Thơ của các danh nhân An Nam
Trần-Thái-Vương đưa Thiên-sứ Trương-Hiển-Khánh (Trương-Hiển-
Khánh đi sứ An Nam hai lần)
Mảy may thẹn chửa đáp ơn sâu,
Hút mắt sông cồn những ngán ngao.
Vỏ kiếm gió thu reo mỏn ngựa,
Án thư bóng nguyệt lọt rường lầu1.
Én về cõi bắc khôn lưu trú,
Nhạn biệt trời nam những gợi sầu.
Nghiêng lọng2 bao giờ ngày tái-ngộ?
Tiễn đưa thơ hứng tạm vài câu.
Nội-phụ An-nam quốc-công Thiện-Lạc Lão-nhân (5 bài)
Xuất quốc:
Bỏ nước ra đi nhớ tự ngày,
Lòng trung cánh cánh có trời hay.
Chẳng qua Vi-Tử buồn Ân mất3,
Há phải Văn-Công trốn nước ngoài4.
Nghề mọn cơ cầu noi nghiệp trước5,
Tiếng thơm sử sách để sau nầy.
Ngày nay bốn biển chung đường lối 6
Nhà cũ xa trông núi Việt dài.
Chầu yến ở đền Đại-Minh
Ngọc-ban chầu chực áng mây hồng,
Mặt nhật hây hây khí ấm lồng.
Sao sáng muôn ngôi chầu hướng bắc,
Nước triều trăm ngọn chảy về đông.
Vần thơ Trạm-Lộ khoan thai hát 7,
Khúc nhạc Quân-Thiên phưởng phất mòng8.
Mầm mọn, mảy lông ơn chúa cả,
Báo đền nguyện hết tấm lòng trung.
Gió xuân gạt lệ xót xa tình.
Bỗng dưng con tạo ghi năm tháng,
Chẳng quản người ta có tử sinh.
Mây trắng muôn trùng che cố-quốc,
Đất vàng một nấm lấp phương danh.
Chống trời lực lượng theo giòng nước,
Giòng nước trôi xuôi cứ thái-bình.
Trần-Nhân-Vương (tứ thế), Trúc-Lâm Đại-Sĩ biếu Thiên-sứ Trương-
Hiển-Khánh bánh xuân
Thôi múa cành dâu 22, thử áo xuân,
Ngày nay hàn-thực 23 lại đương tuần
Mâm sơn hồng ngọc, bánh xuân-thể,
Tục cũ An-nam cứ mỗi lần.
Thơ tiễn chân Thiên-sứ Lý-Trọng-Tân và Tiêu-Phương-Nhai
Chén đưa vân-dịch 24 nức hương bay ,
Gió mát khôn ngăn khách trở giày.
Chẳng biết hai ngôi sao sứ-giả,
Trời nam còn chói mấy hôm nay?
Tiễn Thiên-sứ Ma-Hiệp và Kiều-Nguyên-Lãng
Trời Việt hai ngôi sao sứ-giả,
Hào-quang thai-phủ rọi ba vòng.
Ơn trên tình nặng bao hân cảm,
Nước mọn lễ sơ những thẹn thùng.
Lam-chướng xông pha người mạnh khỏe,
Gió xuân giong ruổi ngựa thung dung,
Chiếu ban Trung-Thống 25 lời ôn hậu,
Lo nước bâng-khuâng khỏi bận lòng.
Kiều-Nguyên-Lãng họa vần
Ngũ-Lĩnh mây mù khách ruổi giong,
Mai xuân mới điểm một vài bông.
Thời bình, Hán đổi kỷ-nguyên mới,
Đức rộng, Thuấn ban tuế-lịch chung.
Lại được Tam-công dời bước đến,
Càng thêm xuân-sắc nhuận tư-dung.
Bài III: Thơ đưa trình Thiên-sứ (nguyên tác Hán-văn dùng nguyên vận
bài trên)
Chín vạc vững bền tợ Thái-Sơn 30,
Mưa hòa gió thuận khói mù tan.
Khắp trời ngọc lụa chầu Nghiêu, Thuấn,
Trăm họ đàn ca học Khổng, Nhan.
Đồng trụ chẳng cần phiền Mã-Viện,
Bồ-Tiên 31 ai lại ngợi Lưu-Khoan 32.
Thánh ân lộng lẫy mây lành phủ,
Mát mẽ làm mưa rưới thế-gian.
Bài IV: Thơ tiễn Thiên-sứ Sát-Chi-Ngõa và Triệu-Tử-Kỳ.
Ngựa trạm bon bon lướt gió mù,
Lập lòe sao sứ rọi biên-khu.
Chí trai bốn biển ra ăn nói,
Lòng chúa muôn phương vốn ái-ưu.
Lời ngọc phẩm để sông núi Việt,
Tiếng tơ nhuần thấm móc mưa Chu.
Ngày mai cách trở, mây nam bắc,
Khuyên cạn hôm nay rượu một bầu.
Lão Quốc-thúc Chiêu-Minh-Vương, Lạc-Đạo Tiên-Sinh 33 (2 bài)
Bài I: Tặng Thiên-sứ bọn Sài-Trang-Khanh và Lý-Chấn.
Một phong phụng-chiếu xuống Thiên-đình,
Muôn dặm hoàng-hoa ruổi sứ-trình.
Khuyết bắc áo xiêm giành tiễn biệt,
Cõi nam cây cỏ thảy nghe danh.
Khen chê oai phúc vua theo miệng,
Thăm thẳm trời đông ngắm Túy-San.
Nội-phụ An-Vũ-Sứ Lại-Ích-Quy ngày Nguyên-Đán triều hội.
Rọi khắp trời nam bóng thái-dương,
Dịch-đình gốc liễu ngựa dừng cương.
Ba lần, áo mão hô muôn tuổi 35,
Một dấu xa thư hệt bốn phương 36.
Hương nhả túy-vân hơi thấm nhuận,
Rượu nghiêng kim-hải sáo du-dương.
Bầy tôi múa nhảy, trời gang tấc,
Mưa móc ơn nhuần chúa đoái thương.
Họa bài thơ vịnh Đông-sơn Phiêu-Nhiên-Lâu của Tham-Nghị Hứa-
Công
Trước đình thu-hứng bóng trăng mờ,
Sắc núi đầy lầu hỏi vận thơ
Mình tợ hoa sen ra nước chậm,
Lòng như tơ liễu sớm bùn dơ.
Quyển Kinh đã kém vui người ẩn,
Bầu rượu nên cùng hẹn kẻ ưa.
Khắp cảnh Lang-Hồ nương cửa ngắm,
Bụi trần phơi phới chẳng lòng mơ.
Lê-Tắc (15 bài)
Nội-phụ
(Năm Giáp-Thân niên-hiệu Chí-Nguyên (1284), quan-quân (quân nhà
Nguyên) vào biên-cảnh, Thế-Tử khiến con người anh, Chương-Hiến-Hầu
(Trần-Kiện) đem bọn Tắc ra chống cự, sức yếu hèn đầu hàng).
Mười trượng lâu-thuyền vào vịnh Việt,
Tướng quân buộc lụa bên thành hàng 37
Ngày nay nhất-thống triều Trung-Quốc,
Sông ấy xin thề, tôi tiểu-bang 38,
Từ thuở cánh lông vào phụ thuộc,
Đô thành
Tỏ rõ trời mai bóng ráng xa,
Sắm sanh ruổi ngựa dạo Kinh-hoa.
Ba nghìn cung cấm trong mây hiện,
Trăm vạn lâu đài dước móc sa.
Hết lạnh trước cung hoa chớm nở,
Mừng xuân trên liễu quạ kêu òa.
Thái-bình khí-tượng nay nhường ấy,
Mới biết bằng trời phúc chúa ta.
Ngày Trùng Cửu nhớ Chương-Hiến-Hầu
Lâu không lên núi, chẳng ngâm nga,
Trùng cửu hôm nay lại viếng hoa.
Trên ngựa cửa tây còn chạnh nhớ 50,
Chiếc ngao tay trái lửng khuây khoa 51.
Tóc thay hai mái ngày thêm bạc,
Rượu uống vài chung kẻo nữa già.
Cái bướm con ong còn biết thú,
Trăng thanh gió mát nỡ hoài qua.
Tặng Thượng-thư Sát-Lý-Ngõa đi sứ An-Nam về.
Hoa mai đường an ổn,
Thượng-thư về bắc phương.
Non sông muôn dặm khách,
Thôn xóm hai bên đường.
Nam-Việt thông chàng Lục,
Ngọc-quan vượt gã Trương.
Hoàng-Hoa vốn thạo việc,
Mừng lại thấy quân-vương.
Tặng Lang-Trung Triệu-Tử-Kỳ
Hạ quốc chầu Thần-Cực52,
Giao-Châu ngời sứ-tinh.
Nhà Thiện-lạc tháng bảy mồng ba 63.
Trân-trọng môn-đồ đầu bạc trắng 64,
Say xuân tạm mượn chén lưu-hà.
Chiều hôm chơi hồ Lang-Trung, làm thơ theo vần của Tải-Đạo
Quanh rào thưa thớt bờ lau lách,
Lấp lánh trên hồ bóng thái-dương.
Người đứng gần chim trời sắp tối,
Hoa cười bên liễu nước dường gương.
Việc đời phiền-phúc ghê đôi mắt,
Lòng khách bồi-hồi vịnh một chương.
Mừng gặp Văn-Ông vui thưởng thức65,
Lời quê bia tạc dựng bên đường.
Tặng Phó-Dữ-Lệ đi sứ An-Nam về
Núi hú đười-ươi, trúc gọi quyên,
An-nam sứ-giả xuống long-thuyền.
Chiếu ban Diên-Chỉ vui lòng đón 66,
Thơ đến Kê-Lâm dội tiếng truyền 67.
Tiết ngọc giữ gìn thêm vũ-lộ,
Tuổi xanh qua lại mỗi phong yên.
Đầu sông mái tóc phơ phơ trắng,
Lục-Giả còn ghi buổi sứ biên.
Vịnh cây bá của vua Đại-Võ ở núi Đại-Biệt
Trải bấy xuân thu ý hững hờ,
Người truyền Vũ-Bá tự nghìn xưa.
Thần-công từ thuở Ân, Chu trước,
Nguyên-khí một cành Giang, Hán trơ.
Lách tách đồng-long trời muốn tối 68,
Thâm trầm mộc-hổ tuyết sa mờ 69
Lấm bùn truyện cũ toan dò hỏi 70,
Cái quạ bay đâu vắng miễu thờ.