MỤC LỤC
Trang
Mở đầu…………………………………………………………....3
Phần I: Tổng quan............................................................................4
1.1.Ngành kỹ thuật hóa học……………………………………4
1.2.Chuyên ngành hóa dược và hóa chất bảo vệ thực vật…….5
Phần II: Thiết kế quy trình tổng hợp Phenobarbital……………7
2.1. Tổng quan về phenobarbital………………………………7
2.1.1.Tên……………………………………………………….7
2.1.2.Tính chất vật lý………………………………………….8
2.1.3.Tính chất hóa học……………………………………….8
2.1.4.Tác dụng dược lý………………………………………..8
2.1.5.Tiêu chuẩn dược điển…………………………………..17
2.1.6.Ứng dụng……………………………………………….19
2.2. Những phương pháp tổng hợp Phenobarbital…………...20
2.2.1. Phương pháp 1………………………………………...20
2.2.2. Phương pháp 2………………………………………...20
2.2.3. Phương pháp 3………………………………………...20
2.2.4. Phương pháp 4………………………………………...21
2.2.5. Phương pháp 5………………………………………...22
2.2.6. Phương pháp 6………………………………………...22
2.2.7. Phương pháp 7………………………………………...23
2.2.8. Phương pháp 8………………………………………...24
2.3. Quy trình công nghệ lựa chọn…………………………….25
2.3.1. Cơ sở lý thuyết lựa chọn………………………………25
2.3.2. Đề xuất quy trình phản ứng…………………………..27
2.3.2.1.Phương trình phản ứng……………………………..27
2.3.2.2. Mô tả quy trình phản ứng…………………………27
2.3.2.3. Sơ đồ khối quy trình……………………………….28
2.3.3. Tính chất chủa một số nguyên liệu tham gia vào quá trình phản
ứng……………………………………………………………....29
Phần I . TỔNG QUAN :
1.1. NGÀNH KỸ THUẬT HÓA HỌC : [1][6]
Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất và phương pháp biến đổi chất.
Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên tử, phân tử, và các phản ứng
hóa học xảy ra giữa những thành phần đó.
Sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để liệt kê tất cả các sản phẩm chịu ảnh
hưởng bởi các kỹ sư hóa học, nhưng biết về những ngành công nghiệp sử
dụng các kỹ sư hóa học có thể giúp bạn hiểu được phạm vi công việc của họ.
Người kĩ sư công nghệ hoá có thể làm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau
như: nghiên cứu cơ bản và ứng dụng các quá trình hoá học, phát triển sản
phẩm, thiết kế, mô phỏng, hiệu chỉnh các quy trình công nghệ và thiết bị,
thiết kế, mô phỏng, điều hành hoạt động của các nhà máy; công tác ở các cơ
quan chính phủ, nghiên cứu và giảng dạy tại các trường Đại học, các viện
nghiên cứu hoặc có thể tham gia vào các lĩnh vực thương mại như: kinh
doanh, quản lý, marketing, cố vấn, bán hàng…
Trong những ngành công nghiệp,kỹ sư hóa chất dựa vào kiến thức về toán
học và khoa học, đặc biệt là hóa học, để vượt qua vấn đề kỹ thuật an toàn và
kinh tế. Và, tất nhiên, họ biêủ diễn và áp dụng các kiến thức để giải quyết bất
kỳ những thách thức kỹ thuật mà họ gặp phải. Đừng mắc phải sai lầm khi
nghĩ rằng kỹ sư hóa học làm mọi việc, mặc dù chuyên môn của họ cũng được
áp dụng trong lĩnh vực pháp luật,giáo dục, xuất bản, tài chính, và y học, cũng
như nhiều lĩnh vực khác có yêu cầu đào tạo kỹ thuật.
Ví dụ: các kỹ sư hóa học cải thiện kỹ thuật chế biến thực phẩm, và
phương pháp sản xuất phân bón , để tăng số lượng và chất lượng của thực
phẩm có sẵn. Họ cũng tạo nên các sợi tổng hợp làm cho quần áo của chúng
ta thoải mái hơn và có khả năng chịu nước, họ phát triển phương pháp sản
xuất đại trà thuốc, làm cho chúng có giá cả phải chăng hơn, họ tăng độ an
toàn và hiệu quả các của các phương pháp tinh chế sản phẩm dầu mỏ, năng
lượng và các nguồn hóa chất, làm tăng sản xuất và hiệu quả chi phí hơn. Họ
các mối quan hệ giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng dược lý (gọi
là SAR) và mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay
tác dụng dược lý (gọi là QSAR).
Vai trò của hoá dược là nghiên cứu cấu trúc phân tử của hợp chất và cải
thiện tính chất chữa bệnh của hợp chất đó. Đây là sự giao thoa của hoá học
(khoa học về vật chất) và dược học (khoa học về hoạt tính của thuốc), liên kết
chặt chẽ giữa tính chất dược lý và cấu trúc hóa học. Hầu hết các loại thuốc
hữu cơ đều được cô lập từ thiên nhiên, một trong những nhiệm vụ quan trọng
cơ bản của lĩnh vực hóa dược là làm thay đổi cấu trúc hoá học của hợp chất
theo hướng mong muốn, có thể bằng tổng hợp hữu cơ. Các nghiên cứu về hóa
dược bắt đầu ngay sau khi quá trình tổng hợp hữu cơ được hoàn tất : nghĩa là
tiến hành xong phần tổng hợp các phân tử mong muốn, trong khi nhiệm vụ
của hóa dược là khảo sát “các” hoạt tính của các phân tử này. Khi nói đến
việc khảo sát các phân tử thuốc thì người ta luôn luôn dùng ở số nhiều, luôn
luôn là “các hoạt tính” chứ không bao giờ dừng lại ở số ít “một hoạt tính” nào
đó do hóa dược có tính đa ngành rất lớn. Bốn yếu tố quan trọng trong ngành
hóa dược là dược lực học, dược động học (PK-ADME), độc tính và tính chất
lý-hoá học.
Hoá dược với đặc điểm liên ngành của nó đã làm cầu nối kết hợp hóa hữu
cơ, hoá phân tích, hóa học phức chất, vật lý ... với sinh lý học và y học. Là
một ngành khoa học có tính cơ bản rất cao trong việc phát hiện, nghiên cứu
bản chất của thuốc và các nghiên cứu cơ bản đã và đang phát triển rất mạnh
trong thập kỷ qua. Ngày nay với sự hợp tác của các nhà khoa học trên nhiều
lĩnh vực đa và đang tiến hành nghiên cứu và tìm các loại hợp chất mới có
khả năng chống ung thư, HIV-AIDS, virus,… và mở ra những hi vọng cho
các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.
-Thực trạng ngành công nghệ hoá dược :
Phải thừa nhận một thực tế là xét về quy mô, ngành công nghiệp hoá dược
nước ta còn tương đối nhỏ bé và nghèo nàn về chủng loại sản phẩm, chưa sản
xuất được các nguyên liệu chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu bào chế các loại
2.1 .Tổng quan về phenobarbital
2.1.1. Tên:
-Tên chung: phenobarbital
-Tên riêng: Luminal
Eskabarb
Solfoton
Talpheno
-Tên khoa học: 5-etyl-5-phenylpyrimidine-2, 4,6 (1 H, 3 H, 5 H)-trione
hay:
5-Ethyl-5-phenyl-2, 4,6 (1 H ,3 H ,5 H )-pyrimidinetrione (1 H, 3 H, 5
H)-pyrimidinetrione
-Công thức:
Công thức phân tử: C
12
H
12
N
2
O
3
Phân tử khối: 232,24
2.1.2.tính chất vật lý:
-Tinh thể không màu hay bột kết tinh trắng , không mùi .Vị hơi đắng.
-Độ tan: Rất kho tan trong nước,xấp xỉ 1 g phenobarbital hòa tan trong 1l
nước, hơi tan trong cloroform, tan trong ether, tan trong ethanol 96%, tạo
thành hợp chất tan trong nước và hydroxyd , carbonat kiềm và amoniac.
-Điểm nóng chảy: 175-179c
-pH: 5,0-6,0 (bão hòa dung dịch)
-Nhập P: 1,47 (thực nghiệm xác định giá trị) 1,36 (tính toán giá trị)
làm tăng ngưỡng động kinh. Thuốc chủ yếu được chỉ định trong cơn động
kinh toàn bộ (cơn lớn), và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm
giác).
Phenobarbital làm giảm nồng độ bilirubin huyết thanh ở trẻ sơ sinh, ở người
bệnh tăng bilirubin huyết không liên hợp, không tan huyết bẩm sinh và ở
người bệnh ứ mật trong gan, có thể do cảm ứng glucuronyl transferase, một
enzym liên hợp bilirubin.
Thuốc uống được hấp thu chậm ở ống tiêu hóa (80%), thuốc gắn vào
protein huyết tương (ở trẻ nhỏ 60%, ở người lớn 50%) và được phân bố khắp
các mô, nhất là ở não, do thuốc dễ tan trong mỡ. Thể tích phân bố là 0,5 - 1
lít/kg. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau khi uống 8 - 12 giờ ở người
lớn, sau 4 giờ ở trẻ em và nồng độ đỉnh trong não đạt sau 10 - 15 giờ. Nửa đời
của thuốc trong huyết tương dài (2 - 6 ngày) và thay đổi theo tuổi: Trẻ em từ
1 đến 10 tuổi đào thải phenobarbital nhanh hơn nhiều so với người lớn (40 -
50 giờ ở trẻ em; 84 - 160 giờ ở người lớn) còn ở người bệnh bị suy gan hoặc
suy thận thì dài hơn rất nhiều. Phải sau 15 - 21 ngày mới đạt trạng thái cân
bằng động của thuốc. Thuốc đặt hậu môn hầu như được hấp thu hoàn toàn ở
ruột già.
Nếu tiêm tĩnh mạch, tác dụng của thuốc xuất hiện trong vòng 5 phút và đạt
mức tối đa trong vòng 30 phút. Tiêm bắp thịt, tác dụng xuất hiện chậm hơn
một chút. Dùng theo đường tiêm, phenobarbital có tác dụng kéo dài từ 4 đến
6 giờ.
Phenobarbital được hydroxyl hóa và liên hợp hóa ở gan. Thuốc đào thải chủ
yếu theo nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (70%)
và dạng thuốc nguyên vẹn (30%); một phần nhỏ vào mật và đào thải theo
phân. Phenobarbital là chất cảm ứng cytochrom P
450
mạnh nên có ảnh hưởng
đến chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa ở gan thông qua cytochrom
P
huyết lúc ra đời, phụ thuộc thuốc). Nguy cơ dị tật bẩm sinh càng cao,
nếu thuốc vẫn được dùng mà không cắt được động kinh. Trong trường
hợp này, cân nhắc giữa lợi và hại, vẫn phải cho tiếp tục dùng thuốc
nhưng với liều thấp nhất đến mức có thể để kiểm soát các cơn động
kinh. Nếu người mẹ không bị động kinh, nhưng có dùng phenobarbital
trong thời kỳ mang thai, nguy cơ về dị tật ít thấy, nhưng tai biến xuất
huyết và lệ thuộc thuốc ở trẻ sơ sinh còn là vấn đề đáng lo ngại. Chảy
máu ở trẻ sơ sinh cũng giống như chảy máu do bị thiếu hụt vitamin K
và điều trị khỏi bằng vitamin K. Ðể đề phòng chảy máu liên quan đến
thiếu hụt vitamin K, cần bổ sung vitamin K cho mẹ (tiêm 10 - 20
mg/ngày) trong tháng cuối cùng của thai kỳ và cho trẻ sơ sinh (tiêm 1 -
4 mg/ngày trong 1 tuần). Ở trẻ sơ sinh có mẹ đã dùng barbiturat trong
suốt ba tháng cuối thai kỳ có thể có triệu chứng cai thuốc. Cần theo dõi
chặt chẽ các dấu hiệu suy hô hấp ở trẻ sơ sinh mà mẹ dùng
phenobarbital lúc chuyển dạ và nếu cần thì phải điều trị ngay ngộ độc
thuốc phenobacbital quá liều. Trẻ đẻ thiếu tháng rất nhạy cảm với tác
dụng ức chế của phenobarbital, nên phải rất thận trọng khi dùng thuốc
trong trường hợp dự báo đẻ non.
-Thời kỳ cho con bú
Phenobarbital được bài tiết vào sữa mẹ. Do sự đào thải thuốc ở trẻ bú
mẹ chậm hơn, nên thuốc có thể tích tụ đến mức nồng độ thuốc trong
máu trẻ có thể cao hơn ở người mẹ và gây an thần cho trẻ. Phải thật
thận trọng khi bắt buộc phải dùng phenobarbital cho người cho con bú.
Phải dặn các bà mẹ cho con bú mà uống phenobarbital, nhất là với liều
cao, chú ý theo dõi con mình xem có bị tác dụng ức chế của thuốc hay
không. Cũng nên theo dõi nồng độ phenobarbital ở trẻ để tránh mức
gây độc.
Tác dụng không mong muốn (ADR)
Thường gặp, ADR >1/100
Toàn thân: Buồn ngủ.
xương và nhuyễn xương do dùng thuốc chống co giật.
Liều lượng và cách dùng
Cách dùng
Phenobarbital có thể uống, tiêm dưới da, tiêm bắp sâu và tiêm tĩnh
mạch chậm. Ðường tiêm dưới da gây kích ứng mô tại chỗ, không được
khuyến cáo. Tiêm tĩnh mạch được dành cho điều trị cấp cứu các trạng
thái co giật cấp, tuy vậy tác dụng của thuốc cũng bị hạn chế trong các
trường hợp này (thuốc được lựa chọn trong trạng thái động kinh là
diazepam hoặc lorazepam). Khi tiêm tĩnh mạch, người bệnh phải nằm
bệnh viện và được theo dõi chặt chẽ. Thuốc phải tiêm chậm vào tĩnh
mạch, tốc độ không quá 60 mg/phút.
Ðể tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, 120 mg bột natri phenobarbital
khan được hòa tan trong 1 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn. Ðể tiêm tĩnh
mạch, 120 mg bột natri phenobarbital khan cần được hòa tan trong 3
ml nước cất pha tiêm vô khuẩn.
Nếu đã dùng dài ngày, phải giảm liều phenobarbital dần dần để tránh
các triệu chứng cai thuốc khi người bệnh đã nghiện. Khi chuyển sang
dùng thuốc chống co giật khác, phải giảm liều phenobarbital dần dần
trong khoảng 1 tuần, đồng thời bắt đầu dùng thuốc thay thế với liều
thấp.
Liều lượng
Liều lượng tùy thuộc từng người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết
tương 10 microgam/ml gây an thần và nồng độ 40 microgam/ml gây
ngủ ở đa số người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết tương lớn hơn
50 microgam/ml có thể gây hôn mê và nồng độ vượt quá 80
microgam/ml có khả năng gây tử vong. Tổng liều dùng hàng ngày
không được vượt quá 600 mg.
Ðường uống (tính theo phenobarbital base):
Liều thông thường người lớn:
Chống co giật: 60 - 250 mg mỗi ngày, uống 1 lần hoặc chia thành liều