Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu…………………………………………………………....3
Phần I: Tổng quan............................................................................4
1.1.Ngành kỹ thuật hóa học……………………………………4
1.2.Chuyên ngành hóa dược và hóa chất bảo vệ thực vật…….5
Phần II: Thiết kế quy trình tổng hợp Phenobarbital……………7
2.1. Tổng quan về phenobarbital………………………………7
2.1.1.Tên……………………………………………………….7
2.1.2.Tính chất vật lý………………………………………….8
2.1.3.Tính chất hóa học……………………………………….8
2.1.4.Tác dụng dược lý………………………………………..8
2.1.5.Tiêu chuẩn dược điển…………………………………..17
2.1.6.Ứng dụng……………………………………………….19
2.2. Những phương pháp tổng hợp Phenobarbital…………...20
2.2.1. Phương pháp 1………………………………………...20
2.2.2. Phương pháp 2………………………………………...20
2.2.3. Phương pháp 3………………………………………...20
2.2.4. Phương pháp 4………………………………………...21
2.2.5. Phương pháp 5………………………………………...22
2.2.6. Phương pháp 6………………………………………...22
2.2.7. Phương pháp 7………………………………………...23
2.2.8. Phương pháp 8………………………………………...24
2.3. Quy trình công nghệ lựa chọn…………………………….25
2.3.1. Cơ sở lý thuyết lựa chọn………………………………25
2.3.2. Đề xuất quy trình phản ứng…………………………..27
có hiệu quả cho đến khi Alfred Hauptmann nhận ra khi sử dụng cho các
bệnh nhân động kinh của mình.Do tác dụng trên vào thời đó Phenobarbital
được cung cấp rộng rãi và ®îc s¶n xuÊt trªn qui m« c«ng nghiÖp.
Tuy ngày nay do các tác dụng phụ ,Phenobarbital không được khuyến
khích là thuốc ưu tiên sử dụng,nhưng đôi khi nó vẫn được sử dụng như một
thuốc giảm đau hay thuốc ngủ ở bệnh nhân lo lắng hoặc kích động hoặc
những người mẫn cảm với benzodiazepin , và các loại thuốc an thần mới
hơn.
Không thể không nói rằng Phenobarbital có ý nghĩa to lớn trong y học
và trong ngành công nghiệp dược với vai trò là thuốc có hiệu quả rộng rãi
chống co giật đầu tiên và lâu đời nhất còn được sử dụng đến ngày nay.
Phần I . TỔNG QUAN :
1.1. NGÀNH KỸ THUẬT HÓA HỌC : [1][6]
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất và phương pháp biến đổi chất.
Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên tử, phân tử, và các
phản ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó.
Sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để liệt kê tất cả các sản phẩm chịu ảnh
hưởng bởi các kỹ sư hóa học, nhưng biết về những ngành công nghiệp sử
dụng các kỹ sư hóa học có thể giúp bạn hiểu được phạm vi công việc của họ.
Người kĩ sư công nghệ hoá có thể làm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau
Định hướng :
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Theo Sở Lao động Hoa Kỳ, Phòng Lao độngThống kê, kỹ sư hóa học được
dự kiến sẽ có việc làm tăng trưởng 8 phần trăm trong dự đoán mười năm từ
2006 đến 2016. Đây là khá nhanh cho tất cả các nghề. Mặc dù việc làm tổng
thể về ngành công nghiệp hóa học sản xuất dự kiến sẽ giảm, các công ty hóa
chất sẽ tiếp tục nghiên cứu và phát triển mới hóa chất và hiệu quả quy trình
để tăng sản lượng hiện có nhiều hơn nữa.
Trong số các ngành công nghiệp sản xuất, dược phẩm có thể cung cấp
tốt nhất cơ hội cho người tìm việc. Tuy nhiên, hầu hết tăng trưởng việc làm
cho các kỹ sư hóa học là để cung cấp cho ngành như nghiên cứu khoa học, và
dịch vụ kỹ thuật, đặc biệt đối với nghiên cứu về năng lượng và phát triển lĩnh
vực công nghệ sinh học, công nghệ nano,năng lượng sinh học và môi trường.
1.2. CHUYÊN NGÀNH HÓA DƯỢC & HÓA CHẤT BẢO VỆ
THỰC VẬT:[2]
Hóa dược theo định nghĩa của IUPAC là một ngành khoa học dựa trên
nền tảng hóa học để nghiên cứu các vấn đề của các ngành khoa học sinh
học, y học và dược học. Hóa dược bao gồm việc khám phá, phát minh, thiết
kế, xác định và tổng hợp các chất có tác dụng hoạt tính sinh học, nghiên cứu
sự chuyển hóa, giải thích cơ chế tác động của chúng ở mức độ phân tử, xây
dựng các mối quan hệ giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng
dược lý (gọi là SAR) và mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc và tác dụng
sinh học hay tác dụng dược lý (gọi là QSAR).
Vai trò của hoá dược là nghiên cứu cấu trúc phân tử của hợp chất và cải
thiện tính chất chữa bệnh của hợp chất đó. Đây là sự giao thoa của hoá học
thuốc. Theo số liệu của ngành dược và Bộ Y tế thì các công ty dược Việt
Nam chủ yếu thực hiện bào chế gia công, còn hầu như các nguyên liệu hoá
dược đều phải nhập khẩu từ 80-85%. Đội ngũ nghiên cứu hoá dược ngày
càng mai một và bây giờ mới bắt đầu đào tạo lại.Đây thực sự là những thử
thách lớn đối với ngành hoá dược Việt nam cả về nguồn nhân lực cũng như
hướng nghiên cứu và phát triển, quy hoạch nguồn nguyên liệu, cơ sở vật chất
kỹ thuật nhằm phục vụ cho ngành khoa học trọng điểm này.
Trong khi đó, ngành hoá dược trên thế giới đã có lịch sử phát triển lâu dài,đạt
được những bước tiến dài và nhiều thành tựu to lớn.Trong những năm gần
đây,ngành công nghệ hóa dược đã trở thành ngành khoa học trọng điểm ở
nhiều quốc gia như Mỹ,Anh,Nhật Bản và nhiều nước ở châu Âu khác,đóng
góp to lớn vào nền kinh tế quốc dân và quan trọng hơn cả là ngày một nâng
cao việc chăm sóc sức khỏe đời sông con người.
-Định hướng phát triển:
Theo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hoá dược nước ta, giai đoạn
từ nay đến năm 2015 sẽ tập trung đầu tư những dự án điều tra tổng thể nguồn
nguyên liệu tự nhiên; nhà máy sản xuất hoá dược vô cơ và tá dược thông
thường; nhà máy chiết xuất hoá dược có nguồn gốc thiên nhiên và bán tổng
hợp; nhà máy liên doanh tá dược cao cấp; nhà máy sản xuất thuốc kháng sinh
(giai đoạn 1); nhà máy sản xuất sorbitol…
Giai đoạn 2016-2025 sẽ tập trung vào các loại thuốc kháng sinh; vitamin;
thuốc hạ nhiệt giảm đau; thuốc tim mạch, tiểu đường, chống lao, chống sốt
rét, mất trí nhớ, điều chỉnh thể trọng; thuốc phòng dịch… Tập trung vào các
dự án đầu tư như mở rộng công suất nhà máy sản xuất sorbitol lên 20.000
tấn/năm; xây dựng nhà máy sản xuất kháng sinh giai đoạn 2; đầu tư xây dựng
nhà máy sản xuất một số thuốc giảm sốt, giảm đau chống viêm thông dụng
Website:
Email :
nước, hơi tan trong cloroform, tan trong ether, tan trong ethanol 96%, tạo
thành hợp chất tan trong nước và hydroxyd , carbonat kiềm và amoniac.
-Điểm nóng chảy: 175-179c
-pH: 5,0-6,0 (bão hòa dung dịch)
-Nhập P: 1,47 (thực nghiệm xác định giá trị) 1,36 (tính toán giá trị)
-ion hóa liên tục pK a: 7.4
-Điểm sôi: 138-140 (12 torr) 138-140 (12 Torr)
-Mật độ : 1.352 g/cm3 1,352 g/cm3
2.1.3.Tính chất hóa học:
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Phenobarbital tan trong NaOH và các dung dịch kiềm khác tạo muối tan
2.1.4.Tác dụng dược lý:[2]
Dược lý và cơ chế tác dụng: Phenobarbital là thuốc chống co giật thuộc
nhóm các barbiturat. Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng
cường và/ hoặc bắt chước tác dụng ức chế synap của acid gama aminobutyric
(GABA) ở não; điều này cho thấy chúng có những điểm tương đồng với các
benzodiazepin. Tuy nhiên, các barbiturat khác với các benzodiazepin ở tính
chọn lọc kém hơn; với các barbiturat, ngoài tác dụng ức chế chọn lọc lên
synap, chỉ cần tăng liều nhẹ cũng gây ức chế không chọn lọc. Phenobarbital
và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ở não trong lúc gây mê, có
lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của neuron. Các tác dụng này là
cơ sở của việc sử dụng các barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi não bị
thiếu máu cục bộ và khi tổn thương sọ não.
Các barbiturat ức chế có hồi phục hoạt động của tất cả các mô. Tuy vậy,
với cùng một nồng độ trong huyết tương hay với các liều tương đương, không
phải tất cả các mô đều bị ảnh hưởng như nhau. Hệ thần kinh trung ương nhạy
suy thận thì dài hơn rất nhiều. Phải sau 15 - 21 ngày mới đạt trạng thái cân
bằng động của thuốc. Thuốc đặt hậu môn hầu như được hấp thu hoàn toàn ở
ruột già.
Nếu tiêm tĩnh mạch, tác dụng của thuốc xuất hiện trong vòng 5 phút và đạt
mức tối đa trong vòng 30 phút. Tiêm bắp thịt, tác dụng xuất hiện chậm hơn
một chút. Dùng theo đường tiêm, phenobarbital có tác dụng kéo dài từ 4 đến
6 giờ.
Phenobarbital được hydroxyl hóa và liên hợp hóa ở gan. Thuốc đào thải chủ
yếu theo nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (70%)
và dạng thuốc nguyên vẹn (30%); một phần nhỏ vào mật và đào thải theo
phân. Phenobarbital là chất cảm ứng cytochrom P
450
mạnh nên có ảnh hưởng
đến chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa ở gan thông qua cytochrom
P
450
.
Tác dụng: Chống co giật và an thần, gây ngủ.
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén 15 mg, 50 mg, 100 mg; dung dịch tiêm 200 mg/1 ml; dung
dịch uống 15 mg/5 ml; viên đạn.
Chỉ định
Ðộng kinh (trừ động kinh cơn nhỏ): Ðộng kinh cơn lớn, động kinh giật
cơ, động kinh cục bộ.
Phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ.
Vàng da sơ sinh, và người bệnh mắc chứng tăng bilirubin huyết không
liên hợp bẩm sinh, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh ứ mật
mạn tính trong gan.
Chống chỉ định
Người bệnh quá mẫn với phenobarbital.
mg/ngày) trong tháng cuối cùng của thai kỳ và cho trẻ sơ sinh (tiêm 1 -
4 mg/ngày trong 1 tuần). Ở trẻ sơ sinh có mẹ đã dùng barbiturat trong
suốt ba tháng cuối thai kỳ có thể có triệu chứng cai thuốc. Cần theo dõi
chặt chẽ các dấu hiệu suy hô hấp ở trẻ sơ sinh mà mẹ dùng
phenobarbital lúc chuyển dạ và nếu cần thì phải điều trị ngay ngộ độc
thuốc phenobacbital quá liều. Trẻ đẻ thiếu tháng rất nhạy cảm với tác
dụng ức chế của phenobarbital, nên phải rất thận trọng khi dùng thuốc
trong trường hợp dự báo đẻ non.
-Thời kỳ cho con bú
Phenobarbital được bài tiết vào sữa mẹ. Do sự đào thải thuốc ở trẻ bú
mẹ chậm hơn, nên thuốc có thể tích tụ đến mức nồng độ thuốc trong
máu trẻ có thể cao hơn ở người mẹ và gây an thần cho trẻ. Phải thật
thận trọng khi bắt buộc phải dùng phenobarbital cho người cho con bú.
Phải dặn các bà mẹ cho con bú mà uống phenobarbital, nhất là với liều
cao, chú ý theo dõi con mình xem có bị tác dụng ức chế của thuốc hay
không. Cũng nên theo dõi nồng độ phenobarbital ở trẻ để tránh mức
gây độc.
Tác dụng không mong muốn (ADR)
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Thường gặp, ADR >1/100
Toàn thân: Buồn ngủ.
Máu: Có hồng cầu khổng lồ trong máu ngoại vi.
Thần kinh: Rung giật nhãn cầu, mất điều hòa động tác, lo hãi, bị kích
thích, lú lẫn (ở người bệnh cao tuổi).
Da: Nổi mẩn do dị ứng (hay gặp ở người bệnh trẻ tuổi).
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
khuyến cáo. Tiêm tĩnh mạch được dành cho điều trị cấp cứu các trạng
thái co giật cấp, tuy vậy tác dụng của thuốc cũng bị hạn chế trong các
trường hợp này (thuốc được lựa chọn trong trạng thái động kinh là
diazepam hoặc lorazepam). Khi tiêm tĩnh mạch, người bệnh phải nằm
bệnh viện và được theo dõi chặt chẽ. Thuốc phải tiêm chậm vào tĩnh
mạch, tốc độ không quá 60 mg/phút.
Ðể tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, 120 mg bột natri phenobarbital
khan được hòa tan trong 1 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn. Ðể tiêm tĩnh
mạch, 120 mg bột natri phenobarbital khan cần được hòa tan trong 3
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
ml nước cất pha tiêm vô khuẩn.
Nếu đã dùng dài ngày, phải giảm liều phenobarbital dần dần để tránh
các triệu chứng cai thuốc khi người bệnh đã nghiện. Khi chuyển sang
dùng thuốc chống co giật khác, phải giảm liều phenobarbital dần dần
trong khoảng 1 tuần, đồng thời bắt đầu dùng thuốc thay thế với liều
thấp.
Liều lượng
Liều lượng tùy thuộc từng người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết
tương 10 microgam/ml gây an thần và nồng độ 40 microgam/ml gây
ngủ ở đa số người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết tương lớn hơn
50 microgam/ml có thể gây hôn mê và nồng độ vượt quá 80
microgam/ml có khả năng gây tử vong. Tổng liều dùng hàng ngày
không được vượt quá 600 mg.
Ðường uống (tính theo phenobarbital base):
Liều thông thường người lớn:
Chống co giật: 60 - 250 mg mỗi ngày, uống 1 lần hoặc chia thành liều