Chương 1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
I. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học
a. Khái niệm triết học
Triết học xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII - VI trước công nguyên ở thời kỳ cổ đại gắn liền với sự hình thành và
phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ với tính cách là một khoa học; nhưng xem xét triết học trong quá trình hình thành
và phát triển của lịch sử tư tưởng xã hội thi những tư tưởng triết học xuất hiện rất sớm được thể hiện ở những tư
tưởng đạo đức, tôn giáo và thẩm mỹ trong xã hội nguyên thủy. Đặc biệt trong lịch sử tư tưởng phương Đông.
Triết học theo chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, bao hàm sự hiểu biết sâu rộng của con người về hiện
thực và vấn đề đạo lý của con người.
Theo người Ấn Độ, triết học là Darshana, có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để
dẫn dắt con người đến lẽ phải.
Theo chữ Hy Lạp triết học là “yêu mến sự thông thái” hoặc “làm bạn với trí tuệ”, xuất phát từ một thành
ngữ la tinh là philosophia.
Như vậy, nội dung thuật ngữ triết học bao hàm hai yếu tố: đó là yếu tố nhận thức (sự hiểu biết của con
người, sự giải thích hiện thực bằng hệ thống tư duy lôgíc) và yếu tố nhận định (đánh giá về mặt đạo lý để có thái
độ và hành động) về mặt xã hội. Dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học biểu hiện khả năng
nhận thức và đánh giá của con người về hiện thực, nó tồn tại với tính cách là một hình thái ý thức xã hội.
Sự ra đời của triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.
Nguồn gốc nhận thức khẳng định triết học chỉ xuất hiện khi mà trình độ nhận thức của con người có khả
năng khái quát và trừu tượng hóa những cái riêng lẻ, cụ thể để nắm bắt được cái chung, cái bản chất và qui luật của
hiện thực. Bởi, đối tượng triết học là thế giới vật chất và con người được triết học nghiên cứu dưới dạng các qui
luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Nguồn gốc xã hội khẳng định triết học chỉ xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp. Bởi, nó phản ánh
và bảo vệ lợi ích cho những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định với tính cách hệ tư tưởng của các giai cấp
khác nhau. Cho nên, triết học mang tính giai cấp.
Trải qua quá trình phát triển, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Trong các quan điểm khác nhau đó
vẫn có những quan điểm chung. Đó là, tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát,
nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất, tìm ra các qui luật phổ biến của nó trong tự nhiên, xã hội và tư
duy.
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí và vai trò của con người đối
được coi la triết học đoạn tuyệt với quan niệm triết học “khoa học của các khoa học”. Triết học mácxít xác định đối
tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật là
nghiên cứu các qui luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học phương Tây hiện đại muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu
riêng. Đó là khuynh hướng tiếp tục ý đồ vượt lên trên sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; xa
rời phép biện chứng; phá vỡ sự thống nhất giữa bản thể luận, nhận thức và lôgíc học, v.v…
Triết học phương tây hiện đại đã đặt ra những vấn đề cấp bách về mối quan hệ giữa triết học và khoa học và tính
chất chuyên ngành trong triết học; nhưng nhìn chung, họ chưa giải quyết một cách triệt để của một số vấn đề cấp
bách đó.
Cố nhiên, triết học bao giờ cũng đặt ra và giải quyết bằng lý luận những vấn đề về thế giới quan và phương pháp
luận, như vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, về bản chất và tính thống nhất thế giới của vật chất, về khả
năng nhận thức của con người ở các phương diện khác nhau.
2. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của
triết học
a. Vấn đề cơ bản của triết học
Trong tác phẩm “Lút vích Phoiơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ăngghen đã viết: “Vấn
đề cơ bản lớn của mọi triết học, nhất là triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại; giữa ý thức và
vật chất, giữa tinh thần và giới tự nhiên”
[1]
.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất nhằm xác định ngôi thứ, tính quyết định hay phụ thuộc trong mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức để trả lời câu hỏi, giữa ý thức hay vật chất cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai nghiên cứu khả năng nhận thức của con người về hiện thực khách quan để trả lời câu hỏi, con
người có hay không có khả năng nhận thức được hiện thực hay không?
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học:
- Vật chất và ý thức là hai phạm trù rộng lớn nhất của triết học và đồng thời nó cũng là nội dung cơ bản
được xác định trong đối tượng nghiên cứu của triết học. Đối tượng nghiên cứu của triết học là thế giới vật chất và
con người. Triết học nghiên cứu các qui luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy. Xét cho cùng là nghiên cứu
bản chất của mọi sự tồn tại, đó là vật chất và ý thức.
thức của con người nhưng họ coi khả năng đó phụ thuộc vào chính bản thân ý thức (cảm giác chủ quan thuần túy)
hoặc lực lượng siêu nhiên (ý niệm - ý niệm tuyệt đối, linh hồn).
- Cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành và
phát triển của triết học. Trong đó, vai trò của mỗi trường phái đối với lịch sử triết học, đối với lịch sử tư tưởng con
xã hội đều phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử nhất định. Triết học duy vật có ý nghĩa tích cực và cách mạng
hơn so với triết học duy tâm. Vì, về cơ bản nó không chỉ có khuynh hướng phù hợp với tiến trình phát triển của
khoa học mà còn có ý nghịa định hướng cho sự phát triển của khoa học. Ngược lại, triết học duy tâm mang tính
bảo thủ, lạc hậu. Vì, về cơ bản nó có khuynh hướng đối lập với sự phát triển của khoa học.
c. Một số các trường phái triết học khác
- Nhị nguyên luận là trường phái triết học có tính dung hòa giữa duy vật và duy tâm với mục đích xây dựng
con đường thứ ba trong triết học (Ngoài duy vật duy tâm là hai trường phái cơ bản trong lịch sử triết học). Trên
thực tế, khuynh hướng triết học này đã phủ nhận quan điểm của triết học duy vật và ủng hộ quan điểm của triết học
duy tâm.
- Bất khả tri luận là trường phái triết học chủ yếu giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học.
Một mặt họ thừa nhận con người có khả năng nhận thức được hiện thực khách quan. Nhưng khả năng nhận thức đó
có tính hữu hạn, tương đối; mặt khác họ phủ nhận tính vô tận và tuyệt đối của nhận thức con người về hiện thực
khách quan. Tuy nhiên, quan niệm của họ cũng có mặt tích cực, khi họ nêu lên tư tưởng về “hoài nghi trong khoa
học”. Theo họ tri thức khoa học là một hệ thống mở và điều quan trọng không phải chỉ ở giá trị của khoa học đã
đạt được mà quan trọng hơn là phương pháp nghiên cứu của khoa học (phương pháp tiếp cận – cách thức tiếp cận)
với hiện thực để đạt các giá trị đó. Ví dụ như quan điểm của Cantơ về “phán đoán giá trị” trong triết học Cổ điển
Đức.
- Triết học tôn giáo là một trường phái triết học đặc thù. Bởi mục đích và nội dung nghiên cứu chủ yếu của
nó là tâm linh và đời sống tâm linh của con người, để từ đó nghiên cứu vấn đề siêu thoát tâm linh. Hơn nữa, sự
hình thành và phát triển của triết học tôn giáo đều gắn liền với sự hình thành và phát triển của một tôn giáo cụ thể
3
để trở thành cơ sở lý luận cho hệ thống các giáo lý của các tôn giáo cụ thể đó. Ví dụ: Triết học Phật giáo (Phật học)
là cơ sở lý luận cho hệ thống các giáo lý của tôn giáo Phật giáo.
Triết học tôn giáo còn được coi là sự khởi điểm trong cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học khi
nghiên cứu về hiện thực và nhất là cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm. Triết học tôn giáo có
vai trò không thể thay thế trong quá trình hình hành phong tục tập quán truyền thống văn hóa của các dân tộc – văn
xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tĩnh tại, không vận động, không biến đổi.
Triết học duy vật thời kỳ này đại diện cho những tư tưởng của giai cấp tư sản tiến bộ, họ đã tiến hành đấu
tranh chống chủ nghĩa kinh viện, nhà thờ trung cổ. Trong số các đại biểu cơ bản của triết học duy vật thời kỳ này là
triết học duy vật Pháp với những quan điểm của Metri (La Mettrie), Điđơrô (Diderot Denis), Hônbách (Holbach
Paul Henri), chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng
4
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác – Anghen xây
dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết
triết học trước đó và vận dụng triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ
khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu
hình thế kỷ XVII – XVIII và nó đã thể hiện được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật khoa học và phương
pháp nhận thức khoa học.
II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1. Vật chất
a. Phạm trù vật chất
- Trong lịch sử triết học trước Mác, mỗi một trường phái triết học đều có những quan niệm khác nhau về
vật chất. Nhưng chủ yếu vẫn là cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và duy tâm.
+ Chủ nghĩa duy tâm coi bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn tại (tự nhiên – xã hội và tư
duy) là tinh thần. Vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần. Ví dụ: Bản nguyên tinh thần theo Platôn (nhà
triết học duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại) là “ý niệm”, Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan triết học cổ
điển Đức) là “ý niệm tuyệt đối”; Béccơly (nhà triết học duy tâm chủ quan thời cận đại) là cảm giác chủ quan của
con người. Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận tính khách quan của vật chất, coi vật chất chỉ là sản phẩm của các lực
lượng siêu nhiên và ý muốn chủ quan của con người.
+ Chủ nghĩa duy vật trước Mác quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn tại (tự nhiên
– xã hội và tư duy) là thực thể vật chất cụ thể – cái bản nguyên vật chất, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng và những
thuộc tính của chúng. Ví dụ: trong triết học Trung quốc cổ đại đã coi vũ trụ được hình thành bởi thái cực, ngũ
hành; triết học Hy lạp cổ đại theo Talét là nuớc; Anaximen là không khí; Hêracơlít là lửa và Lơxíp và Đêmôcrít là
nguyên tử, v.v
của vật chất. Vật chất là phạm trù triết học là kết quả của sự khái quát, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối
liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi;
còn tất cả các sự vật, hiện tượng vật chất cụ thề – là cái có quá trình phát sinh, phát triển và chuyển hóa.Vì vậy,
không đồng nhất vật chất với một hay một số dạng vật chất cụ thể.
+ Thứ hai, Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức là thuộc tính tồn tại bên
ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù cho con người có nhận thức hoặc không nhận
thức được nó.
+ Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách
nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp) tác động nên giác quan của con người; tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh
vật chất trong bộ não của con người.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Thứ nhất, định nghĩa vật chất của Lênin đã tiếp thu có tính phê phán những quan điểm của chủ nghĩa duy
vật trước đây và chống lại quan niệm sai lầm của triết học duy tâm, về vật chất. Định nghĩa vật chất của Lênin cho
phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội để có thể giải thích nguồn gốc, bản chất và các qui luật khách
quan của xã hội.
+ Thứ hai, định nghĩa vật chất của Lê-nin đã giải đáp một cách khoa học về vấn đề cơ bản của triết học từ
quan điểm đến thực tiễn
Đối với chủ nghĩa duy vật trước Mác về cơ bản có những quan điểm đúng về mặt tự nhiên nhưng lại duy
tâm về mặt xã hội, nên nó rất hạn chế và không có ý nghĩa cách mạng triệt để đối với quá trình cải tạo hiện thực
khách quan của con người. Mác khẳng định nhiệm vụ của triết học phải có ý nghĩa cải tạo thế giới. Tính chất siêu
hình máy móc và trực quan của chủ nghĩa duy vật trước Mác không thấy được tính năng động và sáng tạo của ý
thức.
Trong triết học trước Mác về cơ bản đều không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và đối với
sự phát triển của xã hội. Cơ sở lý luận của các hệ thống triết học trước kia, nhất là triết học duy tâm không phải
quan điểm từ vật chất, từ hoạt động thực tiễn, mà chủ yếu là sự nhấn mạnh đến vai trò quyết định của cái tinh thần,
của lực lượng siêu nhiên, v.v
Việc đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận, triết học Mác không những thực hiện một cuộc cách mạng trong
lĩnh vực triết học mà còn tạo cơ sở để khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác, phê phán chững
quan điểm sai lầm của triết học duy tâm.
Giải quyết khoa học vấn đề cơ bản triết học, triết học Mác được coi là cơ sở lý luận về thế giới quan và lý
gian tồn tại thuần túy bên ngoài vật chất hoặc không gian trống rỗng chứa đựng vật chất, không có thời gian khởi
nguyên và cuối cùng của vật chất.
c. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Căn cứ vào sự tồn tại, vận động và phát triển của hiện thực khách quan và sự phát triển của khoa học, chủ
nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng chỉ có một thế giới vật chất đang tồn tại vận động và phát triển không
ngừng. Thế giới thống nhất ở tính vật chất. Điều này được thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngoài ra không có thế giới thuần túy không vật chất. Thế
giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức của con người.
- Thế giới vật chất dù tồn tại dưới các sự vật hiện tượng cụ thể khác nhau và các bộ phận cụ thể khác nhau
(cái mà con người đã nhận thức được hoặc chưa nhận thức được) đều là vật chất; giữa chúng đều có mối liên hệ về
mặt nguồn gốc, lịch sử và bị chi phối bởi các qui luật khách quan vốn có của nó.
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, không do “ai” sinh ra và cũng không tự mất đi, mà trong đó
không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang vận động và chuyển hoá cho nhau.
2. Ý thức
Trước triết học Mác, quan niệm duy tâm và tôn giáo coi ý thức là sản phẩm thuần túy của lực lượng siêu
nhiên, hoặc là “linh hồn” của con người. Ngược lại quan niệm duy vật coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan của bộ não người, nhưng họ cũng cho rằng ý thức còn có thể tồn tại ở một số loài động vật cấp cao khác. Hơn
nữa, họ lại lầm lẫn giữa tâm lý động vật và ý thức hoặc đồng nhất ý thức với bộ não, coi óc tiết ra ý thức như gan
tiết ra mật.
7
Triết học duy vật biện chứng coi ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người,
hoặc là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Ý thức không phải là vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Ý thức chỉ có ở con người và tồn tại thông qua sự hoạt động của bộ
não người. Khác với vật chất là cái tồn tại khách quan, sự tồn tại của ý thức là sự tồn tại chủ quan và có khả năng
phản ánh tồn tại khách quan. Ý thức là hoạt động tinh thần của con người có kết cấu phức tạp bao gồm: Tình cảm,
ý chí, tư tưởng, tri thức…
a. Nguồn gốc của ý thức
- Nguồn gốc tự nhiên.
Sự hình thành và phát triển của con người và ý thức là một quá trình lịch sử tự nhiên. Đó là quá trình hình
thành năng lực phản ánh của bộ não con người về hiện thực khách quan. Nghiên cứu nguồn gốc tự nhiên của ý thức
[2]
.
Lao động của con người làm cho giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những qui luật vận động và khi tác
động vào giác quan của con người thì sinh ra ý thức.
+ Sự xuất hiện ngôn ngữ trong quá trình lao động đã trở thành phương tiện vật chất để đáp ứng những nhu
cầu khách quan về quan hệ giao tiếp, trao đổi những kinh nghiệm và tình cảm, v.v Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư
duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người. Ăngghen
cho rằng: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ
yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”
[3]
.
Quá trình hình thành phát triển của ngôn ngữ cũng lá quá trình hình thành và phát triển của ý thức con
người. Xét về hình thức ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ hành vi, ký hiệu, tiếng nói, chữ viết và hệ thống ký hiệu khoa
8
học. Nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm và sự hiểu biết của con người mới được hình thành, vận động và phát triển, đồng
thời nó trở thành phương tiện trao đổi về mặt xã hội và trở thành phương tiện, công cụ của ý thức.
b. Bản chất của ý thức
- Bản chất của ý thức là sự phản ánh mang tính tích cực, năng động và sáng tạo. Bởi vì, nhận thức của con
người là một nhu cầu khách quan, nhu cầu về nghiên cứu và sự giải thích tất cả những gì xảy ra trong hiện thực, về
sự nắm bắt và vận dụng các qui luật khách quan. Tính năng động và sáng tạo của ý thức là quá trình cải biến các
đối tượng vật chất đã được di chuyển vào bộ não con người, thành cái tinh thần, cái khách thể tinh thần. Quá trình
ý thức là quá trình thống nhất 3 mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi này có tính hai chiều, có định
hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết.
Hai là, mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Đây là quá trình mã hoá các đối
tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua
hoạt động thực tiễn chuyển hoá tư tưởng thành thực tại, hoặc vật chất hoá tư tưởng của con người dưới dạng vật
chất ngoài hiện thực. Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để tác
động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình.
9
+ Vô thức là một hiện tượng tâm lý có liên quan những hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của lý trí hoặc
chưa được con người ý thức đến. Nói một cách khác, vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự
suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tham gia của lý trí. Vô thức biểu hiện nhiều hiện
tượng như bản năng ham muốn, giấc mơ, bị thôi miên, mặc cảm, sự lỡ lời, nói nhịu, trực giác v.v
Vô thức giúp cho con người tránh được những tình trạng căng thẳng thần kinh không cần thiết bởi một lý
do nào đó và nhờ nó mà những chuẩn mực con người đặt ra được giải quyết một cách tự nhiên mà không có sự
khiêm cưỡng thái hoá, bất cập.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a. Cơ sở lý luận
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Lênin cho rằng: Vật chất là thực tại khách quan, nghĩa
là tất cả những gì có thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người, độc lập với ý thức
của con người. Vật chất tồn tại khách quan là tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng, hệ thống vật chất và mối
liên hệ giữa chúng trong một chỉnh thể thống nhất là thế giới vật chất. Xét theo tính hệ thống, thế giới vật chất bao
gồm: thế giới vật chất vô cơ, hữu cơ và vật chất dưới dạng xã hội. Vật chất trong hoạt động thực tiễn xã hội là điều
kiện hoàn cảnh vật chất (khách quan), hoạt động vật chất của xã hội và các qui luật khách quan vốn có của đời
sống vật chất xã hội.
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người, hoặc là “hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan”. Ý thức không phải là vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là
bộ não người. Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Khác với vật chất là cái tồn tại khách quan, sự
tồn tại của ý thức là sự tồn tại chủ quan và có khả năng phản ánh tồn tại khách quan. Ý thức trong hoạt động thực
tiển là đời sống tinh thần, nhân tố tinh thần (nhân tố chủ quan) như tình cảm, ý chí, tư tưởng, tri thức, v.v…
b. Nội dung
Thứ nhất, xuất phát từ quan điểm cho rằng vật chất có trước quyết định ý thức, ý thức, tinh thần là cái có
sau, cái phụ thuộc vật chất. Cho nên, toàn bộ hoạt động tinh thần đều là sự phản ánh hiện thực khách quan và bị qui
định bởi hoạt động hoạt động vật chất của con người. Trong hoạt động tinh thần của con người nói chung, kể cả ý
thức cá nhân hay ý thức xã hội hoặc đường lối chủ trương chính sách của một nhà nước v.v cũng phải dựa trên cơ
sở hiện thực khách quan, thì mới có thể làm cho khả năng khách quan trở thành hiện thực.
Tự thân nó, ý thức tư tưởng của con người không thể thực hiện được sự biến đổi nào trong hiện thực, nếu
nó không thông qua các nhân tố vật chất, bởi “chỉ có lực lượng vật chất đánh bại bởi một lực lượng vật chất mà
tiêu, phương hướng hoạt động cũng như việc lựa chọn cách thức, phương pháp thực hiện mục tiêu đã đề ra. Sức
mạnh của ý thức còn tùy thuộc vào mức độ sự xâm nhập của tri thức khoa học vào hoạt động của quần chúng.
Thực hiện nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng hiện thực khách quan và nguyên tắc phát
huy tính năng động, sáng tạo của ý thức phát huy nhân tố con người một mặt phải thấy được vai trò quyết định của
các nhân tố khách quan (vật chất) đối với nhân tố tinh thần (chủ quan); mặt khác phải phê phán bệnh chủ quan duy
ý chí, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường tri thức khoa học trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
xã hội.
11