Thực trạng về chính sách lãi suất tại việt nam và một số giải pháp cho chính sách lãi suất tại việt nam - Pdf 20

Nhóm :
Đỗ Thị Thu Hiền
Trần Thị Bích Ngọc
Lớp: Tiền tệ D2 ca 2 chiều thứ 4
Tên đề tài: Những vấn đề cơ bản về lãi suất
MỤC LỤC
I. NHỮNG VẦN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT:
A.TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT:
1 Khái niệm lãi suất
2.Phân loại lãi suất
3.Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
B.CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
1.Khái niệm
2.Chủ thể
3.Vài trò của chính sách lãi suất đến nền kinh tế
C.KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TẠI MỘT SỐ
NƯỚC:
Chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng trung ương Mỹ:
1.FED
2.Chính sách điều hành lãi suất của FED
3.Tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế
II. THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TẠI VIỆT NAM:
1. Diễn biến qua các giai đoạn:
2. Những điểm đối mới trong năm 2010
3. Đánh giá :
a. Những điểm tích cực, nguyên nhân
b. Những điểm tiêu cực, nguyên nhân
III. GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TẠI VIỆT NAM
A. Một số giải pháp kiến nghị
B. Vấn đề đặt ra trong năm 2010 và định hướng chính sách lãi suất
Phần một : TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT

a. Lãi suất tín dụng thương mại: được áp dụng khi các doanh nghiệp cho
nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
Tùy vào thời hạn mua bán chịu, cung – cầu về mua bán chịu và mức độ
tín nhiệm giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệ mua bán chịu mà lãi
suất tín dụng thương mại có các mức khác nhau.
b. Lãi suất tín dụng ngân hàng: áp dụng trong quan hệ giữa:
- Ngân hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền
gửi và cho vay
- Trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các ngân
hàng
- Trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân
hàng
c. Lãi suất tiền gửi: được áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho người gửi
tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào quy mô
và thời hạn tiền gửi. Sự biến động của lãi suất tiền gửi có ảnh hưởng
không chỉ với quy mô nguồn vốn của các ngân hàng mà còn ảnh
hưởng mạnh việc điều chỉnh, kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế.
d. Lãi suất tiền vay: được áp dụng để tính lãi tiền vay mà các khách hàng
phải trả ngân hàng.
Về nguyên tắc thì mức lãi suất tiền vay bình quân phải cao hơn mức lãi
suất tiền gửi bình quân, và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời
hạn khác nhau cũng như mức rủi ro khác nhau. Sự thay đổi lãi suất tiền
vay có tác động tới quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiền của hệ
thống ngân hàng trung gian. Do vậy mà Ngân hàng Trung ương có thể
thực hiện mục tiêu lới lỏng hoặc thắt chặt cung ứng tiền bằng cách ảnh
hưởng tới lãi suất tiền vay của các ngân hàng áp dụng đối với nền kinh tế.
Lãi suất tái chiết khấu là một loại lãi suất cho vay áp dụng khi ngân hàng
trung gian cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có
giá chưa tới hạn thanh toán và thỏa mãn các điều kiện chiết khấu theo
quy định. Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá và

lạm phát
Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong các quan hệ tín
dụng.
b. Lãi suất thực tế: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
về lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.
2.3 Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính
Trả lãi theo mức cố định hay thả nổi là biểu hiện bản chất của hợp đồng tài
chính. Cách phân loại theo tiêu thức này chia lãi suất thành lãi suất cố định và
lãi suất thả nổi.
a. Lãi suất cố định: là lãi suất được giữ cố định trong suốt thời hạn vay
+ Ưu điểm của lãi suất cố định là: người gửi tiền và người vay tiền biết trước số
tiền lãi được trả và phải trả.
+ Nhược điểm của nó đó là: bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một
thời gian nào đó, dù cho các lãi suất khác thay đổi như thế nào.
b. Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi theo lãi suất tham chiếu hoặc theo
chỉ số lạm phát
Lãi suất thả nổi có lợi cho cả 2 bên nếu khi nhận và trả tiền đều tính theo cùng
mức lãi suất chung là lãi suất hiện tại, thường áp dụng cho những thời kì lãi suất
thị trường biến động nhiều, khó dự đoán chính xác chiều hướng cũng như mức
độ biến động lãi suất.
2.4 Phân loại theo cách đo lường lãi suất
a. Lãi suất đơn: là lãi suất tính 1 lần trên số vốn gốc cho suốt kỳ hạn vay.
Lãi suất này thường được áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn và việc trả
nợ được thực hiện một lần khi đến hạn.
c. Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu
được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Nó thường được áp dụng cho các
khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán, trong đó lãi của kỳ trước được
nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.
d. Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thu nhập
được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay của khoản đầu

+ Nguồn vốn của các chủ thể nước ngoài có thể là Chính phủ, có thể là doanh
nghiệp, có thể là dân cư nước ngoài.
Điểm cân bằng lãi suất được tạo nên tại điểm phản ánh sự phù hợp giữa cung và
cầu quỹ cho vay.
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất thị trường
a. Những nhân tố làm dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay
+ Lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư
Trong giai đoạn đang tăng trưởng của nền kinh tế, có nhiều cơ hội đầu tư được
trông đợi là sinh lợi, làm tăng nhu cầu vay vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư của
các doanh nghiệp. Lượng cầu quỹ cho vay tăng lên ở mọi mức lãi suất và đường
cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải => lãi suất tăng.
Ngược lại, trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái, các cơ hội đầu tư có khả năng
sinh lợi giảm sút làm lượng cầu quỹ cho vay giảm, dẫn tới đường cầu quỹ cho vay
dịch chuyển sang trái => lãi suất giảm.
+ Lãi suất dự tính
Sự tăng lên của mức lạm phát dự tính làm cho chi phí thức dự tính của việc vay
tiền ở mọi mức lãi suất cho trước giảm xuống. Người vay vốn được lợi. Điều này
làm tăng nhu cầu vay vốn của ác chủ thể kinh tế, lượng cầu quỹ cho vay tăng ở mọi
mức lãi suất => đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải.
Sự giảm xuống của lạm phát dự tính có tác động ngược lại, cầu quỹ cho vay ở mọi
mức lãi suất khi đó giảm đi => đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang trái.
+ Tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước
Khi mức bội chi Ngân sách Nhà nước tăng, nhu cầu vay vốn tài trợ thiếu hụt ngân
sách của Nhà nước tăng ở mọi mức lãi suất làm tăng lượng cầu quỹ cho vay =>
đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải.
b.Những nhân tố làm dịch chuyển đường cung quỹ cho vay
+ Tài sản và thu nhập
Khi nền kinh tế tăng trưởng thì tài sản và thu nhập của chủ thể kinh tế tăng lên làm
tăng khả năng cung ứng vốn ở mọi mức lãi suất. Do vậy cung quỹ cho vay tăng lên
và đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang phải => lãi suất giảm.

3.3.1 Cầu và cung tiền
Mức cầu tiền là lượng tiền mà các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân muốn
nắm giữ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại và trong tương lai với giá cả và
các biến số kinh tế khác cho trước
Cầu tiền được tạo bởi nhu cầu tiền tệ của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá
nhân.
3.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
+ Các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu tiền
- Thu nhập thực tế
Khi nền kinh tế đang tăng trưởng, thu nhập thực tế tăng lên, các chủ thể kinh tế
muốn giữ thêm tiền làm nơi dự trữ giá trị đồng thời muốn chi thêm tiền cho tiêu
dùng nhiều hơn làm cầu tiền tăng.
Sự suy thoái của nền kinh tế lại có tác động ngược lại. Thu nhập, tài sản của
mọi chủ thể kinh tế khi đó giảm xuống làm cầu tiền giảm.
- Mức giá cả
Khi mức giá cả tăng, làm sức mua của tiền tệ giảm xuống, người ta muốn nắm
giữ lượng tiền nhiều hơn để đảm bảo vẫn mua được lượng hàng hóa, dịch vụ
như trước kia => làm tăng cầu tiền, đường cầu tiền dịch chuyển sang phải
Khi mức giá cả giám xuống, nhu cầu nắm giữ tiền giảm => đường cầu tiền dịch
chuyển sang trái.
+ Các nhân tố làm dịch chuyển đường cung tiền
Sự thay đổi mức cung ứng tiền do Ngân hàng Trung ương quyết định. Khi ngân
hàng Trung ương tăng cung ứng tiền sẽ làm đường cung tiền dịch chuyển sang
phải và ngược lại.
4. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
4.1 Là công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của
các chủ thể kinh tế.
Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiện tại của các chủ thể
kinh tế. Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân
tố cơ bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm.

Trong quan hệ vay vốn, người đi va không chỉ hoàn trả gốc khi đến hạn mà còn
phải hoàn trả lãi khoản vay. Hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vừa là một đặc trưng
của quan hệ tín dụng, vừa là một nguyên tắc tín dụng. Bằng việc buộc phải trả
lãi đã kích thích các doanh nghiệp nói riêng, kích thích người vay vốn nói
chung phải sử dụng vốn hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi vì
tiền lãi thực chất là một phần của nhuận mà người đi vay trả cho người cho vay.
4.4 Là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế
Trong trường hợp nền kinh tế phát triển, lãi suất thường tăng do cung – cầu quỹ
cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ
tăng của cung quỹ cho vay.
Trong trường hợp nền kinh tế suy thoái, lãi suất thờn có xu hướng giảm xuống.
Các xu hướng biến động của lãi suất được phản ánh trên đường cong lãi suất.
Do vậy nhìn vào đường cong lãi suất ta có thể thấy được xu hướng biến động
của lãi suất và tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.
4.5 Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thành công
cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát
triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động tới mục tiêu
trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Ngân hàng
trung ương sử dụng loại công cụ này dưới các hình thức ấn định trực tiếp lãi
suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi - lãi
suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay qua đó khống chế lãi suất cho vay của
các ngân hàng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.
Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, Ngân hàng trung ương sử dụng
công cụ lãi suất gián tiếp chẳng hạn như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay
cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi
sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô. Ngày nay theo xu hướng tự do hóa tài
chính, cơ chế điều tiết nền kinh tế bằng công cụ lãi suất ngày càng trở nên phổ

rộng sản xuất và ngược lại lãi suất cao sẽ khiến doanh nghiệp hạn chế vay vốn đầu
tư . Lãi suất là công cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích các Doanh nghiệp đầu tư
vào các ngành sản xuất các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh
tế thông qua các ưu đãi về lãi suất , về điều kiện cung cấp tín dụng và thời hạn
thanh toán
Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Chúng ta thấy rằng , lãi suất là khoản chi phí của người đi vay , nên sự thay đổi của
lãi suất sẽ ảnh hưởng tới quyết định đến đầu tư và tiêu dùng của người dân , doanh
nghiệp và các thành phần kinh tế khác . Do đó có thể tác động đến mục tiêu của
nền kinh tế vĩ mô : - Lãi suất thấp → kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng →
tăng tổng cầu → sản lượng tăng , giá tăng , thất nghiệp giảm → đồng nội tệ có xu
hướng giảm giá so với ngoại tệ . - Lãi suất cao → giảm thiểu đầu tư , hạn chế tiêu
dùng → giảm tổng cầu → sản lượng giảm , giá giảm , thất nghiệp tăng → đồng nội
tệ có xu hướng tăng so với ngoại tệ Như vậy bằng cách giảm lãi suất , Ngân hàng
Nhà nước có thể tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển . Tương tự ,
Ngân hàng Nhà nước có thể tăng lãi suất khi muốn thực hiện chính sách thắt chặt
tiền tệ , giảm bớt lượng khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng
Là công cụ phân phối có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng triệt để các
nguồn lực của nền kinh tế . Khi Nhà nước muốn khuyến khích phát triển một
ngành nghề quan trọng nào đó trong nền kinh tế , Nhà nước có thể thực hiện bằng
cách ưu đãi về lãi suất cho vay ( như giảm lãi suất cho vay ) , và ngược lại khi
muốn hạn chế phát triển của các ngành chưa cần thiết để dành nguồn lực cho các
ngành khác thì Nhà nước có thể tăng lãi suất cho vay của ngành đó . Như vậy ,
những ngành được hỗ trợ sẽ phát triển hơn còn các ngành bị hạn chế sẽ ít phát triển
hơn . Do đó chính sách lãi suất là một công cụ để phân phối cơ cấu của nền kinh tế
nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực
C. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM:
CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA MỸ:

- Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế
các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo
dục và qua website.
2.Chính sách điều hành lãi suất của Fed
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), ngân hàng Nhật Bản (BOJ), ngân hàng Anh, ngân
hàng Canada và ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đã cắt giảm lãi suất xuống
mức thấp lịch sử. Một số ngân hàng trung ương của các nước như Hungary, Ailen
và Nga lúc đầu tăng lãi suất để đối phó với sự giảm giá mạnh của tỷ giá, nhưng sau
đó đã hạ lãi suất lại sau khi tỷ giá đã được bình ổn.
Hình 1: Diễn biến lãi suất cơ bản của FED 2007-2009

Nguồn: Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED)
Bên cạnh đó, các nước còn thực hiện nhiều biện pháp khác của chính sách tiền tệ.
Thứ nhất, các biện pháp được đưa ra đảm bảo lãi suất thị trường giảm cùng với lãi
suất chính sách. Ví dụ, để giữ lãi suất thị trường ngắn hạn gắn với mục tiêu chính
sách, ngân hàng Anh và FED đã giảm biên độ của lãi suất qua đêm. Thứ hai, một
số can thiệp được đưa ra để làm giảm căng thẳng trên thị trường liên ngân hàng
bằng cách giảm sự mở rộng thị trường liên ngân hàng. Ngân hàng trung ương các
nước đã cung cấp thêm nhiều vốn để bù đắp những giảm sút về cung thị trường và
đảm bảo sự phân bổ đồng đều các dự trữ trong hệ thống. Các ngân hàng trung
ương còn nới lỏng các thế chấp, kéo dài kỳ hạn của các hoạt động tái tài chính và
thiết lập các đường dây trao đổi liên ngân hàng trung ương nhằm giảm sức ép vốn
đô la ở thị trường bên ngoài. Thứ ba, các giới chức tiền tệ còn cung cấp một khối
lượng lớn những thanh khoản bổ sung để giữ các tổ chức tài chính hoạt động và
giảm rủi ro lan ra trên các phần của thị trường tài chính qua việc mua các giấy tờ
thương mại, cổ phiếu công ty, trái phiếu tài sản. Một số ngân hàng trung ương còn
can thiệp vào thị trường ngoại tệ để tăng sức ép lên đồng tiền của họ nhằm giảm
nguy cơ giảm phát. Với những can thiệp trên, tài khoản của các ngân hàng trung
ương đã được mở rộng từng bước và các cấu phần của nó đã thay đổi tốt.
3.Tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế

có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.
2.Chính sách lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tiến trình đổi mới cơ chế điều hành lãi suất đã được tổng kết tóm tắt qua các thời
kỳ:
 Từ năm 1988-1992: quá trình chuyển dần chế độ lãi suất âm sang chế độ lãi
suất dương, từng bước xóa bỏ bao cấp qua lãi suất.
 Từ tháng 10-1993 đến tháng 12 năm 1995 là giai đoạn vừa quy định các
mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể, vừa cho vay theo lãi suất thỏa thuận.
 Từ ngày 1-1-1996, giai đoạn thực hiện cơ chế lãi suất trần với nhiều mức lãi
suất trần khác nhau, quy định cho các loại tín dụng ngắn, trung dai hạn, và
các vùng kinh tế khác nhau.
 Từ tháng 8 năm 2000 đến 2008, xuất phát từ yêu cầu tiếp tục đổi mới hoạt
động ngân hàng phù hợp với nhịp độ và mục tiêu phát triển nền kinh tế theo
cơ chế thị trường, thực hiện Luật Ngân hàng nhà nước và xu ths hội nhấp
một bước bằng việc chuyển cơ chế lãi suất trần sang cơ chế điều hành lãi
suất cơ bản. Lãi suất cơ bản được hình thành theo quan hệ cung cầu vốn trên
thị trường tiền tệ, nhưng vẫn có sự khống chế của Ngân hàng nhà nước bằng
việc quy định cộng thêm biên độ nhất định để các tổ chức tín dụng được
phép xác định lãi suất cho vay. Đồng thời chuyển dần theo thị trường.
 Từ đầu năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ và sự
biến động giá dầu cũng như thị trường tài chính thế giới, tại Việt Nam lãi
suất trên thị trường tiền tệ không ngừng tăng lên. Nhà nước đã sử dụng
chính sách thắt chặt tiền tệ để kìm hãm lạm phát, , ổn định thị trường tiền tệ,
thị trường vốn. Theo đó, nhà nước khống chế lãi suất cho vay (15%) và thả
nổi lãi suất cho vay đối với các ngân hàng thương mại. Điều đó tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp chủ động huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đi sâu vào cơ chế điều hành lãi suất cơ bản hiện nay, Ngân hàng nhà nước bỏ việc
quy định trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, chuyển
sang xác định và công bố lãi suất cơ bản dựa trên việc tham khảo lĩa suất cho vay
ngắn hạn thông thường của các ngân hàng thương mại áp dụng đối với các khách

tái chiết khấu từ 13% – 11% – 12% – 10% – 7,5% – 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị
trường mở từ 15% – 14,3% – 13,5% – 11% – 9% – 8% – 7,5% – 7%/năm.
Biểu 1: Diễn biến lãi suất chủ đạo và lãi suất thị trường từ tháng 5/2008 –
7/2009
Đơn vị: %/năm
INCLUDEPICTURE
"http://thongtinphapluatdansu.files.wordpress.com/2009/10/presentation1_thumb4.
jpg?w=458&h=352" \* MERGEFORMATINET
2.2 Những thay đổi trong năm 2010 :
Ngày 26/2/2010 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư
số 07/2010/NHNN quy định việc cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của
các TCTD đối với khách hàng.
Việc ban hành Thông tư 07 giúp lãi suất dẫn được trả về cho thị trường, qua đó
khơi thông được nguồn vốn tín dụng trung – dài hạn, mang lại nhiều lợi ích cho
các TCTD (doanh thu, cơ hội kinh doanh ), cho doanh nghiệp (tiếp cận vốn dễ
dàng, sử dụng vốn một cách hợp lý hơn…) và cho nền kinh tế. Điều đặc biệt hơn là
Thông tư 07 là tín hiệu chính sách cho những bước tiến thận trọng dần đạt đến mục
tiêu tự do hóa lãi suất.
Điểm lại lịch sử cơ chế điều hành lãi suất của NHNN, tiến trình tự do hóa lãi suất
được đánh dấu bằng những mốc quan trọng:
Tháng 06/ 2001: trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, mức lãi suất cho vay
và huy động ngoại tệ do các NHTM tự quyết định theo cung – cầu vốn trên thị
trường trong từng thời kỳ.
Riêng lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp tại NHTM và tiền gửi
ngoại tệ của NHTM tại NHNN chưa được tự do hóa mà vẫn do NHNN quy định,
nhằm khuyến khích các doanh nghiệp bán ngoại tệ cho các NHTM và các NHTM
không gửi ngoại tệ ra nước ngoài.
Ngày 30 tháng 5 năm 2002, NHNN đưa ra Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về
việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng
đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

khoản phí
Mặt khác, những bất cập trong cơ chế “lãi suất trần” đã làm thay đổi cơ cấu nguồn
vốn huy động của các TCTD: nguồn vốn huy động ngắn hạn tăng lên, trong khi
nhu cầu vốn vay trung – dài hạn là rất lớn, điều này có thể làm rủi ro mất cân đối
kỳ hạn vốn tăng lên.
Chính vì vậy, ngày 26/2/2010 NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2010/NHNN
cho phép các ngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các
khách hàng vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đầu tư phát triển.
Cơ chế này cũng áp dụng với các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân và hộ gia đình của
khách hàng vay; các hoạt động cho vay tiêu dùng thông qua nghiệp vụ phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng.
Thông tư 07 có hiệu lực đã nhận được rất nhiều phản ứng tích cực từ các TCTD,
các chuyên gia, các doanh nghiệp và toàn xã hội. Các chuyên gia cho rằng lãi suất
dẫn được trả về cho thị trường, qua đó khơi thông được nguồn vốn tín dụng trung –
dài hạn và mang lại lợi ích cho các TCTD (doanh thu, cơ hội kinh doanh ), cho
doanh nghiệp (tiếp cận vốn dễ dàng, sử dụng vốn một cách hợp lý hơn…) và cho
nền kinh tế. Điều này có thể thấy rõ qua một số điểm tích cực của Thông tư 07:
Thứ nhất, Thông tư 07 có hiệu lực sẽ hình thành mặt bằng lãi suất cho vay minh
bạch, rõ ràng và phản ánh đúng tín hiệu của thị trường. Cho phép áp dụng lãi suất
thỏa thuận vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay được vốn với giá thỏa thuận
minh bạch, vừa chấm dứt tình trạng phí “ngầm” trong bản thân mỗi tổ chức tín
dụng mà Ngân hàng Nhà nước cũng khó kiểm soát.
Thứ hai, với việc vận hành theo cơ chế của thị trường thì các NHTM sẽ thay đổi
mức lãi suất cho vay dựa trên các yếu tố: chi phí vốn đầu vào của ngân hàng; mức
độ rủi ro của từng khách hàng; lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của họ và một số
yếu tố liên quan khác.
Vậy việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp chủ yếu sẽ phụ thuộc chính bản thân
doanh nghiệp. Do đó, để tiếp cận vốn dễ dàng hơn thì các doanh nghiệp sẽ phải

điều hành theo ý thức chủ quan, áp đặt, hành chính thì với cơ chế lãi suất này, đã
thể hiện một bước đổi mới cơ bản là Ngân hàng nhà nước đã điều hành lãi suất
theo tín hiệu thị trường, chú trọng đến cung cầu vốn tín dụng và mục tiêu của chính
sách tiền tệ.
Lãi suất cơ bản cộng thêm một biên độ xác dịnh trong từng thời kỳ tuy vẫn còn
mang tính chất hành chính, nhưng sự can thiệp chỉ mang tính quy định vè nguyen
tắc chugn của ngan hàng nhà nước và không quy định cụ thể, trực tiếp các mức lãi
suất cho vay của các TCTD.
Điều chỉnh lãi suất cơ bản hàng tháng một cách linh hoạt đã tạo điều kiện bám sát
tín hiệu thị trường, cung cầu vốn tín dụng, đáp ứng mục tiêu của chính sách tiền tệ,
đảm bảo sự kiểm soát của Ngan hàng nhà nước trên thị trường tiền tệ.

Hai là, việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được
nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM
trong những tháng đầu năm 2008, nhất là đối với NHTM cổ phần quy mô nhỏ
chuyển đổi mô hình từ nông thôn lên; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo,
củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống
ngân hàng. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động
vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao . Cùng với diễn biến lạm phát
có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo
khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong những tháng đầu
năm 2009 tương đối ổn định.

Ba là, Cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và
hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, thể hiện
là lãi suất thị trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ
đạo của NHNN; lãi suất huy động và cho vay của các NHTM biến động theo cung
– cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của
NHNN, đã tác động làm cho thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. Năm 2008 và những
tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp

cho vay.Lãi suất huy động và lãi suất cho vay là một vấn đề thống nhất, cần được
tính toán và xác định cụ thể trong hoạt động tín dụng.
Việc khống chế trần lãi suất cho vay khiến cho các doanh nghiệp khó hạ lãi suất
thấp nhất cho vay, do đó giảm tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường để thu
hút khách hàng. Thực tế các tổ chức tín dụng không dễ độc quyền, tự do tăng lãi
suất cho vay khi không được thị trường chấp nhận.
Trên thực tế nhiều vùng,hộ nghèo vẫn khó tiếp cận với các khoản tín dụng trên thị
trường chính thức của các tổ chức tín dụng do khối lượng,thời hạn và thủ tục chưa
được hỗ trợ.
Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam vẫn chưa thực sự triệt để:
Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với nền kinh tế vẫn còn bị khống chế,
trong khi đó, môt bộ phấn lớn lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam ( trừ lãi suất kỳ
phiếu, trái phiếu của ngân hàng thương mại). lãi suất tiền gửi và cho vay ngoại tệ
( trừ lãi suất tiền gửi bằng đô la Mỹ của các pháp nhân tại các tổ chức tín dụng), lãi
suất thị trường nội tệ liên Ngân hàng đã được tự do hóa.
Ngân hàng nhà nước khống chế lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ đối với các
pháp nhân tại tổ chức tín dụng, thường thấp hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân
cư cùng kỳ hạn. Do mức lãi suất tiền gửi thấp, mốt số tổ chức kinh tế không muốn
gửi tiền tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam, mà mang gửi tại các tổ chức tín
dụng nước ngoài hưởng mức lãi suất cao hơn, gây mất nguồn ngoại tệ trong nước.
Việc tồn tại các hình thức cho vay ưu đãi đã ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hoạt động
đầu tư tín dụng, làm tê liệt đông cơ nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
định, giám sát vốn cho vay, ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả kinh
doanh của ngân hàng thương mại. Do các ngân hàng thương mại hiện nay vẫn
dùng nguồn vốn tự huy động đề cho vay ưu đãi theo các mục tiêu chỉ định, nhưng
việc cấp bù phần giảm lãi suất cho vay chưa được thực hiện đầy đủ ( chỉ thực hiện
khi KQKD của NH bị lỗ). Trong trường hợp như vậy, lãi suất cho vay thương mại
sẽ bị đẩy lên cao, để bù đắp cho các khoản vay ưu đãi. Bên cạnh đó, viecj cho vay
ưu đãi thường gắn với rủi ro tín dụng, do người vay gây ra, nhưng cũng có thể do
chính NHTM gây ra, vì họ nghĩ rằng các khoản cho vay đó đã được Nhà nước bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status