Phần 3: Kỹ thuật nuôi tảo làm thức ăn cho ấu trùng tôm
1. Giới thiệu chung:
Tảo khuê là một trong những loài tảo phù hợp về kích thước và chất lượng dinh dưỡng
cho ấu trùng tôm sú. Tảo có tốc độ tăng trưởng nhanh, có thể nuôi trong điều kiện nhân
tạo, trong các trại sản xuất giống. Qua thực tế sản xuất và nghiên cứu người ta đã tìm ra
được hai loại tảo Silic (Baciliariophyta) để nuôi sinh khối và làm thức ăn cho ấu trùng
tôm.
Chaetoceros sp và Skeletonema costatum là hai loại tảo dạng chuỗi, kích thước tế bào từ
4-6μm. Tế bào bề mặt có dạng hình chữ nhật hoặc vuông, ở góc tế bào có các gai hoặc
lông ngắn, chính các gai và lông này làm cho các ết bào tảo kết hợp nhau thành chuỗi
(Skeletonema 20-50tb/ chuỗi. Chaetoceros 10-20tb/ chuỗi). Tảo khuê là một loài tảo phù
du có trong các thủy vực nước lợ, nước mặn, có nồng độ muối từ 0-50‰. Các loài tảo
trên rộng nhiệt thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ 25 - 300C. Cường độ ánh sáng đặc biệt
quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tảo trong điều kiện
nuôi, thời gian chiếu sáng trên 12 giờ thì sau khoảng 20 - 24h tảo sinh trưởng đạt mật độ
500.000 - 600.000tb/ml. Trong điều kiện môi trường thuận lợi, chất lượng dinh dưỡng
đầy đủ, sự phát triển của các loài Chaetoceros và Skeletonema làm cho nước có màu
vàng xanh đến màu nâu. tảo nuôi sinh khối phát triển qua 4 pha.
1.1 Pha chậm:
Đôi khi kéo dài do sự thích hợp với môi trường dinh dưỡng mới của tảo kém và tế bào có
thể chết.
1.2 Pha tăng trưởng:
Đặc trưng bởi sự phân chia tế bào liên tục theo công thức X x 2n
(X là số tế bào tham gia sinh sản X ≥ 1 , n số lần sinh sản (n ≥ 1))
1.3 Pha dừng
Đặc trưng bởi sự cân bằng giữa sự sinh tăng trưởng của tế bào mới với tế bào kém bi chết
đi.
1.4 Pha chết:
Đây là kết quả của sự triệt tiêu hết chất dinh dưỡng đến mức không duy trì sự phát triển
hoặc cũng có thể chết do chất thải trong quá trình sinh sống.
Thảo khuê có thể sinh sản theo 2 cách:
- KNO3 100gr
- Hòa tan trong 1 lít nước ngọt
* Dung dịch 5 (môi trường silicat)
- Na2SiO3.5H2O 20gr (hoặc 67ml)
- Hòa tan trong 1 lít nước ngọt
Các môi trường trên khi dùng trong nuôi cấy thì dùng mỗi loại dung dịch (1,3,4,5) theo tỷ
lệ 1/1000 (1ml dung dịch mỗi loại cho 1 lít nước). Khi dùng để nuôi sinh khối thì bón các
dung dịch trên theo tỷ lệ 1/10.000.
2.3 Nguồn nước:
Nguồn nước nuôi giữ và nuôi sinh khối tảo cần phải được xử lý (xem phần kỹ thuật xử lý
nước)
2.4 Kỹ thuật thu giống, thuần giống, giữ giống:
2.4.2 Kỹ thuật thu giống:
Giống được vớt ở những vùng ven bờ biển vào lúc triều cao, dùng lưới phiêu sinh có kích
thước mắt lưới 15-18μm, vớt theo hình số 8. Để có loài cần nuôi ta phải thu mẫu nhiều
lần. Dưới kính hiển vi ta kiểm tra đu7ọc tảo Chaetoceros sp và Skeletonema có dạng
chuỗi.
2.4.2 Thuần giống:
Tảo vớt tự nhiên thường lẫn nhiều tạp mùn bả hữu cơ và động vật phù du. Do vậy ta phải
phân lập tảo bằng lưới có kích thước mắt lưới lớn hơn lượt qua nhiều lần và cuối cùng chỉ
giữ lại phần nước có tảo trong đó.
Có thể thực hiện việc thuần giống tảo theo 2 phương pháp sau:
- Dùng ưu thế môi trường để thuần giống một cách tương đối. Nghĩa là trong điều kiện
môi trường dinh dưỡng đưa vào phù hợp với sinh học phát triển của 2 giống tảo này sẽ
giúp cho chúng ưu tiên phát triển hơn. Nên trải qua một thời gian 2 giống tảo này sẽ
chiếm ưu thế để phát triển quần thể, chúng sẽ trở nên thuần chủng.
- Dùng phương pháp phân lập để tách 2 giống tảo này ra để nuôi riêng với môi trường
dinh dưỡng thích hợp. Sau nhiều lần phần lập chúng sẽ trở nên thuần chủng.
- Khi tảo giống đã thuần chủng thì được nuôi giữ và đưa ra nuôi sinh khối.
2.4.3 Giữ giống: