LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển
kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừa nhận
rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân 7,5%/năm, mức đói
nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn trên 10% vào năm 2008,
hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở thành
thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được bầu là Ủy viên
không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là thành viên
tích cực của ASEAN, APEC và nhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tế khác, Những
thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đóng góp quan trọng
của hỗ trợ phát triển như một phần trong sự nghiệp phát triển của Việt Nam.
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là các
khoản tài trợ chính thức, bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi, do
chính phủ các nước, các tổ chức thuộc liên hiệp quốc, các tổ chức Kinh tế tài chính
quốc tế, các tổ chức phi chính phủ dành cho các nước đang và chậm phát triển cũng
như Chính phủ Việt Nam để hỗ trợ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Gần 20 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA kể từ khi Việt Nam chính thức nối lại
quan hệ với nhóm các nhà tài trợ quốc tế vào tháng 11 năm 1993. Nguồn vốn ODA
trong khoảng thời gian qua đã đóng góp không nhỏ vào công cuộc phát triển và xóa
đói giảm nghèo của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang có quan hệ với 25 nhà tài
trợ ODA song phương, trong đó, Hàn Quốc là một trong những quốc gia lớn tài trợ
cho Việt Nam, đồng thời Việt Nam là quốc gia lớn nhất nhận tài trợ từ Hàn Quốc.
Vốn ODA từ Hàn Quốc đã đóng góp tích cực đối với nền kinh tế nước ta
theo đà phát triển quan hệ song phương giữa hai nước trong thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện đời sống kinh tế - xã hội của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển như: tình hình chính trị,
xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,
vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực không ngừng được
1
nâng cao. Tuy nhiên, hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA nói chung và
với nguồn vốn của Hàn Quốc nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp phương pháp so
sánh, phân tích tổng hợp.
Nguồn tư liệu được sử dụng trong bài chủ yếu được khai thác từ các báo cáo
số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các báo cáo hàng năm của EDCF, các Tạp chí
thương mại, niên giám thống kê, báo kinh tế Việt Nam, các nghiên cứu, và thông tin
từ mạng Internet.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA
1.1 Những vấn đề chung về ODA
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ODA
1.1.1.1 Khái niệm về nguồn vốn ODA
Thuật ngữ ODA, viết tắt của cụm từ “Official Development Assistance”,
được hiểu là “Hỗ trợ phát triển chính thức” ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II,
cùng với kế hoạch Marshall để giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công
nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các
nước châu Âu thành lập Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Ngày nay,
Tổ chức này không chỉ có thành viên là các nước châu Âu mà còn có Mỹ, Úc, Nhật
Bản, Hàn Quốc … Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD lập ra
những uỷ ban chuyên môn, trong đó có uỷ ban viện trở phát triển (DAC) nhằm giúp
các nước phát triển.
Đến nay, thuật ngữ ODA được sử dụng khá phổ biến. Tùy theo từng cách
tiếp cận, có nhiều cách hiểu khác nhau về ODA:
Theo tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) thì “ Nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức là những nguồn tài chính do các Chính phủ hoặc Tổ chức liên
chính phủ hoặc liên quốc gia viện trợ cho một quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế và phúc lợi của quốc gia đó.”
1
Theo Ngân hàng thế giới thì “ Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là một bộ
phận của tài chính phát triển chính thức, trong đó các khoản vay cần đạt ít nhất
hoàn lại sẽ cung cấp cho bên được viện trợ hàng hóa, khoa học – kỹ thuật, cung cấp
dịch vụ, trí tuệ… Ngược lại, bên nhận viện trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ sẽ bổ
sung nguồn vốn còn hạn chế của mình, sử dụng vào mục tiêu phát triển kinh tế- xã
hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo… tạo điều kiện thúc đẩy phát triển
nền kinh tế quốc gia, từ đó nâng cao mức sống nhân dân.
Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu
tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng
kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu
tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ
thể.
3
5
ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi.
Nhằm hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển hoặc chậm phát triển, ODA
mang tính ưu đãi hơn bất kỳ hình thức hỗ trợ nào khác. Nguồn vốn này thông
thường gồm một phần là viện trợ không hoàn lại hay còn gọi là “thành tố hỗ
trợ” phải đạt ít nhất 25% của khoản vay. “Thành tố hỗ trợ” được tính toán
trên công thức dựa vào các yếu tố như lãi suất viện trợ, thời gian vay và thời
gian ân hạn.
Tính chất ưu đãi của nguồn vốn này được thể hiện như sau:
+ Lãi suất thấp:
Các khoản vay ODA thường có mức lãi suất rất thấp, thậm chí không có lãi
suất. Lãi suất giao động từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường
tài chính quốc tế là trên 7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai
bên). Ví dụ như lãi suất các khoản vay ODA của Nhật Bản dao động từ 0,72-2,5%/
năm; của Ngân hàng Thế giới (WB) là 0%/năm nhưng phải trả phí dịch vụ là
0,75%/năm; lãi suất của Ngân hàng Phát triển Châu Á thường từ 1-1,5%/năm…
+ Thời gian ân hạn (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc):
Đối với ODA vay thì thời gian đến khi phải trả vốn gốc đầu tiên tương đối
quy định ràng buộc khác nhau đối với các nước nhận tài trợ. Mục tiêu trước hết là
mong muốn đạt được ảnh hưởng chính trị, vừa muốn thu lại lợi nhuận thông qua
việc bán hàng hóa dịch vụ cho nước tiếp nhận viện trợ.
Nguồn vốn ODA có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng
nợ thường chưa xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo
nên sự tăng trường nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do
không có khả năng trả nợ. Lý do là vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp
cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu
ngoại tệ. Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, phải phối
7
hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu,
tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ.
1.1.2 Các hình thức viện trợ ODA
Hỗ trợ cán cân thanh toán
Hỗ trợ cán cân thanh toán thường được thực hiện thông qua các dạng:
- Chuyển giao tiền tệ trực tiếp nhận ODA
- Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hóa): Chính phủ nước nhận
Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển vào trong nước thông qua hình thức hỗ trợ
cán cân thanh toán có thể được chuyển thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi
hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được bán ra trên thị trường trong nước, và số
thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính Phủ.
Tín dụng thương mại
Hình thức hỗ trợ bằng tín dụng thương mại là hình thức cho vay với các điều
khoản mềm như: lãi suất thấp, hạn trả dài Trên thực tế hình thức hỗ trợ tín dụng
thương mại là một dạng hỗ trợ có ràng buộc.
Viện trợ chương trình
Viện trợ chương trình là hình thức viện trợ trong đó các khoản ODA được
cung cấp để thực hiện một chương trình nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu
với một tập hợp các dự án thực hiện trong một thời gian xác định tại các địa điểm
không phải hoàn lại cho bên tài trợ. Viện trợ không hoàn lại được sử dụng theo hình
thức Nhà nước cấp phát cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% trong tổng vốn ODA trên Thế giới.
Viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới dạng:
9
- Hỗ trợ kỹ thuật: thực hiện việc chuyển giao công nghệ hoặc tuyền đạt
những kinh nghiệm xử lý cho nước nhận tài trợ.
- Viện trợ nhân đạo bằng tiền mặt, hiện vật: ví dụ như lương thực, vải,
thuốc chữa bệnh, có khi là vật tư cho không.
+ ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): Là khoản vay với các
điều kiện ưu đãi về lãi suất (lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường), thời gian ân hạn và
thời gian trả nợ; hoặc không chịu lãi mà chỉ chịu chi phí dịch vụ (như với viện trợ
của Ngân hàng Thế giới), bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ
trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản
vay không ràng buộc. Vay ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn vay
ODA trên Thế giới, là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm hụt Ngân sách Nhà
Nước.
+ ODA vay hồn hợp: Bao gồm một phần ODA không hoàn lại hoặc các
khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại theo
các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển mạnh hơn cả về đời sống
kinh tế xã hội. Hiện nay các nước cung cấp ODA có xu hướng giảm dần viện trợ
không hoàn lại và tăng hình thức tín dụng ưu đãi và ODA vay hỗn hợp.
1.1.3.2 Theo nguồn cung cấp
+ ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp
cho Chính phủ nước tiếp nhận (nước phát triển cho nước đang phát triển hoặc kém
phát triển) thông qua Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ. Thông thường vốn
ODA song phương được tiến hành khi một số điều kiện ràng buộc của nước cung
cấp vốn ODA được thoả mãn. Trong tổng số vốn ODA ký kết, ODA song phương
chiếm tỷ trọng lớn có khi lên đến 80% lớn hơn nhiều so với tài trợ đa phương.
+ ODA đa phương: Là khoản ODA của các tổ chức tài chính quốc tế và khu
1.2.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị nước tài trợ
11
Các chỉ tiêu kinh tế xã hội của nước tài trợ là yếu tố quan trọng có tác động
đến lượng vốn tài trợ, điều kiện tài trợ đối với nước nhận ODA. Các chỉ số như:
tăng trưởng kinh tế, tổng thu nhập quốc dân, lạm phát thất nghiệp hay những thay
đổi chính trị có tác động đến các hoạt động hỗ trợ phát triển cho các quốc gia khác.
Ngoài ra, nếu nước tài trợ có sự biến động bất thường về thể chế chính trị, những
thay đổi trong các chính sách, quy định, thủ tục giải ngân… cũng ảnh hưởng rất lớn
đến hiệu quả thực hiện dự án tại các quốc gia nhận viện trợ. Ví dụ như Hàn Quốc,
một vài năm gần đây, Hàn Quốc gặp khó khăn về kinh tế, tình hình làm phát tăng
cao, thu nhập quốc dân thiếu ổn định, các chỉ tiêu về an sinh xã hội giảm nhẹ, lập
tức người dân lên tiếng yêu cầu Chính Phủ giảm cung cấp vốn ODA để đảm bảo
ngân sách. Từ đó Chính phủ đã có những thay đổi phù hợp trong chính sách để đảm
bảo cho kinh tế - xã hội nước mình.
1.2.1.3 Môi trường quốc tế và sự phát triển mối quan hệ kinh
tế, chính trị giữa hai phía tài trợ và nhận tài trợ
Sau các cuộc khủng hoảng kinh tế và các cuộc xung đột vũ trang khu vực,
nhu cầu về nguồn vốn ODA của các nước có xu hướng tăng, trong khi đó tổng
lượng ODA Thế giới thời gian gần đây có chiều hướng suy giảm. Từ thực tế đó,
cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước đang phát triển đang diễn ra nhằm tranh
thủ nguồn vốn hỗ trợ. Vì vậy, để giữ vững và nâng cao được nguồn vốn ODA đòi
hỏi các quốc gia tiếp nhận viện trợ phải nâng cao trình độ, kinh nghiệm và năng lực
trong công tác quản lý và thực hiện các trương trình, dự án sử dụng nguồn vốn này.
ODA đồng thời cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ sẵn có của bên cấp
viện trợ cho nước nhận viện trợ bởi sự tương hợp về thể chế chính trị, bởi quan hệ
địa dư gần gũi. Bên cấp viện trợ và các nguồn vốn chính thức khác thường cấp viện
trợ cho những người bạn về chính trị và đồng minh quân sự mà không cấp cho
những đối tượng mà họ cho là kẻ thù. Đó là tính chất địa lý- chính trị được thể hiện
rất rõ trong viện trợ.
12
và phù hợp sẽ góp phần đẩy mạnh thu hút các nhà tài trợ. Ở những quốc gia có quy
trình và thủ tục thông thoáng, thuận lợi cho công tác thực hiện các chương trình, dự
án ODA thì ở nơi đó các chương trình, dự án ODA sẽ triển khai thuận lợi, đúng tiến
độ và phát huy hiệu quả tốt, qua đó sẽ làm tăng khả năng thu hút thêm nguồn vốn
này.
Trong thời gian qua, Chính phủ đã có những chương trình hành động như
việc sửa đổi một số quy trình, thủ tục, quy định để đảm bảo thủ tục trong nước hài
hòa với các quy định của nhà tài trợ thông qua Hội Thảo về Hài hòa thủ tục diễn ra
tại Hà Nội qua các năm. Tiếp tục cải thiện cái khâu trong bộ máy hành chính, minh
bạch giải ngân các dự án tài trợ, điển hình là hài hoà thủ tục về hệ thống và mẫu
biểu báo cáo, xây dựng mẫu nghiên cứu khả thi chung giữa Việt Nam và Nhóm 5
ngân hàng phát triển (Ngân hàng Thế giới - WB, Ngân hàng Phát triển châu Á -
ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản - JBIC, Ngân hàng Tái thiết Đức -
KFW và Cơ quan Phát triển Pháp - AFD).
1.2.2.3 Hệ thống quy phạm pháp luật
Môi trường đầu tư cần phải được hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà
nước đảm bảo. Hệ thống pháp luật có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thu hút ODA từ
các nhà tài trợ khi ta xem xét ở khía cạnh bảo hộ vốn đầu tư của Chính phủ đối với
một số dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước, trong khi nhìn từ một góc độ nào đó thì
ODA gần như được coi là nguồn vốn đầu tư nhà nước.
Trước hết, để duy trì lòng tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì các nguồn
cung cấp ODA đang khai thác chính phủ Việt Nam đã tạo ra một khung pháp lý cho
việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA thông qua việc ban hành các chính sách và
các văn bản pháp lý điều tiết ODA. Hệ thống pháp luật trước hết phải công bằng,
hợp lý và đảm bảo thực thi trong thực tiễn đối với mọi thành phần kinh tế. Tạo dựng
một nền kinh tế thị trường vứng mạnh, phát huy tác dụng của kinh tế thị trường
ngay trong dự án đầu tư ODA. Nhờ đó tạo được tâm lý an toàn cho các nhà tài trợ.
14
1.2.2.4 Nâng cao năng lực bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác
chuyên trách về ODA
cứu nước này thoát khỏi khủng hoảng nghiêm trọng vào năm 1994. Năm 1998 các
tổ chức tài chính quốc tế đã hỗ trợ giúp Thái Lan, Hàn Quốc vượt qua khủng hoảng
tài chính nặng nề. Ngoài ra, ODA còn là nguồn bổ sung ngoại tệ cho đất nước và bù
đắp cho cán cân thanh toán.
+ Thứ ba, các dự án ODA thường đòi hỏi áp dụng công nghệ tiên tiến, chất
lương cao, vì vậy thông qua vốn ODA, các nước nhận viện trợ nhập khẩu thiết bị từ
các nước phát triển, nước nhận viện trợ có cơ hội tiếp xúc, sử dụng những thiết bị
mới. Tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn
nhân lực.
+ Thứ tư, ODA giúp các nước nghèo cải cách hành chính và điều chỉnh cơ
cấu kinh tế. Các dự án Oda mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên
vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả
nước. Bên cạnh đó các dự án còn giúp phía Việt Nam thực hiện cải cách hành chính
nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua các
chương trình viện trợ dự án, làm cho cơ chế quản lý kinh tế ở những nước này tiếp
cận với những chuẩn mực chung quốc tế.
+ Thứ năm, lượng vốn ODA nhận được từ các tổ chức tài chính quốc tế càng
cao, càng chứng tỏ độ tin cậy của cộng đồng quốc tế đối với nước tiếp nhận viện trợ
càng lớn. Và thông qua bên cung cấp ODA, nước nhận viện trợ có thêm cơ hội
tham gia vào các tổ chức tài chính quốc tế, đạt được sự giúp đỡ lớn hơn về vốn từ
các tổ chức này. Nước viện trợ ODA đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa nước cần
vốn với các tổ chức quốc tế.
16
+ Thứ sáu, ở các nước mới phát triển, tình trạng nợ tồn đọng do những khoản
vay từ trước đã tới thời hạn hoàn trả, nhưng chính phủ chưa có đủ khả năng chi trả
sẽ được ODA giúp đỡ, tạo điều kiện để các nước này có thể vay thêm vốn của các
tổ chức quốc tế, thực hiện việc thanh toán nợ đến hạn.
+ Thứ bảy, đối với người nghèo, thông qua chính phủ nước tiếp nhận, ODA
sẽ là những khoản tài trợ giúp cho họ thoát khỏi cảnh nghèo đói, ví dụ: những
sử dụng hàng hóa, thiết bị, dịch vụ, chuyên gia nước ngoài từ nước tài trợ.
+ Thứ hai, vay mượn ODA sẽ tăng nợ quốc gia. Bản chất ODA là khoản vay
có tính ưu đãi. Nếu chính phủ sử dụng tốt và đúng mục đích nguồn này sẽ đóng góp
rất lớn vào tiến trình phát triển, tạo hành lang môi trường cho khu vực kinh tế hoạt
động, giảm bất bình đẳng giữa các vùng từng bước tăng trường, giảm nghèo và
tăng kinh khả thi về khả năng hoàn trả nợ vay. Ngược lại, nếu chính phủ sử dụng
nguồn này sai mục đích, thất thoát và lãng phí sẽ là gánh nặng nợ cho thế hệ mai
sau. Theo kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới, giới hạn an toàn cho phép dư nợ
nước ngoài của quốc gia là dưới 60%GDP. Thập niên 90, IMF và WB cho rằng
nước đang phát triển được xem là nước nghèo mắc nợ cao (HIPCs) nếu thỏa mãn
hai điều kiện: NPV nợ/Xuất khẩu ≥ 150% và NPV nợ/thu ngân sách ≥ 250%.
Những năm gần đây, thực tế các khoản vay quốc gia được qui về giá trị hiện tại có
mức thấp hơn.
+ Thứ ba, nước tiếp nhận nguồn ODA bổ dung vào đầu tư qua các dự án đầu
tư công cộng nếu không hiệu quả sẽ gây tác động chèn lấn đầu tư tư nhân.
+ Thứ tư, nguồn ODA không ổn định và khó có thể dự báo được: do mức tài
trợ thường phụ thuộc vào cảm tính của nhà tài trợ mặc dù các nhà tài trợ có dựa trên
những tiêu chí nhất định để đưa ra cam kết tài trợ hàng năm. Do đó, nguồn ODA
18
chảy vào các nước nghèo và đang phát triển không đồng đều giữa các vùng trên thế
giới.
+ Thứ năm, thủ tục giải ngân phức tạp: mặc dù có những ưu đãi về lãi suất,
thời gian ân hạn nhưng trở ngại của việc huy động nguồn ODA là thủ tục giải ngân.
Thủ tục giải ngân giữa các nhà tài trợ có điểm khác nhau, trình tự các bước và trình
thực hiện dự án cũng khác nhau giữa nhà tài trợ với nước tiếp nhận viện trợ. Nếu
như một quốc gia nhận viện trợ với số lượng các nhà tài trợ quá nhiều sẽ dẫn dến
việc giải ngân chậm và phức tạp. Do vậy, trên thực tế, các bên cần ngồi lại với nhau
để hài hòa hóa thủ tục hoặc giảm bớt số lượng nhà tài trợ.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN VỐN
ODA CỦA HÀN QUỐC TẠI VIỆT NAM
(5,5%), Indonesia (6,4%)
4
, Đây là điều kiện để Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội
để thu hút ODA, đặc biệt trong quan hệ hợp tác giữa các thành viên ASEAN và
giữa Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực.
4
Trong báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á công bố hồi tháng 9, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
dự báo khu vực Châu Á sẽ tăng trưởng khoảng 7,2% trong năm 2011.
20
Bối cảnh trong nước: Năm 2011 là năm với nhiều thách thức lớn của kinh tế
Việt Nam với lạm phát tăng cao, tăng trưởng thấp, đầu tư trong nước giảm do thắt
chặt tiền tệ và đầu tư công giảm, đầu tư nước ngoài chững lại do tình hình kinh tế
thế giới có nhiều biến động. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn như vậy tuy nhiên
kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ. Nhìn chung, nền kinh
tế phục hồi khá nhanh trong điều kiện kinh tế thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức
tạp; an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện;
chính trị, xã hội tiếp tục ổn định, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không
ngừng được nâng cao, kinh tế tiếp tục hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế
giới. Tuy nhiên, trong 5 năm tới, nền kinh tế vẫn còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức do áp lực, những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy giảm kinh tế toàn cầu của nền kinh tế thế giới, nó tác động không nhỏ đến
nền kinh tế trong nước. Việt Nam, cũng như các quốc gia khác, không tránh khỏi.
Tuy nhiên, Việt Nam đang đối phó tốt với cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu và nền
kinh tế Việt Nam có khả năng trụ vững trong cơn bão suy thoái. Đó là cơ sở rất tốt
để Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà tài trợ trong tiến
trình phát triển của mình, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với công tác vận
động, thu hút vốn ODA trong năm 2011.
Việt Nam được xếp hạng thứ 12 trong số các quốc gia có môi trường đầu tư
thuận lợi. Về quan hệ hợp tác phát triển, Việt Nam nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ
của cộng đồng tài trợ quốc tế. Hiện nay, tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều và
ký kết với tổng giá trị 1.028,21 triệu USD (trong đó, vốn vay đạt 1.002,28 triệu
USD, viện trợ không hoàn lại đạt 25,93 triệu USD).
Nhìn chung, các dự án sử dụng vốn ODA đều được đầu tư đúng định hướng
nhằm phát triển hạ tầng cơ sở, tạo điều kiện sống, môi trường tốt hơn cho nhân dân.
Những chương trình, dự án có giá trị lớn được ký kết tập trung chủ yếu vào lĩnh vực
giao thông, cấp thoát nước, xử lý môi trường cho các địa bàn và phát triển xã hội.
22
Tổng giá trị ODA ký kết từ đầu năm đến ngày 17/11/2011 đạt 3.152 triệu USD (vốn
vay đạt 3.010 triệu USD và viện trợ không hoàn lại đạt 142 triệu USD)
Bảng 2.1: Tình hình ký kết hiệp định ODA theo ngành, lĩnh vực
(từ đầu năm đến ngày 17/11/2011)
Ngành, lĩnh vực
ODA ký kết
(triệu USD)
Cơ cấu
(%)
1. Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông 574,78 18,23
2. Năng lượng và công nghiệp 419,33 13,30
3. Nông nghiệp phát triển nông thôn - Xóa đói
giảm nghèo
505,09 16,02
4. Cấp thoát nước và vệ sinh môi trường 476,40 15,11
5. Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường và
các ngành khác (bao gồm xây dựng thể chế,
quản lý đào tạo…)
1.177,28 37,34
Tổng 3.152,88 100%
Nguồn: Báo cáo tổng kết Vụ Kinh tế Đối ngoại 2011, Bộ Kế hoạch và đầu tư
Tổng số vốn ODA cam kết trong 5 tháng đầu năm thông qua các hiệp định từ
mức hơn 1 tỷ USD trong các công bố chính thức, vọt lên trên 1,66 tỷ USD, tăng
tiên đầu tư, đồng thời phải có các chính sách, giải pháp về an toàn nợ nước ngoài.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giải ngân vốn ODA 4 tháng đầu năm 2011 đạt
khoảng 1 tỷ USD, bằng 36% kế hoạch năm, trong đó JICA đạt 494,7 triệu USD.
Kết thúc năm 2011, mức giải ngân vốn ODA cả năm đạt khoảng 3.650 triệu
USD (vốn vay: 3.450 triệu USD, viện trợ không hoàn lại: 200 triệu USD), trong đó
350 triệu USD là giải ngân nhanh. Đối với một số nhà tài trợ lớn, mức giải ngân
ODA năm 2011 như sau: WB (819 triệu USD), ADB (760 triệu USD), JICA (1.316
24
triệu USD), AFD (190 triệu USD), EU (58 triệu USD), Hàn Quốc (147 triệu USD),
Hà Lan (20 triệu USD) Như vậy, so với mức giải ngân theo các chương trình dự
án ODA năm 2012 đạt 2.941,5 triệu USD thì khối lượng ODA giải ngân năm 2011
sẽ cao hơn 7%. Lượng ODA giải ngân cũng có xu hướng tăng lên qua các năm. Tuy
nhiên, dựa vào biểu đồ 2.1 ta có thể thấy tỷ lệ giải ngân vốn ODA lại chưa tốt, tỷ lệ
giải ngân lại có xu hướng giảm xuống. Lượng vốn giải ngân 10 năm gần đây trung
bình chỉ bằng 53% vốn cam kết.
Biểu đồ 2.1: Tình hình giải ngân ODA giai đoạn 2005-2011
Nguồn: Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 2011 – Chính phủ
Mặc dù các chỉ tiêu về cam kết, ký kết và giải ngân nguồn vốn ODA đều đạt
và vượt kế hoạch đề ra, nhưng tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn ODA vẫn
chưa đạt yêu cầu và đối với một số nhà tài trợ còn thấp hơn với mức bình quân của
25