NHỮNG KHỐI U NỘI TIẾT Ở TỤY: CHẨN ÐOÁN VÀ ÐIỀU TRỊ
ngoài insulin và glucagon, tụy còn có khả năng tiết ra một loạt các
hormon và peptid có chức năng hormon. Ðó là somatostatin, và các peptid
tụy (pancreatic peptid, PP) như VIP, CGRP (Calcitonin gene related
peptide), v.v được tiết ra từ các tế bào D, F hay PP của tụy Trong một số
trường hợp hiếm có các tế bào này cũng có thể gây ra các khối u.
Trong một số báo trước chúng ta đã xét đến các trường hợp u nội tiết tụy hay
gặp là insulinom và gastrinom (Y Học TP.HCM. Số đặc biệt chuyên đề Nội
tiết Tập 2. Phụ bản của số 3 1998, 36-41
[2]
). Xem bảng dưới đây:
Bảng 1: Tần suất các khối u nội tiết của tụy
(1)
Loại khối u T
ỷ lệ
thường
gặp (%)
- Insulinom
60
- Gastrinom
của nội tiết học: một hormon / hợp chất có tác dụng hormon không phải lúc
nào cũng do một tuyến chuyên biệt tiết ra. Bài này cũng còn nêu lên các vấn
đề
- chẩn đoán các khối u này bằng hình ảnh
- điều trị bằng các phương pháp khác nhau:
ngoại khoa
nội khoa
xạ trị
CÁC KHỐI U NỘI TIẾT TụY HIẾM GẶP
Ða số các khối u này đều là ác tính.
VIPOM
[3]
Trước kia được gọi là hội chứng WDHA (Watery Diarrhea, Hypokaliemia,
Achlorhydria), gồm một nhóm nhỏ những khối u thần kinh nội tiết, chủ yếu
nhưng không nhất thiết ở tụy, là nguyên nhân trong những trường hợp điển
hình của hội chứng Verner-Morrison.
50% các trường hợp khi phát hiện thì đã ở giai đoạn ác tính rõ rệt. Các tế
bào tiết ra peptid hoạt mạch của ruột non (VIP/Vasoactive Intestinal
Peptide), ít hay nhiều peptid histidin methionin (PHM), đa peptid tụy và
neurotensin. VIP có các thụ thể ở màng đáy bên của các enterocyt. Nó gây ra
tiết chlor và ức chế hấp thu nước và các điện giải. Một số tính chất khác của
VIP có thể cắt nghĩa một số khía cạnh của hội chứng: dãn mạch, kìm hãm
tiết toan dịch vị, dãn cơ trơn, kích thích tân tạo glycogen.
Dấu hiệu chủ yếu là tiêu chảy mạn tính kiểu tiết dịch (khối lượng khá nhiều
nên trước đây còn gọi là dịch tả do tụy). Một cơn bệnh nặng lên đột ngột có
thể gây ra trụy tim-mạch và vô niệu. Các triệu chứng khác, không thường
xuyên, là các cơn vận mạch và cơn têtani.
Về dịch thể, có sự mất nước và điện giải rất lớn: giảm kali có khi rất nặng,
máu cô đặc, toan chuyển hóa, có khả năng bị suy thận chức năng hoặc bệnh
Tăng tiết glucagon máu là thường xuyên, nhưng nồng độ của nó không
tương xứng với cường độ các triệu chứng lâm sàng. Insulin máu bình thường
hoặc tăng. Ðái tháo đường rõ rệt ở phần lớn bệnh nhân và 1/3 trong số đó
phải điều trị bằng insulin. Những rối loạn sinh học khác là thiếu máu đẳng
sắc, giảm a. amin trong máu, giảm albumin máu, giảm kẽm trong máu [Zn]
(không thường xuyên).