Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
DỊCH TỄ HỌC CỦA TRÀN DỊCH NÃO THẤT
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I
Nguyễn Đức Tuấn
*
, Nguyễn Bảo Tường
*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát dòch tễ học và kết quả điều trò bệnh tràn dòch não thất (TDNT) tại BVNĐI.
Phương pháp: Hồi cứu lại 218 trường hợp từ 11/2000 đến 09/2004.
Kết quả: Bệnh chiếm ưu thế ở phái nam (63,4%). Tuổi nhập viện trung bình là 16,5 tháng. Bệnh
phân bố rộng khắp 25 tỉnh thành phía Nam. Viêm màng não mũ (4%), xuất huyết não – màng não
(1,1%), u não (0,6%) và 94,3% không xác đònh được nguyên nhân. Trên 10% trẻ chỉ phát hiện tình cờ khi
đến khám vì một bệnh lý khác. Can thiệp ngoại khoa chiếm 25,7% với tỉ lệ thành công 96,5%.
Kết luận: TDNT là một bệnh lý có ưu thế ở phái Nam, phân bố rộng khắp các tỉnh thành phía Nam,
trên 10% các trường hợp là phát hiện tình cờ. Việc phát hiện bệnh và điều trò sớm là yếu tố quan trọng
nhất để giảm thiểu di chứng. Trong thực tế vì những khó khăn kinh tế và hạn chế về trình độ hiểu biết
của gia đình khiến tuổi nhập viện trung bình còn muộn (16,5 tháng), tỉ lệ mổ chỉ đạt 25,6% các trường
hợp. Can thiệp ngoại khoa hứa hẹn nhiều triển vọng với tỉ lệ thàng công trên 95%.
SUMMARY
EPIDEMIOLOGY OF HYDROCEPHALUS AT THE CHILDREN’S HOSPITAL N
0
1
Nguyen Đưc Tuan, Nguyen Bao Tuong
*
Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 75 – 78
Objective: Studying of the epidemiology and outcome of hydrocephalus at the children’s hospital N
0
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu.
Phương pháp
Hồi cứu lại 218 hồ sơ đã có chẩn đoán xác đònh
được khám và theo dõi tại bệnh viện Nhi Đồng I từ
tháng 11/2000 đến 09/2004. Chúng tôi ghi nhận các
dữ kiện sau:
Tuổi nhập viện.
Giới.
Đòa dư.
Chẩn đoán lúc nhập viện.
Nguyên nhân gây bệnh.
Can thiệp ngoại khoa (kết quả điều trò).
Các dữ liệu được nhập và xữ lý bằng
phần mềm SPSS 10.05
KẾT QUẢ
Tuổi đến viện.(tính bằng tháng)
Tuổi nhỏ nhất là 1 ngày tuổi chiếm 4%. Tuổi lớn
nhất là 180 tháng (15 tuổi) chiếm 0,6%. Tuổi trung
bình là 16,5 tháng chiếm (80%).
Tuổi đến viện giảm dần ở trẻ lớn.
Giới
Có 80 bé gái và 138 bé trai
Đòa dư
Bảng 1: Phân bố theo đòa phương.
Đòa phương Số bệnh nhân
An giang 16
Bạc liêu 8
Bến tre 15
siêu vi...).
Can thiệp ngoại khoa
- 56/218 trường hợp can thiệp ngoại khoa
(chiếm 25,7%).
- Viêm màng não mũ (4%).
- xuất huyết não – màng não (1,1%).
- u não (0,6%).
- 94,3% không xác đònh được nguyên nhân.
Tỉ lệ thành công 96,5%.
BÀN LUẬN
Tuổi đến viện
Theo kết quả của nghiên cứu, tuổi nhập viện có
xu hướng giảm dần ở những trẻ lớn. Tuổi trung bình
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngànhi
76
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
là 16,5 4,11 tháng, chiếm 80%. Cũng theo nghiên
cứu này thì xu hướng nhập viện sớm ngày càng được
nâng cao, cá biệt có những trường hợp phát hiện
trước sinh và được nhập viện ngay sau khi sinh,
chiếm 4%. Theo chúng tôi, đây là một biểu hiện tích
cực cho thấy khả năng chẩn đoán bệnh lý não úng
thủy trước sinh là khá dể dàng. Điều này giúp các nhà
ngoại nhi quản lý bệnh và có kế hoạch điều trò kòp
thời nhằm hạn chế các biến chứng đáng tiếc có thể
xảy ra.
±
nữ. D. Renier (1974 – 1975) là 85 nam/65 nữ
( )5
. Như
vậy, tại Việt Nam, nhiều khả năng bé trai có nguy cơ
mắc bệnh cao hơn bé gái và cũng phù hợp với xu
hướng chung trên thế giới.
Đòa dư
Theo kết quả của nghiên cứu (bảng 1), bệnh phân
bố khắp 25 tỉnh thành phía Nam. Tuy nhiên, bệnh
nhập viện chiếm ưu thế ở những đòa phương lân cận
TP.HCM như: Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình
Dương, Đồng Nai, Bà Ròa-Vũng Tàu, nhưng sự tập
trung này không quyết đònh việc nhập viện sớm hay
muộn của bệnh nhi (
χ
2
(50) = 52,5; p = 0,38).
Chẩn đoán lúc nhập viện
Chúng tôi có 13,7% trẻ nhập viện vì những
nguyên nhân không liên quan đến các bệnh lý của
não. Các nguyên nhân đó bao gồm: nhiễm trùng sơ
sinh, vàng da, nhiễm trùng rốn, viêm phổi, xuất
huyết tiêu hóa, sốt xuất huyết, nhiễm siêu vi... Qua
siêu âm não tình cờ phát hiện dãn não thất và chuyển
đến khoa chúng tôi theo dõi.
Qua số liệu trên cho thấy có một số lớn bệnh nhi
(khoảng1/10 các trường hợp) không có biểu hiện lâm
sàng nào gợi ý. Điều này khiến bệnh dể bò bỏ sót, hậu
quả là phát hiện rất muộn dẫn đến nhiều trường hợp
quá chỉ đònh phẫu thuật hoặc khi can thiệp phẫu
não úng thủy của một số tác giả
TDNT là một bệnh lý có ưu thế ở phái Nam, phân
bố rộng khắp các tỉnh thành phía Nam. Mặc dù, chẩn
đoán xác đònh đơn giản bằng siêu âm xuyên thóp
nhưng có trên 10% các trường hợp không có triệu
chứng của não mà chỉ phát hiện tình cờ góp phần
đưa tuổi đến viện lên cao (16,5 tháng). Điều này gây
khó khăn cho công việc điều trò sớm.
( )5
:
Bảng 2: Nguyên nhân gây não úng thủy
Nguyên nhân Y. Lajat D. Renier N.Q.Bài Chúng tôi
Không xác đònh 21,69% 50% 36,17% 94,3%
Sau VMNM 7,54% 10,66% 26,24% 4%
Sau XHMN 8.49% 15,33% 7,8% 1.1%
Khác 62,28% 24,01% 29,79% 0,6%
Siêu âm não thường qui ngay sau khi sinh, và khi
phát hiện bất thường phải chuyển ngay tới một cơ sở
y tế có chức năng theo dõi và can thiệp khi cần thiết.
So với các nghiên cứu khác, nhóm không xác
đònh được nguyên nhân của chúng tôi quá lớn, trong
khi đó nhóm những nguyên nhân khác là quá nhỏ.
Điều này cho thấy việc chẩn đoán nguyên nhân của
chúng tôi chưa tốt bởi nhiều lý do khác nhau. Theo
chúng tôi việc chẩn đoán đúng nguyên nhân có vai
trò rất quan trọng để chọn lựa thái độ điều trò đúng
đắn, góp phần tiên lượng lâu dài và phục vụ cho
nghiên cứu khoa học.
Vấn đề xác đònh nguyên nhân gây bệnh còn
nhiều khó khăn và can thiệp ngoại khoa là một giải
6. Wright VM., (1994), “Hydrocephalus”. Surgery of the
newborn, Churchill livingstone, pp 587 – 598.
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngànhi
78