Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
1. Tổng quan về nước ÚC
1.1. Lịch sử hình thành:
Năm 1768, Đô đốc Hải quân của Hoàng gia Anh cử thuyền trưởng James Cook và thuỷ
thủ đoàn thực hiện chuyến đi khảo sát, thám hiểm nơi gọi là Vùng đảo lớn ở phía Nam
(Great South Island). Đoàn thám hiểm mang tên “The Endeavor” đã tới vùng Vịnh
Botany và tuyên bố vùng đảo ở khu vực vùng vịnh này thuộc chủ quyền của Anh. Vua
George III quyết định sử dụng Vịnh Botany là nơi dành cho các phạm nhân. Tháng
1/1788, hạm đội đầu tiên dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Arthur Phillip đã chở các
phạm nhân ra Vịnh với tổng số trên 168.000 phạm nhân. Trong những năm 1850, khu
vực đảo này được phát hiện có chứa nhiều vàng nên đã thu hút thêm nhiều người đến
định cư tự dư. Cho đến những năm 1890, dân số của khu vực đảo tăng lên nhanh chóng
với sự sát nhập của New South Wale, Wester Australia, Van Di emen’s Land (ngày nay là
Tasmania) và Port Phillip (ngày nay là Victoria). Australia trở thành một quốc gia kể từ
ngày 1/1/1901.
1.2 Các thông tin tóm tắt cơ bản, tổng quát về Liên bang Australia:
- Tên nước: Liên bang Australia (Commonwealth of Australia)
- Ngày quốc khánh: 26/1/1788
- Thủ đô: Canberra
- Vị trí địa lý: Australia nằm ở bán cầu Nam; được bao bọc Nam Thái Bình Dương ở
phía Đông; Ấn Độ Dương ở phía Tây; biển Araphura ở phía Bắc và đảo Taxmania ở phía
Nam. Australia không có biên giới đất liền với nước nào.
- Diện tích: 7.617.930km
2
- Khí hậu: Ôn hòa, lục địa, thay đổi rõ rệt theo ba vùng: Cận xích đạo ở phía Bắc, nhiệt
đới ở vùng trung tâm và cận nhiệt đới ở phía Nam.
- Dân số: 22.509.890 (con số ước lượng đến 2010)
- Dân tộc: Người da trắng (94%), người châu Á (2%), người bản xứ (thổ dân) (1%), các
chủng tộc khác (3%).
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 1
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
- Hạ viện: 150 ghế (được bầu theo phổ thông đầu phiếu trên cơ sở đại diện tỷ lệ, nhiệm
kỳ 3 năm; không bang nào có dưới 5 đại biểu).
2.KINH TẾ CHÂU AUSTRALIA
2.1 Tổng quan tình hình phát triển kinh tế
Australia có một môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định nhất trong khu vực. Nền
kinh tế Australia mang tính cạnh tranh cao và là nền kinh tế đứng thứ 14 toàn cầu. Với
tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát thấp, lãi suất thấp, Australia đang được coi là nên kinh
tế phát triển năng động bậc nhất trong số các nước công nghiệp phát triển. Australia có
một khu vực kinh tế tư nhân hoạt động hiệu quả, một thị trường lao động năng động và
một khu vực thương mại rất có tính cạnh tranh.
Australia là một trong những nền kinh tế mở nhất trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế
nhanh trong suốt 17 năm qua luôn đi kèm với lạm phát thấp và năng lực sản xuất cao,
khiến nền kinh tế Australia vận hành vững chắc trong những năm 2000 - 2007 trái ngược
lại với tình trạng suy thoái kinh tế trên toàn cầu. Tuy nhiên trong bối cảnh khủng hoảng
kinh tế thế giới từ cuối năm 2007 đến nay, nền kinh tế Australia cũng bị tác động với tỷ
lệ lạm phát cao nhất kể từ 1991 và những lo ngại nền kinh tế phát triển quá nóng. Trong
quý I/2008 GDP đã tăng 0,6% so với quý IV/2007, gấp đôi so với dự đoán. Tính đến
tháng 6/2008, ngân hàng trung ương nước này đã lần thứ ba tăng lãi suất, lên mức 7.25%
để hãm bớt tốc độ tăng trưởng.
Nhìn chung nước Úc có một nền kinh tế phát triển với thu nhập bình quân theo đầu
người cao hơn Liên Hiệp Anh, Đức và Pháp một chút theo sức mua tương đương. Nước
này cũng được xếp hạng ba về chỉ số phát triển con người của Liên hiệp quốc năm 2007
và hạng sáu về chỉ số chất lượng cuộc sống của tạp chí tin tức The Economist năm 2005.
Nước Úc còn nắm giữ kỷ lục với 4 thành phố lớn nằm trong danh sách những thành phố
dễ sống nhất thế giới là Melbourne (hạng 2), Perth (hạng 4), Adelaide (hạng 7) và
Sydney (hạng 9)
[41]
.
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 3
phát thấp với mức tăng trưởng cao chính là sức sản xuất cao của nền kinh tế. Từ năm
1990, sức sản xuất của Australia tăng trung bình 2.3%. Đây là một trong những mức cao
nhất trong các nước OECD - trên 1.8%.
Khu vực kinh doanh quy mô nhỏ của Australia có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Khu vực này giải quyết việc làm cho 58% lực lượng lao động tăng thêm hàng năm và
khoảng 30% sản xuất kinh tế của Australia.
2.2.4. Một cơ cấu kinh tế mạnh
Australia hiện có một khung chính sách kinh tế khá toàn diện. Nền kinh tế có sức cạnh
tranh mang tính toàn cầu và là một địa chỉ đầu tư hấp dẫn. Australia có một cơ cấu kinh
tế hợp lý, ổn định và hiện đại tạo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh.
Australia là một nền kinh tế mở với hệ thống thuế dành ưu đãi khá nhiều cho giới kinh
doanh, ít rào cản thương mại và đầu tư. Thị trường lao động linh hoạt và độ lành nghề
cao, với tăng trưởng kinh tế mạnh, mức lương và giá cả vừa phải, tạo sức đẩy liên tục
trong giải quyết việc làm.
2.2.5. Nền công nghiệp tri thức
Australia là một trong những nền kinh tế hiện đại chủ yếu dựa trên kinh tế tri thức - tức
là nền kinh tế được điều khiển bởi các hoạt động sản xuất, phân phối sử dụng tri thức và
công nghệ thông tin. Các ngành công nghiệp dựa trên tri thức (knowledge-based
industries) hiện đóng góp gần một nửa GDP của Australia.
Vai trò của kỹ năng, tri thức, đổi mới các doanh nghiệp cũng như mạng thông tin trong
nước và quốc tế đối với sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế của Australia ngày
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 5
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
càng trở nên quan trọng. Thông tin và công nghệ thông tin là một trong những ngành
công nghiệp chủ chốt đem lại sự tăng trưởng kinh tế cho Australia.
Người dân Australia có một phần không nhỏ là dân di cư đến từ khoảng 200 nước trên
thế giới, nhờ đó lực lượng lao động Australia được đánh giá là biết nhiều thứ tiếng nhất
trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Hơn 4.1 triệu người Australia có thể nói được
ngôn ngữ thứ hai trong đó có 3 triệu người nói ngôn ngữ không phải là tiếng Anh bản
địa.
những tiến bộ đó đã nâng cao năng lực sản xuất trong những năm 1990. Australia có
khoảng 10 triệu lao động. Người lao động Australia được đào tạo tốt và có trình độ cao.
+ Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, kỹ năng ngôn ngữ là lợi thế chủ yếu của lực
lượng lao động. Mặc dù Australia là một nước nói tiếng Anh, nhưng hơn 4.1 triệu người
Australia biết ngôn ngữ thứ hai
+ Australia là một nước có một nền kinh tế tư bản phương tây phát triển, với khu vực
dịch vụ chiếm ưu thế, đóng góp 68% GDP. Khu vực nông nghiệp và khai khoáng chỉ
chiếm 4.7% nhưng lại chiếm tới 65% giá trị xuất khẩu. Australia có chỉ số GDP/ đầu
người tương đương với bốn nền kinh tế lớn của Tây âu. Năm 2007, GDP đạt 908.8 tỷ
USD, đứng thứ 14 thế giới.
+ Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế nội địa, sự kinh doanh sôi động, cùng với sự
gia tăng xuất khẩu của những nguyên liệu thô và những sản phẩm nông nghiệp đã tiếp
lửa cho nền kinh tế đất nước.
2.3 Các ngành kinh tế trọng điểm
2.3.1. Nông nghiệp và thủy sản
Nông nghiệp ở Australia phát triển theo hướng hiện đại và thậm chí được xem như một
ngành công nghiệp. Nó thu hút 420000 lao động và đóng góp 3% vào GDP. Tuy phần
đóng góp rất nhỏ bé so với khu vực dịch vụ, nhưng đây lại là mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Úc. Vào thập niên năm mươi của thế kỷ XX, nông nghiệp đóng góp tới 80% giá trị
xuất khẩu, nhưng đến nay con số đang giảm dần.
Nền nông nghiệp Australia phải đối mặt với một số thách thức như: vấn đề bảo vệ nguồn
nước để chống hạn hán, chống nhiễm mặn đất và cuộc tranh cãi xung quanh việc phát
triển thực phẩm biến đổi gen. Ở thị trường trong nước, các doanh nghiệp kinh doanh
nông phẩm phải cạnh tranh gay gắt để giành cơ hội xuất khẩu.
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 7
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
Ngành thuỷ sản cũng phát triển mạnh mẽ. Mặt hàng tôm sú, tôm hùm, bào ngư,… của
Australia được xuất khẩu ra thị trường thế giới với kim ngạch đạt1,6 tỷ A$ (tính theo giá
FOB)trong năm2003-2004.
2.3.2 Dịch vụ
Hầu hết các ngành sản xuất chế tạo của Australia được hỗ trỡ bởi các mức thuế suất bảo
hộ trong nửa đầu thế kỷ và trong những năm đầu của thời kỳ sau chiến tranh. Tuy nhiên,
rất nhiều ngành do được hình thành nhờ các rào cản thuế quan bảo hộ nên có rất ít động
lực để nâng cao hiệu quả hoặc vươn ra ngoài thị trương nội địa.
Trong thập kỷ qua, sức cạnh tranh của rất nhiều ngành sản xuất chế tạo đã được nâng cao
thông qua chương trình cải cách kinh tếvi mô của Chính Phủ bao gồm các biện pháp như
hạ giá đồng tiền, kiềm chế tiền lương và điều tiết lợi nhuận.
Sự hỗ trợ kịp thời của Chính Phủ đã tạo nên cú hích cho rất nhiều ngành tìm cách nâng
cao khả năng cạnh tranh, đặc biệt là sản xuất hướng vào xuất khẩu.
Ngành sản xuất chế tạo của Australia đã đạt được những thành quả quan trọng trong
những năm gần đây nhờ những cải cách mạnh mẽ như giảm thuế suất và ứng dụng công
nghệ tiến bộ. Với khả năng cạnh tranh toàn cầu và hướng vào xuất khẩu, ngành này đang
trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu trong đó trọng tâm là những
hàng hoá có mức độ tinh xảo cao.
Trong năm 2003-2004, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng sản xuất chế tạo của Australia
chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, giảm 5,5% so với cùng kỳ
năm trước, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong vòng 5
năm qua.
2.3.4.Năng lượng và khai mỏ
Rất nhiều tài nguyên khoáng sản được tìm thấy ở Australia và hầu hết được xuất khẩu.
Trên thực tê, Australia là một trong số ít các nền kinh tế phát triển dòng năng lượng với
kim ngạch xuất khẩu khoáng sản chiểm 35% tổng kim ngạch xuất khẩu (bao gồm cả
dịch vụ) và 64% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trong năm 2003-2004.
Xuất khẩu năng lượng của Australia ước đạt 20,7 tỷ A$ trong năm 2003-2004, trong đó
khoáng sản chiếm 32,3 tỷ A$ (tính theo giá FOB). Các mặt hàng khoáng sản xuất khẩu
chính bao gồm than đá, dầu mỏ, vàng, quặng sắt, ôxit nhôm, nhôm, khí đốt tự nhiên và
đồng
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 9
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
Ngành công nghiệp khai mỏ của Australia phát triển mạnh mẽ và Australia được đánh
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
Nhờ sự đa dạng hoá cơ sở xuất khẩu (export base), Australia hiện không chỉ là nước
xuất khẩu hàng hoá mà còn là nước có nền công nghiệp sản xuất chế tạo và công nghiệp
dịch vụ tinh vi. Thương mại hàng hoá của Australia phát triển mạnh, thị trường xuất
khẩu các dịch vụ mới và các sản phẩm sản xuất chế tạo tinh vi cũng đã nổi lên.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam – Australia vẫn tiếp tục tăng trưởng đều
và khá cao trong những năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 12%/năm. Năm
2004 đã có sự chuyển biến rất lớn trong quan hệ thương mại hành hoá giữa hai nước;
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Australia tăng trưởng mạnh so với năm 2003
(tăng 27%, đạt 1,82 tỷ US$) trong khi kim ngạch nhập khẩu từ Australia tăng 72% (đạt
456 triệu US$)
Hiện Australia là đối tác thương mại thứ 7 của Việt nam, về xuất khẩu là thị trường xuất
khẩu lớn thứ tư sau Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại
Việ Nam – Australia, thặng dư thương mại khá lớn, đạt 1,4 tỷ US$, (chủ yếu do Việt
Nam xuất khẩu dầu thô sang Australia). Các mặt hàng xuất khẩu (ngoài dầu thô) gồm
thuỷ hải sản, hật điều, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ đều có tốc độ tăng trưởng rất mạnh. Điều
này cho thấy tiềm năng xuất khẩu sang thị trường này rất lớn mà ta chưa khai thác hết.
Điểm mạnh nhất của hoạt động xuất khẩu Australia được thể hiện trong hoạt động
xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp (primary products). Sản phẩm sơ cấp xuất khẩu của
Australia bao gồm nông sản, khoáng sản và sản phẩm năng lượng. Những sản phẩm này
có đóng góp rất to lớn đối với sự phát triển quốc gia.
Australia là nước dẫn đầu thế giới về hàng nông sản và thực phẩm chất lượng cao.
Australia cũng xuất khẩu những sản phẩm sơ cấp của mình dưới hình thức gia công xuất
khẩu, thể hiện sự nhanh nhạy trong xuất khẩu tổng hợp. Những nhân tố thúc đẩy sự tăng
trưởng và thay đổi to lớn trong xuất khẩu của Australia bao gồm: sự đa dạng hoá sản
phẩm, đa dạng hoá thị trường mục tiêu và đổi mới, tạo giá trị gia tăng ngay từ sản phẩm
gốc, tăng nhu cầu của thế giới đối với đồ uống và thực phẩm gia công.
2.4 . Đầu tư
Úc là một địa chỉ đầu tư có sức cạnh tranh cao ở châu Á Thái Bình Dương với khá nhiều
lợi thế thu hút đầu tư như:
đầu tư vào Việt Nam. Tổng mức vốn thực hiện đạt 312 triệu US$, doanh thu đạt 1,115 tỷ
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 12
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
US$ trong năm 2003 và sử dụng 5.958 lao động. Các dự án của Australia đã có mặt tại
21 tỉnh, thành phố của Việt Nam, chủ yếu tập trung vào 4 lĩnh vực là bưu chính- viễn
thông, công nghiêp nặng, công nghiệp thực phẩm, các dịch vụ giáo dục, tài chính, y tế,
bảo hiểm … và đã mang lại hiệu quả tôt, góp phần tích cực vào sự phát triển của Việt
Nam.
Đến nay, có hơn 120 công ty của Australia đã và đang hoạt động tại Việt Nam trong
nhiều lĩnh vực như khai khoáng, dầu khí, chế biến thực phẩm, dịch vụ, sản xuất vật liệu
xây dựng, khách sạn, bưu chính viễn thông, y tế … Australia có thế mạnh đặc biệt trong
lĩnh vực nông nghiệp và chế biến thực phẩm. Trong những năm gần đây, các công ty
Australia đầu tư vào lĩnh vực thực phẩm và nước giải khát ở Việt Nam đã tăng đáng kể,
nhất là trong sản xuất bia, chế biến thực phẩm từ bơ sữa, đóng gói đồ uống v.v… Năm
1996, Australia đã xuất khẩu thực phẩm và nước giải khát sang Việt Nam đạt giá trị 37,8
triệu A$
2.5. Cở sở hạ tầng kinh tế
2.5.1.Truyền thông - thông tin
Úc có hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc
hiện đại trên thế giới. Lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ITC) của Úc cung
cấp những dịch vụ rất đáng tin cậy và có giá cả rất cạnh tranh. Trong lĩnh vực thương
mại, tháng 6/2002 có 84% doanh nghiệp sử dụng máy tính và trên 80% doanh nghiệp lớn
và 55% doanh nghiệp vừa đã thiết lập được trang web cho riêng mình.
Úc đã có mạng thông tin kết nối rộng khắp tới các địa phương trong cả nước và tới Bắc
Mỹ và Châu Âu bằng các đường cáp và vệ tinh. Sydney được coi là một trung tâm viễn
thông và là điểm giao dịch Internet chính của Úc. Thành phố được kết nối thông qua
đường dây cáp chạy dưới đáy biển nối liền những đường cáp ngầm với mạng lưới đường
dây cáp trong thành phố.
Số thuê bao điện thoại: thuê bao cố định 9,94 triệu (2006), thuê bao di động 19,76 triệu
(2006)
2.6. Các chỉ số kinh tế, thương mại cơ bản (2007)
- GDP (ngang giá sức mua): $760,8 tỷ (ước năm 2007)
- GDP (tỷ giá chính thức): 908,8 tỷ (ước năm 2007).
- Tỷ lệ tăng GDP thực tế: 3,9% (ước 2007).
- GDP đầu người (ngang giá sức mua): 36 300$ (ước năm 2007).
- Tỷ lệ đóng góp GDP: Nông nghiệp: 3%
Công nghiệp: 26,4%.
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 14
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
Dịch vụ: 70,6%. (ước năm 2007)
- Tỷ lệ lạm phát: 2.3% (2007).
- Lực lượng lao động: 10,95 triệu (ước 2007).
- Tỷ lệ lực lượng lao động theo ngành: Nông nghiệp: 3,6%.
Công nghiệp: 21,2%.
Dịch vụ: 75,2% (ước 2004).
- Tỷ lệ thất nghiệp: 4,4% (ước 2007).
- Hệ số Gini: 30,5 (2006).
- Đầu tư: 27,3% GDP (ước 2007).
- Thu chi ngân sách:
+ Thu ngân sách : $321,3 tỷ (ước 2007)
+ Chi ngân sách: $309,1 tỷ (ước 2007)
- Nợ quốc gia: 15,4% GDP (Chính phủ đã trả hết nợ ròng vào năm 2006 nhưng tiếp tục
vay nợ để hỗ trợ thị trường trước những rủi ro chứng khoán) (ước 2007).
- Sản phẩm nông nghiệp: lúa mì, lúa mạch, mía, gia súc, cừu, gia cầm.
- Các ngành công nghiệp: khai khoáng, thiết bị công nghiệp và giao thông, chế biến thực
phẩm, hóa chất, thép.
- Mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp: 13,8% (2007)
- Cán cân vãng lai: $-56,2 tỷ (ước 2007).
- Xuất khẩu: $141,7 tỷ (ước 2007).
- Nhập khẩu: $159,4 tỷ (ước 2007).
đối thoại), Australia Group, BIS, C, CP, EAS, EBRD, FAO, IAEA, IBRD, ICAO, ICC,
ICCt, ICRM, IEA, IFC, IFRCS, IHO, ILO, IMF, IMO, IMSO, …
3. VĂN HÓA ÚC
3.1 Ngôn ngữ:
Trải qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chấp nhận và tuỳ nghi.
Trong giai đoạn này, ở một số vùng như Victoria và South Australia, cư dân nói nhiều
thứ tiếng khác nhau; ở một số vùng khác như New South Wales và Tasmania thì lại có
thể xem như vùng đơn ngữ. Chính phủ không khuyến khích hay ngăn cản việc sử dụng
những thứ tiếng khác tiếng Anh, ngoại trừ vẫn còn duy trì sự coi thường đối với các
ngôn ngữ thổ dân.
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 16
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
Giai đoạn 2: Khoan dung và hạn chế (từ những năm 1870 đến đầu những năm 1900).
Từ những năm 1870, các trường Anh ngữ được thành lập và được xem là các trường
chuẩn mực. Điều này làm nảy sinh xu hướng thuần nhất. Trong những năm đầu thế kỷ
20, các ngôn ngữ không phải tiếng Anh bị giới hạn số giờ dạy ở một số trường tư thục
của một số bang. Trong quá trình hội nhập thế giới có nhiều biến động, căng thẳng, nước
Australia xuất hiện đã thể hiện mạnh mẽ xu hướng là một nước nói tiếng Anh.
Giai đoạn 3: Loại bỏ và đồng hoá (từ 1914 đến 1970).
Thế chiến thứ I và những năm sau đó chứng kiến một xu hướng bài ngoại ở Australia
cũng như những cố gắng nhằm khẳng định vị thế của nó vừa với tư cách là một dân tộc
độc lập vừa với tư cách là một bộ phận của Đế chế British. Đi kèm với quá trình này là
một thứ chủ nghĩa đơn ngữ quá khích: nước Australia và người Australia cần phải quên
đi di sản đa ngữ của mình. Thái độ này được tiếp tục trong giai đoạn sau Chiến tranh thế
giới lần thứ hai, khi một dạng người nhập cư đông đảo đến định cư ở Australia. Những
nhu cầu về ngôn ngữ của những người nhập cư rất ít được quan tâm. Đã có những quy
định nhằm ngăn cản các đài phát thanh chuyển phát "tiếng nước ngoài" vượt qua mức
2,5% thời lượng phát sóng và yêu cầu tất cả các thông điệp không phải tiếng Anh phải
được chuyển dịch sang tiếng Anh. Các ngôn ngữ thổ dân chịu một số phận tồi tệ hơn.
dịp khác.
Các tôn giáo chính:
3.2.1. Kitô giáo
Ở Australia, 3/4 dân số coi mình là người theo Kitô giáo, nhưng chỉ có 1/4 là thường
xuyên đi lễ nhà thờ. Nhà thờ đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội qua các việc
làm từ thiện, tổ chức các cuộc quyên góp hay các chương trình giúp đỡ cộng đồng, thí dụ
Dịch vụ Bác sĩ Bay cung cấp các trợ giúp y tế cho các gia đình sống biệt lập nơi những
vùng rừng núi ở Queensland của một giáo phái Tin Lành.
Trong các giáo hội Kitô giáo ở Australia, Anh giáo có tổ chức đầu tiên và giữ vai
trò thống trị trong việc hình thành pháp luật cũng như các thể chế chính trị và xã hội ở
xứ này. Những người theo Anh giáo cho rằng, tôn giáo không thể tách khỏi đời sống
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 18
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
hằng ngày và những người đứng đầu nhà thờ được coi là người phát ngôn về các vấn đề
của xã hội.
3.2.2.Công Giáo La Mã
Lúc đầu do những người di cư Ireland du nhập vào Australia đầu thế kỉ XX. Sau
này, những người di cư từ Italia và Châu Á sang đây đã làm gia tăng số lượng tín đồ.
Hiện nay, 1/4 người Australia theo Công giáo La Mã. Các chính sách của Giáo hội do
Hội đồng các Giám mục quyết định.
Tín đồ Công giáo La Mã và Anh giáo chiếm 2/3 số người theo Kitô giáo ở
Australia. 13% dân số Australia theo các tôn giáo khác, trong đó có các tín đồ Do Thái
giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo.
Những người theo Do Thái giáo sống khá thoải mái trong việc tuân thủ 613 điều
răn vốn hợp thành Luật Do Thái, nhưng họ luôn tuân thủ nghiêm ngặt ba ngày lễ trọng,
đó là các ngày lễ Rosh Hashana (Lễ Năm mới), Lễ Passover (Lễ Vượt qua), Lễ Cứu
chuộc
Người theo Ấn Độ giáo tại Australia chủ yếu đến từ ấn Độ và Đông Phi. Ấn Độ
giáo xem trọng các nghi lễ, và mỗi giai đoạn trong cuộc đời của một cá nhân đều được
đánh dấu bằng một nghi lễ.
Úc cũng thích tiếp xúc bằng ánh mắt trực tiếp với những người trò chuyện với họ;
• Không gian cá nhân - người Úc thích duy trì một khoảng không gian cá nhân phù
hợp giữa họ và người khác. Đứng gần một người khác dưới một mét một cách vô
cớ có thể khiến họ cảm thấy không thoải mái;
• Trang phục - người Úc có xu hướng ăn mặc khá tùy tiện. Nếu cần phải ăn mặc
trang trọng hơn, bạn thường sẽ được người khác nói cho biết;
• Xếp hàng - mọi người xếp hàng khi họ chờ đợi đến lượt cho điều gì đó (ví dụ như
đón taxi, xe buýt, chờ đợi tại quầy bán vé hoặc quầy thu ngân). Không bao giờ
vượt những người khác hoặc "chen ngang" - điều này sẽ không được chấp nhận;
• Đúng giờ – đến muộn sẽ không được chấp nhận. Nếu bạn không thể tới một cuộc
hẹn hoặc lời mời; hoặc sắp bị muộn, luôn gọi điện thoại để giải thích trước khi sự
việc xảy ra;
• Hút thuốc - hút thuốc bị nghiêm cấm trong các tòa nhà của chính phủ và trên
phương tiện giao thông công cộng bao gồm cả các chuyến bay nội địa và quốc tế.
Việc hút thuốc hiện nay bị cấm ở hầu hết các nhà hàng và các địa điểm có đăng
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 20
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
ký. Khách hàng phải đi ra ngoài đường nếu họ muốn hút thuốc. Nếu bạn đang tới
thăm một ngôi nhà của một người bạn hoặc một thành viên gia đình, luôn xin
phép để được hút thuốc;
• Khạc nhổ - khạc nhổ ở nơi công cộng là hành vi không chấp nhận được và có thể
gây khó chịu cho người khác;
• Xả rác – nước Úc là một đất nước rất có ý thức về môi trường và xả rác là hành vi
không chấp nhận được. Nếu xả rác, bạn cũng có thể bị phạt; và
• Tập quán trên bàn ăn – Bạn có thể ăn bằng tay ở những bữa ăn không trang trọng
ví dụ như một cuộc dã ngoại, tiệc nướng thịt ngoài trời hoặc khi ăn đồ ăn sẵn mua
ngoài. Bạn phải sử dụng dao dĩa cho những bữa ăn tại nhà hàng. Nếu bạn không
biết sử dụng vật dụng nào cho mục đích gì, trước tiên hãy hỏi hoặc theo dõi và
làm theo những người khác.
3.3.2 Về cử chỉ giao tiếp chào hỏi
thể hiện thái độ nhiệt tình hay nghiêm túc thái quá thì đều có khả năng khiến cho cuộc
đàm phán đi đến thất bại;
- Một nét văn hóa rất nổi bật của người Úc đó là sự khiêm tốn, luôn thích tạo không khí
nhẹ nhành cởi mở - Người Úc thường rất chú trọng tới những chính sách và quy định
chung của doanh nghiệp vì thể việc giải quyết vấn đề và đưa ra quyết sách thường được
dựa trên tình hình thực tế chứ hoàn toàn không căn cứ trên cơ sở tình cảm hoặc cá nhân.
Tuy nhiên việc đưa ra quyết định đòi hỏi khá nhiều thời gian vì thông thường cấp trên
trước khi đưa ra quyết định thường lấy ý kiến của cấp dưới. Đây là cách làm việc có tính
tập thể cao và là một đặc điểm trong văn hoá kinh doanh của người Australia, vì vậy mà
sự vội vàng của bạn sẽ là không cần thiết;
- Một điều nữa cần lưu ý trong quá trình đàm phán với đối tác người Úc đó là cần tránh
nói đến cuộc sống cá nhân trên bàn đàm phán.
3.4.Văn hóa vật chất:
3.4.1 Nhà hát Opera Sydney: Công trình này được xây đã gây ra nhiều tranh cãi và kéo
dài hàng chục năm (1957-1973) qua bao nhiêu nhiệm kỳ bầu cử tiểu bang, vượt qua
hàng loạt những vấn đề về vốn, khó khăn trong kỹ thuật xây dựng thậm chí kiến trúc
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 22
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
sư thiết kế chính là Jorn Utzon cũng không theo đuổi dự án của mình tới cùng vì những
bất đồng trong giai đoạn triển khai xây dựng. Và giờ đây nó là một biểu tượng đáng tự
hào, là thành quả của nhiều thế hệ, và hơn hết nó định hình một cụm quần thể kiến trúc
độc nhất vô nhị cho không gian cảng Sydney
3.4.2 Cầu càng Sydney: Cầu cảng Sydney cũng đóng vai trò quan trọng không kém
trong tổng thể quy hoạch chung của cụm công trình ngay ở Circular Quay. Được khánh
thành vào tháng 3 năm 1932 sau hơn 6 năm xây dựng, công trình được xem là biểu
tượng của Australia và được xếp hạng là cây cầu kết cấu sắt lớn nhất thế giới (không
phải dài nhất thế giới) với 8 làn xe, 2 làn xe lửa và một làn đi bộ và một làn xe đạp.
Được ví như biểu tượng nữ thần tự do của Mỹ, mọi người dân Australia trước đây điều
mong muốn có một bức hình chụp chung với cây cầu này. Tuy nhiên công trình nhà hát
con sò xây dựng sau đó đã thay thế vị trí này.
chi chít chữ với vô số hoa trang trí. Mặc dù hoa vải nhưng cách trang trí và màu sắc cho
thấy sự trân trọng đối với những người đã hy sinh trong các cuộc chiến.
3.5.Thẩm mỹ:
3.5.1 Nghệ thuật thị giác:
Từ đầu thập kỷ 1970, các thổ dân và những người sống trên đảo Torres Strait đã phát
triển những cách thức diễn đạt nhằm đem nghệ thuật và văn hóa của họ đến với thế giới.
Việc chuyển hóa các thiết kế của những bức họa trên cát thành các tác phẩm trên giấy và
vải do Pintupi thực hiện trong cộng đồng ở vùng trung tâm sa mạc vùng Papunya vào
năm 1971 là một trong những khởi xướng về nghệ thuật đã tạo ra những gạch nối vững
chắc giữa người Úc thổ dân và người Úc phi thổ dân Những họa sĩ được trọng vọng như
Rover Thomas, Emily Kngwarreye và Ken Thaiday đã tạo ra những tác phẩm đương đại
mà vẫn giữ nền tảng của truyền thống tinh thần của những nền văn hóa thổ dân và đảo
Torres Strait.
3.5.2 Nghệ thuật biểu diễn:
Các loại hình nghệ thuật biểu diễn của Úc đầy sinh lực, tính sáng tạo và sự hóm hỉnh.
Những đơn vị nghệ thuật của thổ dân như Sân khấu Múa Bangarra và Sân khấu Múa Thổ
dân và Vùng Đảo đã được cả thế giới hoan nghênh nhờ những tác phẩm đổi mới và
đương đại rút ra từ những nghi thức và những mục trình diễn truyền thống sâu sắc.
Nghệ thuật múa của Úc vốn nổi tiếng về tính trữ tình và sự phong phú các thể loại.
Những đoàn múa lớn như Đoàn Múa Ba Lê Úc và Đoàn múa Sydney đi lưu diễn thường
Nhóm 9 Lớp NT 3 Trang 24
Môn học: Quản trị Kinh doanh Quốc tế GV: Cô Đinh Thị Thu Oanh
xuyên, với một vốn tiết mục rất đa dạng về các điệu múa của Úc và những điệu múa
quốc tế. rạp.
Âm nhạc của Úc đã được làm cho phong phú hơn bởi những người nhập cư sau chiến
tranh, và bao trùm một dải rộng đến mức kinh ngạc. Nghệ sĩ bậc thầy về đàn ghi ta là
Slava Grigoryan, sinh ở Kazakhstan, đã nghiên cứu các điệu nhảy tango và điệu nhảy
bossa nova trong khi Dàn nhạc Nghệ thuật Úc hợp tác với các bậc thầy âm nhạc đến từ
Nam Ấn ĐộNhững dàn nhạc giao hưởng của Úc đã khắc họa nên một vai trò trung tâm
trong lịch sử văn hóa Úc