Thực trạng việc quản lý
thực tập của trường Cao
Đẳng Bán Công Hoa Sen và
một số giải pháp. Bùi Trân Thúy PHẦN I
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trường Cao Đẳng Bán Công Hoa Sen là trường một trường Cao Đẳng được
thành lập từ năm 1994, hợp tác đào tạo với Pháp và đã thực hiện mô hình đào tạo
xen kẽ, kết hợp chặt chẽ giữa việc học lý thuyết tại trường với việc thực tập tại các
công ty, doanh nghiệp. Trong 7 học kỳ của 3 năm học, sinh viên có 2 lần được thực
tập. Trường đã vậ
n dụng triệt để phương châm giáo dục đúng đắn của Đảng: “Học
đi đôi với hành”.
Thị trường lao động của nước ta hiện nay vẫn chưa có sự cân bằng giữa
“thầy” và “thợ”, số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học hằng năm tăng
đáng kể nhưng vẫn chưa cung ứng được cho công ty, doanh nghiệp một lực lượng
lao độ
ng theo yêu cầu của họ. Sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm
những việc không đúng chuyên môn vẫn còn là một thực tế đau lòng. Ngành giáo
dục đã và vẫn đang tìm những biện pháp tháo gỡ, khắc phục tình trạng nêu trên.
còn khá nhiều bất cập trong công tác này. Nhất là trong hai, ba năm gần đậy, trường
phát triển nhanh, số sinh viên hằng năm đều tăng, việc tổ chức và quản lý thực tập
có nhiều vấn đề phát sinh và là một trong những mối bận tâm của Ban giám hiệu
trường, của phòng Quan hệ công ty, phòng Đào tạo quản lý sinh viên và các Khoa,
Ngành.
Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Thực trạ
ng việc tổ chức, quản lý
thực tập của trường Cao đẳng bán công Hoa Sen và một số giải pháp” với mong
muốn góp phần nâng cao hiệu quả thực tập cho sinh viên.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phân tích thực trạng của việc quản lý thực tập của trường Hoa Sen trong
những năm qua. Từ những ưu điểm và nhược điểm đã phân tích, nghiên cứu để đề
xuất những giải pháp pháp cụ thể nhằm giúp cho nhà trường, các bộ phận có liên
quan, các khoa và ngành có thể quản lý việc thực tập của sinh viên một cách chặt
chẽ hơn, hiệu quả hơn, tạo điều ki
ện để sinh viên nâng cao các kỹ năng chuyên môn,
trình độ nghiệp vụ và từ đó, giúp sinh viên tìm được việc làm ngay sau khi tốt
nghiệp mà không cần phải qua thời gian thử việc.
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1. Xây dựng những cơ sở lý luận liên quan đến việc quản lý thực tập
2. Thực trạng việc quản lý thực tập của sinh viên tại Khoa Quản trị trong
những năm qua.
3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thực tập của
sinh viên.
IV. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
việc nghiên cứu, những phương pháp phù hợp để thực hiện công trình nghiên cứu.
Từ mong muốn đó, chúng tôi đã xác định:
1. Phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống: vấn đề được nghiên cứu một cách toàn diện, khách
quan: việc quản lý thực tập của Khoa phải được nghiên cứu trong mối quan hệ với
các khoa khác trong trường, với mục tiêu đào tạo chung của trường.
- Quan điểm lịch sử-logích: tìm hiểu sự hình thành và phát triển của đối
tượng nghiên cứu, cụ thể là việc quản lý thực tập đã được thực hi
ện từ khi trường
Hoa Sen mới thành lập (1999) cho đến nay (2004) với những ưu điểm được phát huy
và những nhược điểm cần được khắc phục.
- Quan điểm thực tiễn: từ những điều tra, nghiên cứu thực tế, phân tích để
phát hiện những vấn đề còn tồn tại trong việc quản lý thực tập. Và cũng dựa trên kết
quả thực tập c
ủa sinh viên, việc quản lý thực tập của nhà trường để đề xuất những
biện pháp quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả thực tập và khẳng định tính khả thi
của các giải pháp.
2. Phương pháp hệ:
2.1 Phương pháp quan sát:
- Đối tượng được quan sát là: phòng Quan hệ công ty, SV của các ngành thuộc
Khoa Quản trị, các GV là Trưởng ngành, các doanh nghiệp đã tiếp nhận sinh viên
đến thực tập.
- Mục đích của việc quan sát là tìm hiểu thực trạng của việc quản lý thực tập của
Khoa Quản trị, sự phối hợp với các bộ phận có liên quan.
2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến:
Để thực hi
ện việc nghiên cứu này, chúng tôi đã đưa ra 3 mẫu phiếu thăm dò ý
kiến:
- Phỏng vấn trưởng phòng và nhân viên phòng Quan hệ công ty để tìm hiểu
những thuận lợi, khó khăn trong việc tìm địa điểm thực tập cho SV, đề xuất về sự
phối hợp với các bộ phận khác trong nhà trường.
VIII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Phần 1: Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ của đề tài
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5. Giả thuyết nghiên cứu
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
Phần 2: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý lu
ận
1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước
2. Thực tập
3. Quản lý
4. Công tác thực tập và quản lý thực tập của trường CĐBC Hoa Sen
5. Các khái niệm, một số thuật ngữ cần làm rõ
Chương 3: Thực trạng của việc tổ chức và quản lý thực tập của trường CĐBC Hoa
Sen
1. Việc chuẩn bị
cho học kỳ thực tập
2. Nội dung của học kỳ thực tập
3. Việc tổ chức thực tập
4. Tìm hiểu việc đánh giá thực tập
CHƯƠNG 1
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về vấn đề thực tập thật ra không phải là một đề tài hoàn toàn mới
lạ. Vì việc thực tập để nâng cao tay nghề đã được thực hiện từ rất lâu ở các trường
sư phạm, trường y khoa.
Xuất phát từ yêu cầu rèn luyện tay nghề cho các giáo sinh, Bộ Giáo dục trước
đây, nay là bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), ngay từ những năm 70, đã ban hành
bộ chương trình th
ực tập sư phạm thống nhất cho tất cả các trường sư phạm. Qua
nhiều lần thay đổi, điều chỉnh, bổ sung (vào các năm 1974, 1982, 1986), chương
trình thực tập sư phạm chính thức được áp dụng tại các trường CĐSP hiện nay là bộ
chương trình được ban hành kèm theo các QĐ số 2677/GD-ĐT ngày 3-12-1993, QĐ
số 3086/GD-ĐT ngày 27/7/1996, QĐ số 3637/GD-ĐT ngày 30/8/1996 và QĐ số
2493/GD-ĐT ngày 25/7/1995 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục. Chương trình thực tập sư
phạm hiện hành còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn giáo dục, kể cả nội dung
lẫn cách đánh giá. Vì thế, việc nghiên cứu các giải pháp để nâng cao chất lượng thực
tập sư phạm đã được các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục quan tâm.
1. Các hội thảo, hội nghị chuyên đề do Bộ Giáo dục tổ chức:
- “Thực tập sư phạm tập trung, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”
(1993)
- “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” (1996) 2. Đề tài khoa học và một số tài liệu chuyên đề khác:
- Tài liệu “Hỏi đáp về thực tập sư phạm” (1993) của tập thể các tác giả nhà
hình thức tổ chức thực tập sư phạm ở các trường sư phạm. - “Kiến tập và thực tập sư phạm” (1999) của TS Nguyễn Đình Chỉnh và TS.
Phạm Trung Thanh là giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP dùng cho các
trường CĐSP. Các tác giả đã nêu lên những vấn đề bức xúc đang được đặt ra hiện
nay đối với hoạt động thực tập sư phạm và đề xuất những giải pháp khắc phục nhằm
nâng cao chất luợng đào tạ
o nghề cho giáo sinh. Giáo trình cũng đã khẳng định vị tí,
vai trò, ý nghĩa của kiến tập và thực tập trong quá trình đào tạo giáo viên; những
nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc tổ chức kiến tập và thực tập sư phạm; nội dung kiến
tập và thực tập sư phạm; phương pháp đánh giá kết quả kiến tập và thực tập. Có thể
xem đây là một cẩm nang dành cho sinh viên s
ư phạm. Tuy nhiên, giáo trình còn
mang nặng tính lý thuyết, chưa sinh động lắm.
- “Quản lý hoạt động thực tập sư phạm ở trường Cao Đẳng sư phạm Nha
Trang- thực trạng và giải pháp” (2003) Luận văn Thạc sĩ của Phan Phú là một
công trình nghiên cứu đi sâu vào việc phân tích thực trạng của việc quản lý thực tập
tại trường Cao Đẳng sư phạm Nha Trang, các nguyên nhân dẫn đế
n thực trạng để từ
đó, đưa ra các giải pháp căn cứ trên các điều kiện thực tế của trường nhằm quản lý
hiệu quả hơn hoạt động thực tập.
Như vậy, hoạt động thực tập sư phạm đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới
dạng cẩm nang, giáo trình hoặc các đề tài khoa học, dựa trên các chỉ đạo của Bộ
Giáo dục, tình hình th
ực tế của các trường ĐHSP và CĐSP, đưa ra những giải pháp
nhằm tổ chức, quản lý hoạt động này tốt hơn, hiệu quả hơn để thực tập sư phạm
thực sự là một hoạt động có ý nghĩa trong quá trình đào tạo nghề cho các thầy cô
giáo tương lai.
Việc thực tập tại các doanh nghiệp theo phương thức đào tạo của trường Hoa
ếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội
dung, phương pháp dạy học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực
hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và
sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự
học, tự hoàn thiện học vấn và
tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo
dục chính qui và không chính qui, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nuớc trở
thành một xã hội học tập”. Thực hiện phương châm: “Học đi đôi với hành, giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”.
Như vậy, Đảng, Nhà n
ước và nhân dân ta ngày càng coi trọng vai trò của giáo
dục, quan tâm nhiều hơn và đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu
cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp nhân dân về học tập và tiếp thu những kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm chất, năng lực cần thiết trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậ
p nền kinh tế quốc tế.
Phương hướng phát triển giáo dục trong những năm sắp tới là phải: tiếp tục nâng
cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, phát huy tinh thần độc lập, sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện
học vấn và tay nghề.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, cần phải đặc biệt coi trọng công tác hướng
nghiệp và phân luồng cho học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi
vào lao động nghề nghiệp; mở rộng qui mô và phát triển đa dạng các loại hình
trường trung học chuyên nghi
ệp và dạy nghề. Hiện đại hóa một số trường dạy nghề,
tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội. Đào tạo để thế
hệ trẻ có nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội là nhiệm vụ trước mắt mà ngành giáo
bản lĩnh của mình, tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc XHCN. Bản lĩnh là sự thống nhất giữa ý chí, trí tuệ,
đạo đức và
năng lực thực hành. Cả dân tộc và mỗi người Việt Nam chỉ có thể có được bản lĩnh
thông qua học tập, đào tạo, tự học tập và tự đào tạo bền bỉ, thường xuyên, suốt đời
trong mọi hòn cảnh, ở mọi nghề nghiệp, thực học chân chính, tự tìm kiếm tri thức và
khả năng thực hành mới, có dũng khí đối mặt và không chị
u tụt hậu, dốt nát trước
khoa học, công nghệ hiện đại. Không chỉ biết khen mà phải biết sử dụng, sáng tạo tri
thức và công nghệ tiên tiến...”.
Cũng theo ông, “ngày nay thế hệ trẻ mong muốn có trình độ đại học, có tay
nghề,nhiều người có tuổi, do hoàn cảnh trước đây không thể học tập cao hơn, cũng
muốn nâng cao kiến thức lên trình độ sau trung học. Đó là nhu cầu và nguyện vọng
chính
đáng. Xu thế chung của thế giới là đại học và dạy nghề sẽ không tách rời
nhau, cho nên cần “phổ cập đại học”. Hướng theo xu thế đó, ta nên dựng cầu nối
giữa đại học và dạy nghề, cụ thể là “dạy nghề sau trung học”, một loại hình đại học
ngắn hạn. Cho nên, tìm mọi cách phổ cập hóa, đại chúng hóa giáo dục đại học và
dạy nghề cho mọi lứ
a tuổi, mọi hoàn cảnh là một chủ trương thiết thực, chứ không
phải cao xa”. (Giáo dục, đào tạo- mấy vấn đề tồn tại- Lê Khả Phiêu, báo Sàigòn giải
phóng ngày 17/7/2002).
Thế nhưng, theo báo Quân đội Nhân dân ngày 1/5/2002 thì kết quả điều tra
lao động và việc làm gấn đây, trong cả nuớc có hơn 38 triệu lao động, 85% tham gia
vào các cơ quan, xí nghiệp nhưng chỉ có 17% được đào tạo nghề, chỉ có 4% công
nhân bậc 6/7 và 7/7. Phần l
ớn, lực lượng lao động được đào tạo ngắn hạn ở các
trung tâm dạy nghề nên nhìn chung chưa đảm bảo cả về kiến thức lẫn tay nghề. Như
vậy, việc đầu tư cho công tác dạy nghề ở nước ta là cấp bách, vì đào tạo nghề cũng
chính là đầu tư cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
dục nói chung, đồng thời hiểu và thực hiện một số chức năng của người giáo viên,
qua đó, nâng được lòng yêu nghề, mến trẻ, tăng hứng thú với nghề dạy học, nâng
cao năng lực và phẩm chất của người giáo viên phổ thông”. Thực tập sư phạm là qui định bắt buộc đối với tất cả SV các trường sư phạm,
ngay từ những năm 70, Bộ Giáo dục đã ban hành bộ chương trình thống nhất cho tất
cả các trường sư phạm. Qua nhiều lần thay đổi, điều chỉnh, bổ sung (vào các năm
1974, 1982, 1986), thực tập vẫn được xem là một học phần bắt buộc trong quá trình
đào tạ
o nghề cho các thầy cô giáo tương lai.
3. Thực tập y khoa:
Đối với SV trường Đại học Y khoa thì thực tập tại các bệnh viện cũng là yêu
cầu bắt buộc và được thực hiện từ năm thứ 2 cho đến năm thứ 6 cùng với những đòi
hỏi ngày càng cao hơn. SV thực tập mỗi buổi sáng các bệnh viện và buổi chiều đến
trường học. Buổi tối được phân công trực
để hỗ trợ cho các bác sĩ.
Ở học kỳ 2 năm thứ 2, SV phải đến bệnh viện để học hỏi và làm việc như một
điều dưỡng (chích, thay băng...). Đến năm thứ 3, SV được thực tập lâm sàng (tìm
hiểu, học tập triệu chứng học) để tìm hiểu triệu chứng của các bệnh, các chuyên
khoa. Đến năm thứ 4, SV được học về bệnh học (tìm hiể
u nguyên nhân, quá trình
diễn biến của các bệnh ở các chuyên khoa: Nội, Ngoại, Sản, Nhi). Đến năm thứ 5,
SV được thực tập ở các chuyên khoa lẻ như: lao, tâm thần, da liễu. Đến năm thứ 6 là
giai đoạn thực tập điều trị, trở lại với 4 chuyên ngành: Nội, Ngoại, sản, Nhi.
Như vậy, việc thực tập đối với sinh viên Y khoa cũng là một hình thức đào
tạo xen kẽ
và có mục đích rõ ràng là rèn luyện và nâng cao tay nghề. Đồng thời,
bệnh viện cũng sẽ là nơi để các sinh viên được tiếp xúc, làm quen với môi trường y
tế, làm việc trong môi trường đó, trau giồi y đức, rèn luyện kỹ năng khám và điều trị
- Rèn luyện cho SV tính tự giác, chịu đựng được áp lực của công việc để có
thể trở thành một nhân viên thực thụ sau này.
III. QUẢN LÝ
1. Quản lý là gì?
1.1 Theo tự điển tiếng Việt do trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản
1992, quản lý có nghĩa là:
- Trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định
- Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
1.2 Theo F.Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người
khác làm, và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhấ
t và rẻ
nhất. 1.3 Theo Henry Fayol: Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp
và kiểm tra.
1.4 Theo Các Mác: mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung có qui
mô tương đối lớn hoặc nhiều, hoặc ít đều cần có sự chỉ huy nhằm điều hòa hoạt
động của các cá nhân và thực hiện các chức năng nói chung, sinh ra trong vận động
tổng thể của sản xuất khác với sự
vận động của một công cụ độc lập.
1.5 Theo ThS Trần Thị Tuyết Mai: Một cách khái quát, quản lý có thể được
hiểu là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được
những mục đích của tổ chức.
Các định nghĩ
a nêu trên đã cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về khái niệm
quản lý. Tuy còn có sự khác nhau về thuật ngữ, cách diễn đạt nhưng chúng ta vẫn có
thể rút ra những điểm chung về khái niệm quản lý: Quản lý, đó chính là những tác
Tiến sĩ Phạm Minh Hạc đã đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục và cũng là
quản lý nhà trường như sau: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đối với ngành giáo dục,
với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Việc qu
ản lý nhà trường (có thể mở rộng ra là
việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa
hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo
dục (Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục. NXB Giáo dục. Hà Nội 1986).
Tóm lại, quản lý giáo dục là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và qu
ản lý các hoạt động của giáo viên, sinh viên và các lực lượng giáo dục khác,
cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo trong nhà trường. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đã trở thành một
vấn đề cấp bách và quản lý, thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường
để tối ưu hóa quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ theo
đường lối và nguyên lý giáo
dục mà Đảng đã đề ra.
4. Quản lý hoạt động thực tập:
4.1 Là quá trình vận dụng các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo và kiểm tra) một cách sáng tạo để tổ chức, điều hành toàn bộ các hoạt động có
liên quan đến việc thực tập. Cụ thể là:
- Xây dựng kế hoạch thực tập với nội dung thực tập rõ ràng. - Tổ chức thực hiện hoạt động thực tập với sự phân công, phân nhiệm cho
từng nội dung công việc đến từng người, từng bộ phận có liên quan.
- Kiểm tra thực tập theo những qui định và thời điểm nhất định.
- Đánh giá hoạt động thực tập.
4.2 Quản lý thực tập cũng bao hàm ý nghĩa tìm những giải pháp tốt nhất để
bắt đầu hoạt động cách đây 13 năm với lịch sử hình thành và phát triển như sau:
1.1 Quá trình thành lập và phát triển:
Năm 1991: theo QĐ số 257/QĐ-UB ngày 12/8/1991 trường được thành lập
với tên gọi truờng Tin học quản lý Hoa Sen trực thuộc sự quản lý của Hiệp hội xu
ất
nhập khẩu và hợp tác đầu tư TP HCM (Infotra).
Ngày 22/4/1994, Ban bảo trợ trường Hoa Sen và UBTP HCM đã ký kết một
thỏa ước hợp tác với tòa Đô chánh Paris, Phòng thương mại và công nghiệp
Versailles Val d’Oise Yvelines, Hiệp hội Lotus France về việc hỗ trợ phát triển
trường Hoa Sen. Từ thỏa ước trên, ngày 11/10/1994, UBND TP HCM đã ra quyết
định số 3390/QĐ cho phép trường mở rộng hoạt động, phát triển từ trường dân lập
thành trường bán công , chịu sự
quản lý chỉ đạo trực tiếp của Sở GD-ĐT TP HCM.
Ngày 27/4/1999, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 115/1999/QĐ-TT
công nhận việc thành lập trường Cao đẳng bán công Hoa Sen, tiền thân là trường
Tin học và quản lý Hoa Sen. (1991). Hiện nay, trường trực thuộc UBND TP HCM
và nằm trong hệ thống các trường Đại học- Cao đẳng. Trường hoạt động dựa trên
qui chế của trường bán công do Bộ Giáo dục ban hành thông qua sự phê duyệt và
th
ống nhất của UBND TP HCM. Hiện nay, trường đang hoàn tất các thủ tục để xin
được chuyển thành trường Đại học Hoa Sen.
1.2 Qui mô và các chương trình hợp tác quốc tế:
Hiện nay tổng số GV-NV của trường là hơn 200 và tổng số SV cho tất cả các
hệ chính qui, phi chính qui, đào tạo ngắn hạn...là trên 4000. Từ năm 1991, trường đã
ý thức được tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, vì thế, ngay từ khi thành l
ập,
trường đã thiết lập nhiều quan hệ hợp tác và cho đến nay, vẫn phát huy tác dụng.
Trường đã có những đối tác sau đây:
- CCIV: (Chambre de Commerce et d’Industrie de Versailles Val d’Oise
Yvelines) với mục đích: thực hiện phương thức đào tạo xen kẽ.
khoa học, có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn, từng bước tiếp
cận với những tiến bộ về khoa học kỹ thu
ật của thế giới. Phương pháp dạy học của trường rất coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự
học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện
kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
1.4 Giới thiệu đôi nét về Khoa Quản trị:
+ Chức năng:
Khoa trực thuộc ban Giám hiệu, có chức nă
ng hỗ trợ Ban giám hiệu tổ chức
và quản lý công tác chỉ đạo một số ngành chuyên môn, đồng thời thực hiện công tác
nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ trong phạm vi các nhành
nghề mà trường đào tạo. Trong năm học Khoa có hơn 1200 SV thuộc các hệ đào tạo
cao đẳng và kỹ thuật viên.
+ Nhiệm vụ:
- Xây dựng, quản lý và chỉ đạo các hoạt động chuyên môn và công tác nghiên
cứu khoa học, phổ biế
n khoa học.
- Quản lý toàn bộ công tác đào tạo của các ngành trong Khoa .
- Chỉ đạo các bộ môn xây dựng và thực hiện kế hoạch giảng dạy
- Tổ chức quản lý, xây dựng và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy,
phục vụ cho việc giảng dạy của Khoa.
- Quản lý sinh viên trong Khoa về các mặt học tập, thực tập, rèn luyện… trong
quá trình học tập tại Trường, x
ử lý kết quả học tập, tổ chức cho SV báo cáo
thực tập, nhận xét sinh viên hàng năm, cuối khoá học.
- Xây dựng và mở rộng quan hệ với các công ty và các tổ chức xã hội
- Xây dựng và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để nắm bắt kịp thời những tiến
- Tạo điều kiện để SV hoà nhập môi trường làm việc th
ực tế, áp dụng các
kiến thức đã học vào công việc của một công ty, doanh nghiệp.
- Học hỏi, rèn luyện phong cách làm việc theo nhóm ở nơi công sở biết
cách ứng xử, giải quyết các tình huống nghiệp vụ trong môi trường thực tế.
3. Quản lý thực tập tại trường Hoa Sen:
Việc quản lý thực tập tại trường Hoa Sen được thực hiện căn cứ vào trách
nhiệm cụ thể của từng bộ phận như sau:
3.1 Trách nhiệm của phòng Quan hệ công ty: