VIÊM MỦ MÀNG PHỔI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I:
NHỮNG TIẾN BỘ MỚI TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát vai trò của siêu âm và phẫu thuật nội soi
màng phổi trong chẩn đoán và điều trị viêm mủ màng phổi trẻ em
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả 40
bệnh nhân được chẩn đoán VMMP. Từ 06/2004 đến 6/2005
Kết quả: tác nhân gây VMMP chủ yếu là Staphylococcus aureus (7/10 ca),
có 2 ca duơng tính với Steptococcus pneumonia cả hai ca đều kháng với
Penicilline. Có 100% ca được thực hiện siêu âm, trong đó phát hiện 21 ca có hình
ảnh vách hoá màng phổi. Có 21 ca phẫu thuật trong đó có 8 ca phẫu thuật nội soi
Kết luận: Siêu âm đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán VMMP,
giúp xác định vị trí dịch màng phổi, tính chất dịch, giúp hướng dẫn chọc dò và đặt
ODL, giúp phát hiện biến chứng vách hoá, dầy dính màng phổi giúp quyết địng
can thiệp ngoaị khoa sớm. Phẫu thuật nội soi màng phổi là một bước tiến mới
trong điều trị, ít xâm lấn, để lại sẹo nhỏ trên ngực, ít tai biến, thời gian nằm viện
ngắn hơn có thể giảm được chi phí nằm viện.
SUMMARY
Objectives: To investigate the role of chest ultrasound and video assissted
thoracoscopic surgery (VATS) in diagnosis and treatment of empyema in children.
Material and method: A cross-sectional and descriptive study. We recruited
40 hospitalized children with empyema in Children Hospital No.1 from 06/2004 to
6/2005.
Results: The principal causes is Staphylococcus aureus (7/10 cases), 2 cases
was detected with penicillin resistance Streptococcus pneumonia.We performed
chest ultrasound in 100% of cases, we had 21 cases with multiloculated empyema.
Twenty-one cases had surgery, and 8 out of 21 cases underwent VATS.
Conclusion: Ultrsound must be used to confirm the presence of a pleural
fluid collection. Ultrasound should be used to guide thoracocentesis or drain
placement and to detect the complication of empyema such as persisrtence pleural
tuổi) 70% dưới 5 tuổi. Tỷ lệ nam/ nữ: 22/18 (1.2/1). Tại thành phố Hồ Chí Minh: 8
ca (20%), tỉnh: 32 ca (80%). Tháng vào viện cao nhất là: 10, 11, 12
Bệnh lý đi kèm: 1ca dị tật bẩm sinh tại phổi loại dị dạng phổi dạng nang
tuyến, 1 kén phổi. 1 ca viêm tai xuơng chũm, 2 ca viêm cốt tủy xuơng, 1 ca áp xe
phổi. Số ngày nằm viện trung bình là 27 ± 10 (13 -54 ngày)
Bệnh sử trước nhập viện: có 15 ca bệnh dưới 8 ngày, 13 ca bệnh từ 8 đến
15 ngày và 12 ca đến viện muộn sau 15 ngày.
TDMP (P): 25/40 ca (62, 5%),TDMP (T): 14/ 35 ca (35%)
TDMP 2 bên 1 ca(2,5%), Kèm TKMP 8 ca
Cận lâm sàng
Số lượng bạch cầu trung bình là 19.700/ mm3 ± 9400
Số lượng tiểu cầu > 500.000/mm3: (22 ca) 55%. CRP 138 mg/l ± 86
Về siêu âm ngực 100% được thực hiện siêu âm ngay sau khi vào viện và có
21 ca có hình ảnh vách hóa màng phổi.
Về phương diện vi trùng học, dịch màng phổi được cấy 100%, âm tính 30
ca (75%), dương tính: 10ca (25%), trong đó
- Staph. aureus: 7ca (70%) không có ca nào kháng Vancomycine
Klebshiella: 1 ca
Streptocoque spp.: 1 ca (kháng PNC)
Streptocoque pnemonie: 1ca (kháng PNC)
Cấy máu âm tính 35 ca (87,5%), duơng tính: 5 ca (12,5%)
- Staph. aureus: 4ca
Enterocoque: 1ca
Về điều trị
Điều trị VMMP bao gồm: điều trị nội khoa với kháng sinh, đặt ống dẫn lưu
màng phổi. vật lý trị liệu hô hấp, chỉ định điều trị ngoại khoa khi cần thiết.
Kháng sinh
Chúng tôi xử dụng kháng sinh theo kinh nghiêm trước khi có KS đồ, những
trường hợp cấy DMP âm tính chúng tôi sẽ tiếp tục dùng KS theo diễn tiến lâm
sàng hoặc đổi KS khi cần thiết. Danh sách KS được sử dụng như sau:
9
7-14 ngày
6
7
14 ngày
9
3
Chúng tôi thấy bệnh nhân đến bệnh viện trễ sau 14 ngày, số ca cần phẫu
thuật cao hơn (9 ca)
Siêu âm phát hiện dầy dính màng phổi sớm và nhạy hơn so với X quang,
chúng tôi thực hiện siêu âm trong tất cả các trường hợp VMMP
Mối liên quan giữa siêu âm có dầy dính và chỉ định phẫu thuật như sau:
Siêu âm ngực
Phẫu thuật
Có
Không
Dịch vách hóa
15
9
Không vách hoá
6
Klebsiella
1 Am tính
17
13
Về phương pháp phẫu thuật, từ tháng 12/ 2004 tại bệnh viện Nhi đồng I bắt
đầu thực hiện phương pháp mổ nội soi viêm mủ màng phổi cho trẻ em, đây là
phương pháp phẫu thuật nhẹ nhàng hơn ít gây xâm lấn cho bệnh nhân và sẹo mổ ít
hơn so với phẫu thuật lớn mở lồng ngực bóc tách dầy dính màng phổi
Chúng tôi so sánh phẫu thuật nội soi và phương pháp mổ lồng ngực như
sau: Nội soi
Phẫu thuật thường
Tuổi
6±3 (12 th-13 tuổi)
5±3 (12th-14 ttuổi)
Ngày nằm viện
Về cận lâm sàng
Chúng tôi nhận thấy như sau:
Số lượng bạch cầu luôn tăng cao> 19.00/mm3, chứng tỏ tình trạng nhiễm
trùng. Chúng tôi có 22/40 trường hợp có tiểu cầu cao> 500.000/ mm3. Theo
hướng dẫn của hội lồng ngực Anh thì tỷ lệ tiểu cầu tăng cao thường gặp trong
VVMP, tuy nhiên không gây biến chứng gì cũng như không cần xử dụng thuốc
kháng tiểu cầu.
XQ ngực có thể cho thấy hình ảng tràn dịch màng phổi từ lượng ít đến
lượng nhiều, ít khi cần phải xử dụng XQ phổi thẳng trên bệnh nhân tư thế nằm
nghiêng bên tràn dịch vì có sự hổ trợ của siêu âm.
Với sự tiến bộ về phương tiện chẩn đoán hình ảnh, siêu âm có thể phát
hiện ra lượng dịch rất ít, xác định tính chất dich, xác định vị trí và hướng dẫn chọc
dò màng phổi, giúp chẩn đoán phân biệt với áp-xe phổi, viêm phổi thùy, thoát vị
hoành, u phổi. đồng thời siêu âm phát hiện ra những biến chứng của VMMP như:
vách hoá màng phổi, dầy dính màng phổi giúp ích rất nhiều cho hướng điều trị bảo
tồn hay phẫu thuật. Chúng tôi có 21 trường hợp siêu âm có hình ảng vách hoá
màng phổi, 15/21 trường hợp này cần phải phẫu thuật.
Theo khuyến cáo của hội lồng ngực Anh, siêu âm nên được thực hiện trong
tất cả các trường hợp VMMP để xác định sự hiện diện của dịch màng phổi và
hướng dẫn chọc dò và đặt ODL. CT scan ngực không cần thiết thực hiện trong
VMMP.
Về vi trùng học, chúng tôi có tỷ lệ cấy dịch màng phổi dương tính 25% cao
hơn so với tỷ lệ cấy DMP của hội lồng ngực Anh là 17%. Tại Pháp tỷ lệ cấy
dương tính là 14%.
Chúng tôi có tỷ lệ cấy máu dương tính là 12,5%. Theo hội lồng ngực Anh
tỷ lệ cấy máu dương tính là 10% trong VMMP, 6,4% trong viêm phổi. Một nghiên
cứu tại Anh cho thấy tỷ lệ cấy máu dương tính là 10/ 56 ca (18%) đều
Step.pneumo, và 7/10 ca này cấy mủ màng phổi âm tính. Như vậy cấy máu rất
giúp ích cho việc chần đoán tác nhân gây bệnh. Một nghiên cứu của Newcastle:
75% DMP cấy âm tính tìm thấy Pnemococal antigen bằng PCR hoặc latex
ca; 7 ca phẫu thuật; 32 ca kháng sinh phối hợp đặt ODL.
Tại sao chúng tôi có tỷ lệ phẫu thuật cao so với các tác giả khác ? Trong
diễn tiến VMMP có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn xuất tiết: dưới 7 ngày chỉ cần điều trị kháng sinh thích hơp và
chọc dò đơn thuần
-Giai đoạn ứ mủ: từ 7-14 ngày cần phải kháng sinh tích cực và đặt ODL,
đôi khi cần phải phẫu thuật
-Giai đoạn tạo kén: sau 14 ngày lá tạng dày vỏ, bọc cứng, lá thành lá tạng
dính nhau từng chỗ, ngăn cách ỗ mủ. Phổi không giản nở được. cần phải phẫu
thuật.
Chúng tôi có 15/ 40 truờng hợp bệnh nhân đến bệnh viện muộn sau 7 ngày,
co 9 ca đến sau 14 ngày.
Về đặt ODL màng phổi có 2 phương pháp hoặc đặt ODL đơn thuần, hoặc
phối hợp với bơm fibrinolytic vào khoang màng phổi. Nhiều tác giả nhận thấy
rằng phương pháp sau làm ngắn thời gian nằm viện, có 3 loại: urokinase,
streptokinase, alteplase.Không chứng cớ loại nào hiệu quả hơn. Tại bệnh viện Nhi
đồng 1 chúng tôi không áp dụng phương pháp này.
Về vấn đề phẫu thuật có 3 phương pháp lựa chọn đó là phương pháp mổ nội
soi màng phổi, mở lồng ngực nhỏ (mini thoracotomy) và phương
pháp mổ lớn bóc tách dầy dính màng phổi (decortication).
Từ tháng 12/ 1004 tại khoa ngoại lồng ngực đã bắt đầu áp dụng phương
pháp mổ nội soi, đây là phương pháp can thiệp an toàn, có hiệu quả ít xâm lấn cho
bệnh nhân, ngày càng được áp dụng và chỉ định rộng rãi.
Chúng tôi có 8 trường hợp phẫu thuật nôi soi với kết quả thời gian nằm
viện ngắn hơn, thời gian thở máy sau phẫu thuật ngắn hơn và đôi khi không cần
thơ’ máy, về phương diện thẩm mỹ chỉ để lại 3 sẹo nhỏ trên ngực so với sẹo dài
vắt ngang ngực sau phẫu thuật mổ lớn.Tuy nhiên có những trường hợp bệnh nhân
đến bệnh viện sau khi đã được điều trị ở tuyến trước chúng tôi cần phải thực hiện
nhiều ca hơn để có thể có kết luận chính xác hơn.
Theo Cocrhane có 20 ca VMMP: 11ca mổ nội soi với sự hổ trợ của video