Tài liệu Những tiến bộ trong điều trị teo thực quản tại bệnh viện Nhi Đồng 1 - Pdf 84

NHỮNG TIẾN BỘ TRONG ĐIỀU TRỊ TEO THỰC QUẢN
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Nguyễn Kinh Bang*, Huỳnh Công Tiến*, Đào Trung Hiếu*
TÓM TẮT
Mục đích: có được một tổng quan về tình hình phát triển trong điều trò teo thực quản tại bệnh viện
Nhi Đồng 1, từ đó thấy được những vấn đề còn hạn chế để có những biện pháp khắc phục nhằm làm cho
tỉ lệ tử vong ngày càng được cải thiện hơn nữa.
Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi hồi cứu 87 bệnh nhân teo thực quản điều trò tại bệnh viện
trong vòng 6 năm. Các số liệu được ghi nhận theo hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 1998 – 2000 có 42
bệnh nhân, giai đoạn hai từ năm 2001 – 2003 có 45 bệnh nhân. Sự khác biệt giữa hai nhóm được kiểm
đònh bằng phép kiểm X
2
, T với p = 0.05.
Kết quả: không có sự thay đổi nhiều về đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trải qua hai giai đoạn.
Hầu hết các bệnh nhân đều được phẫu thuật nối thực quản ngay. Tỉ lệ xì miệng nối giảm từ 37.9% (1998
– 2000) còn 27.5% (2001 – 2003). Tỉ lệ tử vong giảm từ 54.76% (1998 – 2000) còn 28.6% (2001 – 2003).
Kết luận: Điều trò teo thực quản hiện nay đã có những tiến bộ đáng kể tỉ lệ tử vong ngày càng giảm. Qua
hai giai đoạn đặc điểm của bệnh nhân dường như không có những thay đổi đáng kể, sự cải thiện tỉ lệ tử vong
có được chủ yếu là do những tiến bộ trong công tác chăm sóc bệnh nhân trước và sau mổ, sự phát triển của
gây mê hôi sức cũng như những tiến bộ trong kỹ thuật mổ. Do đó để cải thiện tỉ lệ tử vong hơn nữa chúng ta
cần phải quan tâm đến việc làm thế nào bệnh nhân teo thực quản phải được chẩn đoán sớm hơn.
SUMMARY
THE ADVANCES IN MANAGEMENT OF ESOPHAGEAL ATRESIA
AND TRACHEO-ESOPHAGEAL FISTULA IN CHILDREN HOSPITAL NO.1
Nguyen Kinh Bang, Huynh Cong Tien, Đao Trung Hieu
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 22 – 27
Purpose: The aim of this study was to review the historical changes in the management of
esophageal atresia and tracheo-esophageal fistula in children hospital No.1. So that future determinations
could be made to minimize mortality.
Materials and methods: We reviewed 87 cases admitted in our hospital for 6 years. We divided the
cases in two groups during the years: 1

Việc điều trò teo thực quản có thành công hay
không phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm tình trạng
của bệnh nhân, chăm sóc trước mổ, kỹ thuật mổ, cũng
như việc săn sóc hậu phẫu và những biến chứng sau
mổ. Năm 1962, DJ Waterston đã đưa ra bảng phân loại
teo thực quản dựa trên sự tập hợp của ba yếu tố là cân
nặng, các dò tật phối hợp, và tình trạng viêm
phổi
( , , , )4 11 14 19
. Bảng phân loại này đã được sử dụng rộng
rãi trên thế giới, nó cho phép so sánh kết quả điều trò
giữa các bệnh viện, cho phép tiên lượng sống còn và
đònh hướng cho việc điều trò phẫu thuật.
Trong những năm gần đây, với sự tiến bộ trong
lãnh vực gây mê và hồi sức sơ sinh cũng như những
tiến bộ trong kỹ thuật mổ, việc điều trò teo thực quản
đã có rất nhiều tiến bộ trên thế giới. Qua nhiều báo
cáo, tỉ lệ tử vong hiện nay ở các nước phát triển đã
giảm đi đáng kể, từ 61% (1947-1968) còn 11% (1994-
2000)
( )7
. Với sự phát triển này những yếu tố giúp tiên
lượng một bệnh nhân teo thực quản cũng đã có
nhiều thay đổi. Đa số các báo cáo hiện nay đều cho
rằng bảng phân loại của Waterston là không còn phù
hợp nữa và một số bảng phân loại mới đã được đưa ra
như bảng phân loại Montreal năm 1993
( )15
, bảng
phân loại của Spitz năm 1994

 Suy hô hấp
 Nhiễm trùng huyết
 Dò tật phối hợp
 Thời gian trước nhập viện
Phẫu thuật
Biến chứng
 Xì miệng nối
 Tử vong
Các số liệu được phân tích bằng phần mềm
thống kê SPSS 11.5. Để nhận thấy sự thay đổi các số
liệu được ghi nhận theo hai giai đoạn, giai đoạn I từ
năm 1998 – 2000, giai đoạn II từ năm 2001 – 2003.
Sự khác biệt giữa hai nhóm được kiểm đònh bằng
phép kiểm X
2
, T với p = 0.05.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi ghi nhận
có 87 trường hợp teo thực quản được điều trò tại bệnh
viện Nhi Đồng 1, trong đó từ năm 1998 – 2000 có 42
23
trường hợp, từ năm 2001 – 2003 có 45 trường hợp.
Đặc điểm bệnh nhân
Giới:
87 bệnh nhân trong lô nghiên cứu của chúng tôi
bao gồm 58 nam và 29 nữ.
Thể loại teo thực quản
5
1
79

giữa hai giai đoạn.
Thời gian từ lúc sanh đến lúc nhập viện
Thời gian từ lúc sanh đến lúc nhập viện trung
bình là 2.82 ngày và độ lệch chuẩn là 3.506 ngày.
Trong đó có 13 trường hợp nhập viện trước 24 giờ
(15%), 27 trường hợp nhập viện sau sanh từ 24 – 48
giờ (31%), 47 trường hợp nhập viện sau 48 giờ (54%).
Cân nặng lúc sanh
Dò tật phối hợp
Chúng tôi ghi nhận dò tật phối hợp hiện diện
trong 40 trường hợp chiếm tỉ lệ 46%. Trong đó giai
đoạn 1 dò tật phối hợp gặp trong 42.9% các trường
hợp, giai đoạn 2 là 48.9%.
Phân bố các dò tật phối hợp
Dò tật phối hợp GĐ1 GĐ2 Tổng
Không
24 23 47 (54%)
Tim mạch
8 12 20 (23%)
Tiêu hoá
3 3 6 (7%)
Dò tật khác
4 5 9 (10.3%)
Tiêu hoá + tim mạch
3 2 5 (5.7%)
Tổng
42 45 87(100%)
Viêm phổi
GIAI ĐOẠN TỔNG
I II

(2) = 8.1; P = 0.017
Tình trạng hô hấp lúc nhập viện của bệnh nhân ở
giai đoạn 1 xấu hơn so với giai đoạn 2.
Nhiễm trùng huyết
GIAI ĐOẠN TỔNG

I II
30 35 65 Không
71.4% 77.8% 74.7%
12 10 22
NHIỄM TRÙNG
HUYẾT

28.6% 22.2% 25.3%
TỔNG 42 45 87
Cân nặng lúc sanh trung bình là 2585.17 gam, độ
lệch chuẩn là 447.135 gam. Không có sự khác biệt về
cân nặng lúc sanh trung bình giữa hai giai đoạn.
χ
2
(1) = 0.464; P = 0.496

24
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Không có sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm trùng huyết
giữa hai giai đoạn.
Phẫu thuật
Các phương pháp phẫu thuật

χ
2
(1) = 0.842; P = 0.359
Sự khác biệt về tỉ lệ xì miệng nối giữa hai
giai đoạn chưa có ý nghóa thống kê.
Tử vong
Tỉ lệ tử vong có khuynh hướng giảm đi trong
những năm gần đây, từ 54.76% năm 1998 – 2000
còn 28.8% năm 2001- 2003.
BÀN LUẬN
Trong những thập niên gần đây, với những tiến
bộ trong lónh vực gây mê hồi sức và chăm sóc trẻ sơ
sinh cũng như sự quan tâm ngày càng nhiều đến
bệnh lý teo thực quản và sự phát triển về kỹ thuật
mổ, kết quả điều trò teo thực quản đã được cải thiện
rõ rệt. Hiện nay tỉ lệ sống chung ở các nước phát
triển từ 80% đến 90%
( , )5 16
. Tuy nhiên điều này không
hoàn toàn đúng đối với các nước đang phát triển,
cũng như nước ta thì tỉ lệ tử vong vẫn còn cao. Tỉ lệ
tử vong trong lô nghiên cứu của chúng tôi là 41%,
nếu tính chung với các trường hợp loại trừ khỏi lô
nghiên cứu vì có cân nặng quá thấp hoặc có dò tật
phối hợp nặng không thể tiến hành phẫu thuật được
thì tỉ lệ tử vong còn cao hơn nữa. Tuy nhiên tỉ lệ tử
vong trong những năm gần đây có khuynh hướng
giảm dần từ 54.76% năm 1998 – 2000 còn 28.8%
năm 2001- 2003.
Có nhiều yếu tố góp phần vào sự phát triển này

đường rò và nối thực quản ngay trong một lần mổ.
Phương pháp này có thể thực hiện được ở hầu hết các
trường hợp teo thực quản có rò khí quản thực quản
đầu dưới
( )9
. Đối với những trường hợp khi đã bóc tách
25
toàn bộ túi cùng trên nhưng vẫn chưa đủ chiều dài để
nối với thực quản đầu dưới thì hiện nay các tác giả
khuyến cáo nên bóc tách đầu dưới thực quản để có
thể nối thực quản ngay
( , , , )10 14 19 20
. Một phương pháp
khác để làm dài thực quản đó là mở cơ vòng tròn thực
quản theo Laviditis. Chúng tôi có 3 trường hợp mở cơ
vòng tròn túi cùng trên theo Laviditis để có thể nối
thực quản ngay tuy nhiên cả ba trường hợp này đều
bò rò miệng nối sau mổ.
Đối với teo thực quản loại A, Theo Spitz
( , , )18 19 20
thì
khoảng cách giữa hai đầu thực quản sẽ giảm dần trong
vài tháng đầu sau sanh do sự phát triển của thực quản
bởi sự kích thích của phản xạ nuốt. Theo Maksoud-
Filho và cộng sự
( )12
nghiên cứu trên 15 bệnh nhân teo
thực quản không rò được điều trò bằng phương pháp
phẫu thuật trì hoãn tức là bệnh nhân được mở dạ dày
sau sanh để nuôi ăn, 8 – 12 tuần sau đánh giá lại

trong trường hợp mổ bằng đường ngoài màng phổi
nhưng màng phổi bò rách nhiều không thể khâu phục
hồi lại được.
Theo báo cáo của nhiều tác giả mặc dù tỉ lệ tử
vong trong những năm gần đây đã được cải thòên rõ
rệt nhưng tỉ lệ biến chứng ở miệng nối vẫn còn cao,
tỉ lệ xì miệng nối được báo cáo thay đổi từ 4% đến
36%
( , , , )7 9 13 17
. Nguyên nhân dẫn đến xì miệng nối cũng
đã được báo cáo là có liên quan đến tình trạng nhiễm
trùng huyết, vật liệu khâu nối thực quản, miệng nối
thực quản bò căng, bóc tách quá nhiều đầu dưới thực
quản. Trong nghiên cứu của chúng tôi 22/69 bệnh
nhân được mổ nối thực quản bò xì miệng nối chiếm tỉ
lệ 31.9% tỉ lệ này đã ngày càng giảm từ 37.9% ở giai
đoan I xuống còn 25.7% ở giai đoạn II. Chúng tôi nghó
rằng đây là sự tiến bộ về mặt kỹ thuật đã góp phần
quan trọng làm giảm tỉ lệ xì miệng nối từ đó làm
giảm tử vong. Xì miệng nối sẽ đưa đến viêm trung
thất, tràn mủ màng phổi và nhiễm trùng huyết. Đây
là một biến chứng nặng làm kéo dài thời gian điều trò
và dễ dẫn đến tử vong. Mặt khác xì miệng nối nếu
được điều trò bảo tồn hiệu quả với dẫn lưu thì nguy cơ
hẹp thực quản sau này rất cao
( )13
.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu nghiên cứu này chúng tôi
nhận thấy rằng việc điều trò teo thực quản hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status