24
Từ tháng 11năm 1987 trong Quyết định 217 của HĐBT Chính
phủ đã xác định chủ trơng thí điểm bán cổ phần cho cán bộ công
nhân viên các DNNN. Song phải sang đầu những năm 1990 , chủ
trơng này mới thực sự đợc triển khai trong thực tế. Có thể chia
quá trình cổ phần hoá DNNN ở nớc ta thành ba giai đoạn sau đây:
Giai đoạn thí điểm (1992-1995) : Thực hiện chỉ thị 202/ CT ngày
8/6/1992 của chủ tịch Hội đồng bộ trởng về thí điểm chuyển một
số doanh nghiệp thành công ty cổ phần và chỉ thị số 84/TTg ngày
4/3/1993 về xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp
và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với DNNN.
Trong bớc đầu hoạt động , các công ty cổ phần mới thành lập này
đều thu đợc những kết quả sản xuất kinh doanh khả quan .
Giai đoạn mở rộng cổ phần hoá (từ tháng 5/1996 đến tháng
6/1998): Từ kết quả thí điểm của giai đoạn trớc, ngày7/5/1996
Chính phủ đã ban hành nghị định 28/CP về chuyển đổi một số
DNNN thành công ty cổ phần. Nghị định này đã tạo nên khuôn khổ
pháp lý đầy đủ để tiến hành cổ phần hoá DNNN , công tác cổ phần
hoá đợc các cấp các ngành quan tâm hơn .
Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hoá (từ tháng6\1998): Nghị định
44/CP ngày 29/06/1998 đã thay thế nghị định 28/CP với tinh thần
tạo đông lực mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp và ngời lao đọng làm
ở các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá, đơn giản hoá các thủ tục
chuyển sang công ty cổ phần. Trong bớc đầu hoạt động , các công
25
ty cổ phần đều phát triển đợc sản xuất kinh doanh , không những
đảm bao đợc việc làm mà còn thu hút thêm lao động, thu nhập của
nớc ngoài. Đó là những công ty cổ phần do các cá nhân hoặc tổ
chức nớc ngoài lập nên ở Việt nam. Cũng có thể là một công ty cổ
phần liên doanh với nớc ngoài nhng sau một thời gian làm ăn, các
cá nhân hoặc tổ chức kinh tế nớc ngoài dần dần nắm đợc toàn bộ
số cổ phiếu của công ty .
Ta cũng cần phân biệt đợc công ty cổ phần với công ty hợp
doanh và công ty trách nhiệm hữu hạn hai loại công ty này đang
tồn tại khá phổ biến ở Việt Nam. Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa
chúng đó là công ty hợp danh và công ty TNHH nhiêù thành viên
không đợc phát hành cổ phiếu và trái phiếu trong quá trình kinh
doanh. Trong trờng hợp thiếu vốn thì công ty chỉ có thể huy động
các cổ đông góp thêm mà thôi . Việc đóng góp này do Đại hội cổ
đông quyết định. 27
II. Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh
tế nớc ta hiện nay
Công ty cổ phần ra đời và phát triển khá sớm ở các nớc t
bản chủ nghĩa, đối với nớc ta công ty cổ phần xuất hiện muộn hơn
nhiều. Chỉ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với việc thực
hiện chủ trơng đổi mới quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nớc là
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta mới bắt đầu
xuất hiện một số công ty cổ phần với quy mô nhỏ bé, trình độ thấp
và đang trong giai đoạn sơ khai. Từ đó đến nay công ty cổ phần phát
triển tơng đối mạnh mẽ và đã khẳng định đợc vai trò to lớn của
mình trong nền kinh tế Việt Nam
ở nớc ta điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi chiến
lợc phát triển kinh tế là cần phải huy động đợc nguồn vốn lớn.
quả một phần vì không xác định rõ ai là chủ sở hữu đích thực. Đây
là nguyên nhân gây ra sự lãnh đạm, thiếu trách nhiệm ,thiếu kỷ
cơng, kỷ luật của ngời lao động, sự giảm sút về năng suất, chất
lợng và hiệu quả, thiếu minh bạch trong phân phối thu nhập. Còn
trong công ty cổ phần quyền sở hữu và quyền sử dụng đợc xác
định rõ ràng nên cơ chế phân phối lợi ích đợc giải quyết thoả đáng.
Lợi ích của ngời lao động và ngời có vốn gắn liền với kết quả sản
29
xuất kinh doanh của công ty nên trở thành động lực cơ sở bên trong
thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Hiện nay quá trình cổ phần hoá ở nớc ta đang đợc triển khai
khá mạnh mẽ. Việc hình thành công ty cổ phần thông qua cổ phần
hoá góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc bởi chỉ
có thế mới nâng cao đợc hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nớc.
Hơn nữa Nhà nớc với hình thức tham dự cổ phần của mình có thể
nhanh chóng can thiệp nhằm điều chỉnh cơ cấu kinh tế thúc đẩy sự
phát triển và điều tiết thị trờng một cách có hiệu quả
Công ty cổ phần ra đời còn góp phần thúc đẩy sự ra đời và
phát triển thị trờng chứng khoán ở Việt Nam. Tháng 7 năm 1998
đã đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành
thị trờng chứng khoán ở Việt Nam. Đồng thời với việc ban hành
nghị định 48 /1998 /NĐ-CP về chứng khoán và thị trờng chứng
khoán, Chính phủ đã ký quyết định số 127 /1998 /QĐ-TTg về thành
lập hai Trung tâm Giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh, phát đi hiệu lệnh khởi động thị ttrờng chứng khoán.
Thông qua thị trờng chứng khoán, các nhà kinh doanh có thể huy
động mọi nguồn tiết kiệm trong dân c. Nó là cơ sở quan trọng để
Nhà nớc thông qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào
(Bộ Nông nghiệp).
4. Xí nghiệp Chế biến gỗ Lạng Long Bình (Bộ nông nghiệp),
5. Công ty Vật t Tổng hợp Hải Hng (Bộ Thơng mại).
6. Xí nghiệp Sản xuất Bao bì (Thành phố Hà Nội).
7. Xí nghiệp Dệt da may Lagamex (Thành phố Hồ Chí Minh).
Sau một thời gian làm thử, 7 DNNN đợc Chính phủ chọn làm
thí điểm đều xin rút lui, hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ
phần hoá nh Lagamex, nhà máy Xà phòng Việt Nam Hơn 30
doanh nghiệp đã đăng ký với Bộ tài chính để thí điểm thực hiện cổ
phần hoá và 3 doanh nghiệp nhà nớc xin chuyển thành công ty
TNHH theo chỉ thị 84/TTg. Có 5 doanh nghiệp nhà nớc đợc phép
chuyển sang công ty cổ phần, đó là:
1. Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộc Bộ giao
thông).
2. Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (TP Hồ Chí Minh)
3. Công ty cổ phần giầy Hiệp An ( Bộ Công nghiệp).