MỤC LỤC
Trang
Mở đầu………………………………………………………… 3
Phần I: Tổng quan 4
1.1.Ngành kỹ thuật hóa học……………………………………4
1.2.Chuyên ngành hóa dược và hóa chất bảo vệ thực vật…….5
Phần II: Thiết kế quy trình tổng hợp Phenobarbital……………7
2.1. Tổng quan về phenobarbital………………………………7
2.1.1.Tên……………………………………………………….7
2.1.2.Tính chất vật lý………………………………………….8
2.1.3.Tính chất hóa học……………………………………….8
2.1.4.Tác dụng dược lý……………………………………… 8
2.1.5.Tiêu chuẩn dược điển………………………………… 17
2.1.6.Ứng dụng……………………………………………….19
2.2. Những phương pháp tổng hợp Phenobarbital………… 20
2.2.1. Phương pháp 1……………………………………… 20
2.2.2. Phương pháp 2……………………………………… 20
2.2.3. Phương pháp 3……………………………………… 20
2.2.4. Phương pháp 4……………………………………… 21
2.2.5. Phương pháp 5……………………………………… 22
2.2.6. Phương pháp 6……………………………………… 22
2.2.7. Phương pháp 7……………………………………… 23
2.2.8. Phương pháp 8……………………………………… 24
2.3. Quy trình công nghệ lựa chọn…………………………….25
2.3.1. Cơ sở lý thuyết lựa chọn………………………………25
2.3.2. Đề xuất quy trình phản ứng………………………… 27
2.3.2.1.Phương trình phản ứng…………………………… 27
2.3.2.2. Mô tả quy trình phản ứng…………………………27
2.3.2.3. Sơ đồ khối quy trình……………………………….28
1
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
chống co giật đầu tiên và lâu đời nhất còn được sử dụng đến ngày nay.
Phần I . TỔNG QUAN :
3
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
1.1. NGÀNH KỸ THUẬT HÓA HỌC : [1][6]
Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất và phương pháp biến đổi chất.
Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên tử, phân tử, và các phản
ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó.
Sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để liệt kê tất cả các sản phẩm chịu ảnh
hưởng bởi các kỹ sư hóa học, nhưng biết về những ngành công nghiệp sử
dụng các kỹ sư hóa học có thể giúp bạn hiểu được phạm vi công việc của họ.
Người kĩ sư công nghệ hoá có thể làm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau
như: nghiên cứu cơ bản và ứng dụng các quá trình hoá học, phát triển sản
phẩm, thiết kế, mô phỏng, hiệu chỉnh các quy trình công nghệ và thiết bị,
thiết kế, mô phỏng, điều hành hoạt động của các nhà máy; công tác ở các cơ
quan chính phủ, nghiên cứu và giảng dạy tại các trường Đại học, các viện
nghiên cứu hoặc có thể tham gia vào các lĩnh vực thương mại như: kinh
doanh, quản lý, marketing, cố vấn, bán hàng…
Trong những ngành công nghiệp,kỹ sư hóa chất dựa vào kiến thức về toán
học và khoa học, đặc biệt là hóa học, để vượt qua vấn đề kỹ thuật an toàn và
kinh tế. Và, tất nhiên, họ biêủ diễn và áp dụng các kiến thức để giải quyết bất
kỳ những thách thức kỹ thuật mà họ gặp phải. Đừng mắc phải sai lầm khi
nghĩ rằng kỹ sư hóa học làm mọi việc, mặc dù chuyên môn của họ cũng được
áp dụng trong lĩnh vực pháp luật,giáo dục, xuất bản, tài chính, và y học, cũng
như nhiều lĩnh vực khác có yêu cầu đào tạo kỹ thuật.
Ví dụ: các kỹ sư hóa học cải thiện kỹ thuật chế biến thực phẩm, và
1.2. CHUYÊN NGÀNH HÓA DƯỢC & HÓA CHẤT BẢO VỆ
THỰC VẬT:[2]
Hóa dược theo định nghĩa của IUPAC là một ngành khoa học dựa trên nền
tảng hóa học để nghiên cứu các vấn đề của các ngành khoa học sinh học, y
học và dược học. Hóa dược bao gồm việc khám phá, phát minh, thiết kế, xác
định và tổng hợp các chất có tác dụng hoạt tính sinh học, nghiên cứu sự
chuyển hóa, giải thích cơ chế tác động của chúng ở mức độ phân tử, xây
dựng các mối quan hệ giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng dược
lý (gọi là SAR) và mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc và tác dụng sinh học
hay tác dụng dược lý (gọi là QSAR).
Vai trò của hoá dược là nghiên cứu cấu trúc phân tử của hợp chất và cải
thiện tính chất chữa bệnh của hợp chất đó. Đây là sự giao thoa của hoá học
(khoa học về vật chất) và dược học (khoa học về hoạt tính của thuốc), liên kết
chặt chẽ giữa tính chất dược lý và cấu trúc hóa học. Hầu hết các loại thuốc
hữu cơ đều được cô lập từ thiên nhiên, một trong những nhiệm vụ quan trọng
5
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
cơ bản của lĩnh vực hóa dược là làm thay đổi cấu trúc hoá học của hợp chất
theo hướng mong muốn, có thể bằng tổng hợp hữu cơ. Các nghiên cứu về
hóa dược bắt đầu ngay sau khi quá trình tổng hợp hữu cơ được hoàn tất :
nghĩa là tiến hành xong phần tổng hợp các phân tử mong muốn, trong khi
nhiệm vụ của hóa dược là khảo sát “các” hoạt tính của các phân tử này. Khi
nói đến việc khảo sát các phân tử thuốc thì người ta luôn luôn dùng ở số
nhiều, luôn luôn là “các hoạt tính” chứ không bao giờ dừng lại ở số ít “một
hoạt tính” nào đó do hóa dược có tính đa ngành rất lớn. Bốn yếu tố quan
trọng trong ngành hóa dược là dược lực học, dược động học (PK-ADME),
độc tính và tính chất lý-hoá học.
Hoá dược với đặc điểm liên ngành của nó đã làm cầu nối kết hợp hóa hữu
cơ, hoá phân tích, hóa học phức chất, vật lý với sinh lý học và y học. Là
hợp; nhà máy liên doanh tá dược cao cấp; nhà máy sản xuất thuốc kháng sinh
(giai đoạn 1); nhà máy sản xuất sorbitol…
Giai đoạn 2016-2025 sẽ tập trung vào các loại thuốc kháng sinh; vitamin;
thuốc hạ nhiệt giảm đau; thuốc tim mạch, tiểu đường, chống lao, chống sốt
rét, mất trí nhớ, điều chỉnh thể trọng; thuốc phòng dịch… Tập trung vào các
dự án đầu tư như mở rộng công suất nhà máy sản xuất sorbitol lên 20.000
tấn/năm; xây dựng nhà máy sản xuất kháng sinh giai đoạn 2; đầu tư xây dựng
nhà máy sản xuất một số thuốc giảm sốt, giảm đau chống viêm thông dụng
như paracetamol, aspirin…; nhà máy sản xuất vitamin C công suất 1.000
tấn/năm.
Phần II. THIẾT KẾ QUY TRÌNH TỔNG HỢP
PHENOBARBITAL :
2.1 .Tổng quan về phenobarbital
2.1.1. Tên:
-Tên chung: phenobarbital
-Tên riêng: Luminal
Eskabarb
Solfoton
Talpheno
-Tên khoa học: 5-etyl-5-phenylpyrimidine-2, 4,6 (1 H, 3 H, 5 H)-trione
hay:
5-Ethyl-5-phenyl-2, 4,6 (1 H ,3 H ,5 H )-pyrimidinetrione (1 H, 3 H, 5
H)-pyrimidinetrione
-Công thức:
Công thức phân tử: C
12
H
12
N
2
HN
O
O
O
C
2
H
5
Na
+
H
2
O
2.1.4.Tác dụng dược lý:[2]
Dược lý và cơ chế tác dụng: Phenobarbital là thuốc chống co giật thuộc
nhóm các barbiturat. Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng
cường và/ hoặc bắt chước tác dụng ức chế synap của acid gama aminobutyric
(GABA) ở não; điều này cho thấy chúng có những điểm tương đồng với các
benzodiazepin. Tuy nhiên, các barbiturat khác với các benzodiazepin ở tính
chọn lọc kém hơn; với các barbiturat, ngoài tác dụng ức chế chọn lọc lên
synap, chỉ cần tăng liều nhẹ cũng gây ức chế không chọn lọc. Phenobarbital
và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ở não trong lúc gây mê, có
lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của neuron. Các tác dụng này là
cơ sở của việc sử dụng các barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi não bị
thiếu máu cục bộ và khi tổn thương sọ não.
Các barbiturat ức chế có hồi phục hoạt động của tất cả các mô. Tuy vậy,
với cùng một nồng độ trong huyết tương hay với các liều tương đương,
không phải tất cả các mô đều bị ảnh hưởng như nhau. Hệ thần kinh trung
8
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
mức tối đa trong vòng 30 phút. Tiêm bắp thịt, tác dụng xuất hiện chậm hơn
một chút. Dùng theo đường tiêm, phenobarbital có tác dụng kéo dài từ 4 đến
9
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
6 giờ.
Phenobarbital được hydroxyl hóa và liên hợp hóa ở gan. Thuốc đào thải chủ
yếu theo nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (70%)
và dạng thuốc nguyên vẹn (30%); một phần nhỏ vào mật và đào thải theo
phân. Phenobarbital là chất cảm ứng cytochrom P
450
mạnh nên có ảnh hưởng
đến chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa ở gan thông qua cytochrom
P
450
.
Tác dụng: Chống co giật và an thần, gây ngủ.
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén 15 mg, 50 mg, 100 mg; dung dịch tiêm 200 mg/1 ml; dung
dịch uống 15 mg/5 ml; viên đạn.
Chỉ định
Ðộng kinh (trừ động kinh cơn nhỏ): Ðộng kinh cơn lớn, động kinh giật
cơ, động kinh cục bộ.
Phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ.
Vàng da sơ sinh, và người bệnh mắc chứng tăng bilirubin huyết không
liên hợp bẩm sinh, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh ứ mật
mạn tính trong gan.
Chống chỉ định
Người bệnh quá mẫn với phenobarbital.
Người bệnh suy hô hấp nặng, có khó thở hoặc tắc nghẽn.
Người bệnh rối loạn chuyển hóa porphyrin.
thuốc phenobacbital quá liều. Trẻ đẻ thiếu tháng rất nhạy cảm với tác
dụng ức chế của phenobarbital, nên phải rất thận trọng khi dùng thuốc
trong trường hợp dự báo đẻ non.
-Thời kỳ cho con bú
Phenobarbital được bài tiết vào sữa mẹ. Do sự đào thải thuốc ở trẻ bú
mẹ chậm hơn, nên thuốc có thể tích tụ đến mức nồng độ thuốc trong
máu trẻ có thể cao hơn ở người mẹ và gây an thần cho trẻ. Phải thật
thận trọng khi bắt buộc phải dùng phenobarbital cho người cho con bú.
Phải dặn các bà mẹ cho con bú mà uống phenobarbital, nhất là với liều
cao, chú ý theo dõi con mình xem có bị tác dụng ức chế của thuốc hay
không. Cũng nên theo dõi nồng độ phenobarbital ở trẻ để tránh mức
gây độc.
Tác dụng không mong muốn (ADR)
Thường gặp, ADR >1/100
Toàn thân: Buồn ngủ.
Máu: Có hồng cầu khổng lồ trong máu ngoại vi.
Thần kinh: Rung giật nhãn cầu, mất điều hòa động tác, lo hãi, bị kích
thích, lú lẫn (ở người bệnh cao tuổi).
11
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
Da: Nổi mẩn do dị ứng (hay gặp ở người bệnh trẻ tuổi).
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
Cơ - xương: Còi xương, nhuyễn xương, loạn dưỡng đau cơ (gặp ở trẻ
em khoảng 1 năm sau khi điều trị), đau khớp.
Chuyển hóa: Rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Da: Hội chứng Lyell (có thể tử vong).
Hiếm gặp, ADR <1/1000
Máu: Thiếu máu hồng cầu khổng lồ do thiếu hụt acid folic.
Hướng dẫn cách xử trí ADR
Phải giảm liều phenobarbital ở người bệnh cao tuổi, người bệnh có tiền
12
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
tĩnh mạch, 120 mg bột natri phenobarbital khan cần được hòa tan trong
3 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn.
Nếu đã dùng dài ngày, phải giảm liều phenobarbital dần dần để tránh
các triệu chứng cai thuốc khi người bệnh đã nghiện. Khi chuyển sang
dùng thuốc chống co giật khác, phải giảm liều phenobarbital dần dần
trong khoảng 1 tuần, đồng thời bắt đầu dùng thuốc thay thế với liều
thấp.
Liều lượng
Liều lượng tùy thuộc từng người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết
tương 10 microgam/ml gây an thần và nồng độ 40 microgam/ml gây
ngủ ở đa số người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết tương lớn hơn
50 microgam/ml có thể gây hôn mê và nồng độ vượt quá 80
microgam/ml có khả năng gây tử vong. Tổng liều dùng hàng ngày
không được vượt quá 600 mg.
Ðường uống (tính theo phenobarbital base):
Liều thông thường người lớn:
Chống co giật: 60 - 250 mg mỗi ngày, uống 1 lần hoặc chia thành liều
nhỏ.
An thần: Ban ngày 30 - 120 mg, chia làm 2 hoặc 3 lần mỗi ngày.
Gây ngủ: 100 - 320 mg, uống lúc đi ngủ. Không được dùng quá 2 tuần
điều trị mất ngủ.
Chống tăng bilirubin huyết: 30 - 60 mg, 3 lần mỗi ngày.
Liều thông thường trẻ em:
Chống co giật: 1 - 6 mg/kg/ngày, uống 1 lần hoặc chia nhỏ liều.
An thần: Ban ngày 2 mg/kg, 3 lần mỗi ngày.
Trước khi phẫu thuật: 1 - 3 mg/kg.
Chống tăng bilirubin - huyết: Sơ sinh: 5 - 10 mg/kg/ngày, trong vài
ngày đầu khi mới sinh.
huyết tương. Cần xem xét chọn lựa một thuốc chống tăng huyết áp
khác hay một thuốc chống động kinh khác.
-Phenobarbital có thể làm mất tác dụng của thuốc tránh thai theo
đường uống, khi được dùng đồng thời, do làm tăng chuyển hóa ở gan.
Cần áp dụng biện pháp tránh thai khác; nên chọn biện pháp cơ học.
-Phenobarbital và doxycyclin dùng đồng thời: Nửa đời của
doxycyclin ngắn lại, khiến nồng độ doxycyclin trong huyết tương
giảm. Cần tăng liều doxycyclin hoặc chia uống ngày hai lần.
- Phenobarbital và corticoid dùng toàn thân: Phenobarbital làm giảm
tác dụng của các corticoid. Cần chú ý điều này, đặc biệt ở người mắc
bệnh Addison và người bệnh được ghép tạng.
-Phenobarbital và ciclosporin: Nồng độ trong huyết tương và tác
dụng của ciclosporin bị giảm khi có mặt phenobarbital. Cần tăng liều
ciclosporin trong khi điều trị bằng phenobarbital và cần giảm liều
14
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
ciclosporin khi thôi dùng phenobarbital.
-Phenobarbital và hydroquinidin và quinidin: Nồng độ trong huyết
tương và tác dụng chống loạn nhịp của quinidin bị giảm. Cần theo dõi
lâm sàng, điện tim, nồng độ quinidin trong máu. Cần điều chỉnh liều
quinidin.
Phenobarbital và levothyroxin: Người bệnh có tiền sử giảm chức năng
giáp có nguy cơ bị suy giáp. Phải kiểm tra nồng độ T
3
và T
4
. Phải chỉnh
liều levothyroxin trong và sau trị liệu bằng phenobarbital.
-Phenobarbital và acid folic: Nồng độ phenobarbital trong huyết
tương giảm có thể làm giảm tác dụng của acid folic. Phải điều chỉnh
thuốc giải lo : làm tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương.
-Phenobarbital và phenytoin: Nồng độ trong huyết tương của
phenytoin thay đổi bất thường. Các triệu chứng ngộ độc phenytoin có
thể xảy ra khi ngừng dùng phenobarbital. Khi đồng thời dùng
phenytoin thì nồng độ phenobarbital trong máu có thể tăng lên đến
mức ngộ độc.
-Phenobarbital và các thuốc chẹn beta (alprenolol, metoprolol,
propranolol): Nồng độ trong huyết tương và tác dụng lâm sàng của các
thuốc chẹn beta bị giảm.
-Phenobarbital và methotrexat: Ðộc tính về huyết học của
methotrexat tăng do dihydrofolat reductase bị ức chế mạnh hơn.
-Phenobarbital và rượu: Rượu làm tăng tác dụng an thần của
phenobarbital và có thể gây hậu quả nguy hiểm. Phải tránh dùng rượu
khi sử dụng thuốc.
Ðộ ổn định và bảo quản
Dung dịch natri phenobarbital trong nước nói chung không bền vững.
Thuốc trong polyethylen glycol hoặc propylen glycol thì bền vững
hơn.
Không được dùng dung dịch để tiêm nếu có tủa.
Tránh để các ống thuốc tiêm tĩnh mạch ra ánh sáng.
Tương kỵ
Các dung dịch natri phenobarbital không được dùng lẫn với các dung
dịch acid vì có thể làm tủa phenobarbital.
Các dung dịch phenobarbital để tiêm không phù hợp về mặt vật lý
và/hay hóa học với nhiều thuốc khác.
Quá liều và xử trí
Liều gây độc của các barbiturat rất dao động. Nói chung, phản ứng
nặng xảy ra khi lượng thuốc uống vào nhiều hơn liều thường dùng gây
ngủ 10 lần. Tử vong thường xảy ra khi nồng độ phenobarbital trong
máu cao hơn 80 microgam /ml.
Phenobarbital là acid 5- ethyl - 5 - phenylbarbituric, phải chứa từ 99,0 đến
101,0% C12H12N2O3, tính theo chế phẩm đã làm khô.
Định tính
Có thể chọn một trong hai nhóm định tính sau:
Nhóm I: A và B.
Nhóm II: B,C và D.
17
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
A. Xác định điểm chảy (Phụ lục 5.19) của chế phẩm và của hỗn hợp đồng
lượng chế phẩm với phenobarbital chuẩn. Điểm chảy của chế phẩm và của
hỗn hợp phải ở khoảng 176oC. Sự khác biệt về điểm chảy của 2 mẫu trên
không được quá 2oC.
B. Phổ hồng ngoại (Phụ lục 3.2) của chế phẩm phải phù hợp với phổ
hồngngoại của phenobarbital chuẩn.
C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 4.4).
Bản mỏng: Silicagel GF254.
Dung môi khai triển: là lớp dưới của hỗn hợp gồm Amoniac đậm đặc -
ethanol 96% - cloroform (5: 15: 80).
Dung dịch thử: Hoà tan 0,1 g chế phẩm trong ethanol 96% (TT) để được
100 ml.
Dung dịch đối chiếu: Hoà tan 0,1 g phenobarbital chuẩn trong ethanol96%
(TT) để được 100 ml.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 àl mỗi dung dịch trên.
Triển khai sắc ký tới khi dung môi đi được khoảng 18 cm. Quan sát ngay bản
mỏng dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 254 nm. Vết chính của sắc ký đồ
thu được từ dung dịch thử phải giống nhau về vị trí và kích thước với vết
chính của sắc ký đồ thu được từ dung dịch đối chiếu.
D. Phản ứng đặc trưng của barbiturat có hydro ở nhóm NH không bị thay
thế (Phụ lục 7.1).
Độ trong và màu sắc của dung dịch
thử không được đậm màu hơn vết trên sắc ký đồ thu được từ dung dịch đối
chiếu.
Mất khối lượng do làm khô
Không được quá 1,0% (Phụ lục 5.16).
(1,000 g; 100 - 105oC; 2 giờ).
Tro sulfat
Không được quá 0,1% (Phụ lục 7.7, phương pháp 2).
Dùng 1,0 g chế phẩm.
Định lượng
Hoà tan 0,100 g chế phẩm trong 5 ml pyridin (TT), thêm 0,5 ml dung dịch
thymolphtalein (CT) và 10 ml dung dịch bạc nitrat 8,5% trong pyridin. Chuẩn
độ bằng dung dịch natri hydroxyd 0,1 N trong ethanol đến khi có màu xanh.
Song song làm mẫu trắng.
1 ml dung dịch natri hydroxyd 0,1 N trong ethanol tương đương với 11,61
mg C12H12N2O3.
Bảo quản
Trong chai lọ kín.
Chế phẩm
19
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
Cồn thuốc phenobarbital. Viên nén phenobarbital.
Tác dụng và công dụng
An thần, chống co giật.
2.1.6. Ứng Dụng:[5]
Phenobarbital chủ yếu được dùng để chống co giật, tuy vậy thuốc vẫn còn
phần nào được dùng để điều trị hội chứng cai rượu. Tác dụng chống co giật
của thuốc tương đối không chọn lọc; thuốc hạn chế cơn động kinh lan tỏa và
làm tăng ngưỡng động kinh. Thuốc chủ yếu được chỉ định trong cơn động
kinh toàn bộ (cơn lớn), và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm
giác).
Trong phương pháp thứ hai, phản ứng cũng tương tự như phương
pháp đầu tiên nhưng natrimetoxit đã được sử dụng thay vì ethoxide natri.
20
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
OEt
OEt
O
Et
Ar
O
H
2
N
H
2
N
O
N
H
NH
Et
Ar
O
O
O
NaOMe
2.2.3 phương pháp thứ ba:
Trong phương pháp thứ ba, malonate được ankyl hóa hai lần trong môi
trường cơ bản . TrongLần đầu tiên, malonate được alkyl hoá với clorua etyl,
NH
O
O
O
Ar
Et
Cl
OEt
OEt
O
Ar
Et
O
2.2.4 phương pháp thứ tư:
21
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
Trong phương pháp thứ tư, ethylphenylmalonate đã được tổng hợp như
trong phương pháp thứ ba. Tiếp đó là phản ứng của cyanoguanidine và
decarboxyl-ated, được thủy phân, kết quả tạo ra phenobarbital.
OEt
OEt
O
O
OEt
OEt
O
EtCl
Base
H
Et
phẩm ethylphenyloacetate được nung nóng ở 175° C và điều kiện này đươc
giữ cho đến khi carbon monoxide hoàn toàn hết, ta thu được
diethylphenylmalonate và được alky-lated với ethyliodide trong môi trường
của ethoxide natri. Các sản phẩm phản ứng là diethyl ethylphenylmalonate
phản ứng với urê trong môi trường của ethoxide natri. Phản ứng cyclization
đã diễn ra, ngưng tụ ta được phenobarbital.
22
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
Ar CH
2
CO
2
Et
EtO
2
C-CO
2
Et
Et
H
Ar-CH-CO-CO
2
Et
CO
2
Et
nhiêt
CO
2
Et
thành. Sau đó nó được alkyl hoá với ethyl halogen và được cô đặc với urê
hoặc cyanoguanidine. Các sản phẩm A làhydrohysed và
decarboxylated. Phenobarbital là sản phẩm cuối cùng.
23
Đồ án nhập môn kỹ thuật hóa học
.
CN
O
Ar
O
OEt
NH
NH
N
NH
Ar
Et
CN
N
H
NH
O
O
Ar
Et
OEt
O
CN
O
O
CN
OEt
O
Et
CNH
H
2
N
N
H
NH
Ar
O
O
OEt
OEt
NaNH
2
Ar
EtI
Na
Ar
O
OEt
O
NH
2
OEt
O
Et