, kitinaza,
cellulaza (Kooiman, 1964), nhờ đó giáp xác có thể tiêu hoá một thành phần
cellulose nên chúng có thể ăn thực vật và rong tảo.
Thức ăn nhiều xơ sẽ đưa kết quả xấu vì cơ quan ruột, dạ dày của tôm ngắn, thức ăn
nhanh chóng đi qua và thời gian tiêu hoá bị hạn chế. Nhưng chất xơ đóng vai trò là
chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vật sống trong ống tiêu hoá, vì vậy trong
thức ăn tôm người ta thường bổ sung khoảng 5% bột cỏ hoặc rong biển. Ngoài vai
trò là chất nền trong chất xơ tồn tại một lượng nước nhất định, chính lượng nước
này có tác dụng duy trì dịch ruột làm tăng quá trình hấp thu chất dinh dưỡng.
 Lipid
Cùng với Hydratcacbon thì chất béo tạo ra năng lượng. Nếu năng lượng của
thức ăn quá thấp thì tôm sẽ sử dụng nguồn năng lượng từ các dưỡng chất khác, như
protein để thoả mãn nhu cầu về năng lượng, làm nâng cao chi phí thức ăn. Nếu năng
lượng trong thức ăn quá cao thì sẽ làm giảm sự hấp thu thức ăn và chất đạm tiêu hoá
không đủ để tôm phát triển.
19
Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6% - 7,5% không nên quá 10%. Với
hàm lượng lipid trong thức ăn >10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tăng tỉ lệ

nhánh trong của đôi chân bò 2 biến thành.
20
 Cơ quan sinh dục cái
Cơ quan sinh dục cái bên trong bao gồm một đôi buồng trứng và ống dẫn
trứng, đôi ống dẫn trứng đỗ vào 2 lỗ đẻ ở đốt ngoài đôi chân ngực 3.
Cơ quan sinh dục cái bên ngoài là Thelycum, có nhiệm vụ nhận và giữ túi
tinh từ tôm đực chuyển sang. Thelycum nằm giữa đôi chân ngực 4 và 5.
 Sự phát triển buồng trứng ở Tôm Thẻ
Sự phát triển buồng trứng ở Tôm Thẻ được chia làm 5 giai đoạn. Các đặc
điểm chính của từng giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1 ( chưa phát triển): buồng trứng mềm, nhỏ, trong, không nhìn
thấy qua vỏ kitin, giai đoạn này chỉ có ở tôm con.
+ Giai đoạn 2 ( phát triển): buồng trứng lớn hơn kích thước ruột, có màu
trắng đục, hơi vàng, rải rác có các tế bào sắc tố đen (tế bào melamin) khắp bề mặt.
+ Giai đoạn 3 ( gần chín): kích thước buồng trứng tăng nhanh, màu vàng
xanh đến xanh nhạt, có thể nhìn thấy rõ qua vỏ kitin.
+ Giai đoạn 4 ( chín): kích thước buồng trứng đạt cực đại, căng tròn, sắc nét.
Ở đốt bụng thứ 1, buồng trứng phát triển lớn, chảy xệ sang hai bên tạo thành cánh
tam giác.
+ Giai đoạn 5 (đẻ rồi): kích thứoc buồng trứng vẫn lớn nhưng buồng trứng
mềm và nhăn nheo, các thùy không căng như giai đoạn 4, buồng trứng có màu xám
nhạt. Trong buồng trứng vẫn còn trứng không đẻ.
2.4.2. Sự giao vĩ và đẻ trứng ở tôm Thẻ
 Sự giao vĩ
Hoạt động giao vĩ của Tôm Thẻ xảy ra chủ yếu vào đêm tôm đẻ trứng. Tôm
cái đựoc gắn túi tinh trước khi đẻ vài giờ hoặc có thể được gắn trước đó vài ngày
( lột xác  thành thục  giao vĩ  đẻ trứng).
Ban đầu một hoặc nhiều con đực cùng đuổi theo con cai ở phía sau. Con đực
thường dùng chủy và râu đẩy nhẹ dưới đuôi con cái. Khi tôm cái rời đáy bơi lên
phía trên, tôm đực bơi theo và tiến lên phía dưới con cái. Sau đó, tôm đực lật ngữa

các nước Châu Mỹ đã mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển cho nghề nuôi
tôm thẻ chân trắng ở các vùng sinh thái trên thế giới. Ở các quốc gia châu Á, nhiều
nước di nhập và nuôi tôm thẻ chân trắng như Đài Loan, Trung Quốc, Philippin,
Thái Lan, Malaixia, Ấn Độ.
Ở Việt Nam, tôm thẻ chân trắng đã được di nhập vào những năm 2001 từ
nhìu quốc gia khác ( Mỹ, Trung quốc) cho sản xuất giống và nuôi thương phẩm.
Các công trình nghiên cứu về đối tượng này tại Việt Nam là chưa có. Vì thế, để
22
phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam cần phải có nghiên cứư xây dụng
quy trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng tại Việt
Nam, góp phần sử dụng có hiệu quả hệ sinh thái các thuỷ vực nuôi là vấn đề cấp
thiết và cấp bách. Kết quả nghiên cứu trong thời gian 2 năm (2003-2004) về "
Nghiên cứư áp dụng quy trình sản xuất giống và cơ sở khoa học phục vụ quy
hoạch vùng nuôi tôm chân trắng sẽ giải quyết được những vấn đề trên".
1.2. Tình hình Sản xuất giống tôm thẻ chân trắng tại địa điểm nghiên cứu
Tại nơi nghiên cứu có 2 công ty sản xuất giống tôm thẻ chân trắng, thứ nhất là công ty
cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Định III, thứ hai là công ty cổ phần
Việt Úc.
2. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống tôm trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.1. Nghiên cứu về sản xuất giống
Vào giữa năm 1990 đã thành công trong việc nuôi tôm thẻ chân trắng trên
thế giới là kết quả của việc có khả năng nuôi giống tôm bố mẹ có nguồn gốc từ
Mỹ. Phương pháp đầu tiên được thực hiện được bởi viện Hải Dương Học, Hawaii,
đã bắt đầu xây dựng giống không nhiễm bệnh từ phương pháp chọn lọc theo kiểu
chọn dòng.
Vào 2002 công ty CP Group tại Thái Lan đã xây dựng trung tâm cải tiến
giống tôm thẻ chân trắng đạt năng suất và tỷ lệ sống cao.
Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ nước lên số lượng và tỷ lệ dị hình của tinh trùng
trong điều kiện nuôi nhốt 42 ngày, Pazec và ctv nhận thấy ở nhiệt độ 26

chân trắng vào nuôi từ năm 1997 ở Bạc Liêu (công ty Duyên Hải), sau đó ở Phú
Yên (công ty Asia Hawaii Ventures), ở Ninh Thuận (công ty Anh Việt) và Hà Tỉnh
(công ty công nghệ Việt Mỹ); việc sản xuất giống tôm thẻ chân trắng chỉ dừng lại ở
mức tự cung tự cấp trong nội bộ diện tích của các đơn vị nói trên và nhìn chung tỷ
lệ sống trung bình từ Nauplius đến Post dưới 30% (Lại Minh Hưng, 2005).
Từ năm 2002 các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu
quy trình sản xuất giống thẻ chân trắng như: Viện Hải Dương Học Nha Trang
(nguồn tôm bố mẹ do công ty Việt Linh cung cấp từ Hawaii), viện nghiên cứu
NTTS III Nha Trang nguồn tôm bố mẹ do công ty Asia Hawaii Ventures Phú
Yên), viện nghiên cứu NTTS I Hà Bắc (nguồn tôm bố mẹ do công ty Việt Đức
cung cấp)
Năm 2003, tại trại giống Hạnh Phúc Phú Yên hợp đồng với chuyên gia Thái
Lan sản xuất tôm sú sạch kết hợp với sản xuất thử nghiệm Post từ Nauplius tôm
thẻ chân trắng đạt tỷ lệ sống bình quân 30%.
Hiện nay đã có nhiều trung tâm, trại giống sản xuất tôm thẻ chân trắng đạt năng
suất cao như: Trại giống công ty Việt Úc, trại của Viện Nghiên Cứu NTTS III,
công ty Anh Việt.
Và đã có một số nghiên cứu, đề tài về tôm thẻ chân trắng đã được thực hiện
tại một số địa bàn và đã có kết quả như sau:
24
- Trung tâm Nghiên cứu thủy sản 3 là đơn vị duy nhất được bộ thủy sản chỉ định
nghiên cứu áp dụng kỹ thuật sản xuất giống và cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch
vùng nuôi tôm thẻ chân trắng. Kết quả: Đây là đề tài NCKH cấp nhà nước tiến
hành từ 4.2003 đến 12.2004 kết thúc. Đến thời điểm này chúng tôi đã xây dựng
được các chỉ tiêu kỹ thuật trong sản xuất giống và định mức chất lượng tôm bố,
mẹ, trại giống tôm bố, mẹ cũng như các tiêu chuẩn về thiết bị, nhân công, nhân
lực Kết quả nghiên cứu đã được báo cáo lên Bộ Thủy sản. Và khuyến cáo người
dân không tiến hành sản xuất giống tôm chân trắng tại các trại giông tôm sú và
giống tôm khác.
- Theo tạp chí thuỷ sản, số 12/2005: Đào Văn Trí - Nguyễn Thành Vũ Viện nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status