Tìm hiểu Lễ hội truyền thống và Lễ hội hiện đại Việt Nam qua Báo chí - Pdf 20

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-------KHOA BÁO CHÍ -------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Tìm hiểu Lễ hội truyền thống và Lễ hội hiện đại Việt Nam
qua Báo chí
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thanh Trà
Giáo viên hướng dẫn: GS Hà Minh Đức
Hà Nội
Tháng 5 / 2006
LỜI MỞ ĐẦU
***
rong giai đoạn hiện nay, cùng với sự đổi thay nhiều mặt của đất nước,
Lễ hội Việt Nam với tư cách là một thành tố cấu thành của văn hoá Việt
Nam cũng đang có sự biến đổi về nội dung và hình thức. Những lễ hội truyền
thống tiếp tục được duy trì và mở rộng. Những lễ hội cổ truyền ở một số làng
quê bị quên lãng trong một thời gian dài được làm sống dậy cùng với danh
hiệu làng văn hóa được Bộ Văn Hoá Thông Tin trao tặng cho các làng này.
Bên cạnh những lễ hội truyền thống, những hình thức mới chứa đựng những
nội dung mới của hoạt động lễ hội đang diễn ra biến động và từng bước định
hình trong điều kiện mới đó là các lễ hội hiện đại - lễ hội du lịch, lễ hội văn
hoá- thể thao- các ngày kỉ niệm…đang ngày càng mở rộng với nhiều quy mô,
mức độ và nội dung phong phú đa dạng, sinh động không dễ dàng thẩm định
và kiểm soát. Những lễ hội mới mang màu sắc hiện đại được tạo dựng một
cách hoành tráng, gắn với du lịch, văn hoá của những vùng đất như: Lễ hội
hoa Đà Lạt, Lễ hội kỉ niệm 990 năm Thăng Long Hà Nội, Lễ hội Di sản Miền
Trung…Tất cả đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tìm cách khai
thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu đặt ra.
T
Thông thường ở Việt Nam những lễ hội có từ trước 1945 được gọi là lễ

Dân tộc Việt Nam có một nền văn hóa lâu đời giàu giá trị nhân bản và
đậm đà bản sắc dân tộc. Các loại hình nghệ thuật phát triển phong phú và
nhiều dáng vẻ. Nói đến văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về vật
chất và tinh thần, thể hiện trình độ sống và dân trí, những quan niệm về đạo
lý, nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn của mỗi cá nhân trong cộng
đồng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trước Cách mạng Tháng 8 đã đưa ra một định
nghĩa sâu sắc về văn hoá: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống,
con người sáng tạo ra, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, nghệ thuật văn học, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về ăn mặc ở và những phương tiện, phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo đó là văn hoá. Văn hoá là sử dụng tổng hợp mọi phương thức sinh
hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng những nhu cầu đời sống, những đòi hỏi của sự sinh tồn”
Như vậy có thể nói, văn hoá là chứng tích của trình độ văn minh. Sức
mạnh của các nền văn hoá dân tộc đang dần dần được coi như một nhân tố nội
sinh trong việc phân tích nghiên cứu các trường hợp thành công của phát
triển. Không thể nói đến sự phát triển hoàn thiện của một dân tộc khi văn hoá
non kém. Ngược lại, thước đo một nền văn hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trình độ phát triển của xã hội về khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, sự phát
triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề con người và môi
trường văn hoá, sức sáng tạo bền bỉ trong lao động và đấu tranh của nhân dân
và dân tộc đó.
Ngay từ đầu Cách mạng tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
sức mạnh của nền văn hoá dân tộc, xác định nền văn hoá mới phải phục vụ
nhân dân: “Phải làm thế nào cho văn hoá vào sâu trong tâm lý quốc dân,
nghĩa là văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng được lười biếng, phù hoa xa
4
xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do độc lập làm gốc. Văn hoá phải làm thế
nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng thời văn hoá phải
làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà

những lễ hội nghìn năm tuổi như Hội đền Hùng, Hội chùa Hương, Hội Thánh
Gióng. Các lễ hội trên gắn với những sự kiện chính trị, những giá trị tinh thần
linh thiêng trong đời sống dân tộc. Sự ổn định của đời sống dân tộc ý thức tôn
trọng những giá trị truyền thống và sự tôn kính thế giới tâm linh của nhân dân
Việt Nam là yếu tố hàng đầu tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của lễ hội.
Nhân dân hưởng ứng say mê lễ hội là cơ sở cho sự tồn tại của lễ hội.
Lễ hội của Việt Nam hôm nay là biểu hiện sinh động cho tinh thần đại
đoàn kết dân tộc, sự thống nhất, hoà bình và ổn định trong đời sống nhân dân.
Hơn thế nữa, sự phát triển của lễ hội là một minh chứa sinh động cho sức
sống của văn hóa Việt Nam trong thời đại mới.
2. Sự phát triển của Lễ hội Việt Nam
Dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử cũng sáng
tạo nên nhiều lễ hội. Nhìn về cội nguồn của lễ hội ở nước ta, tìm về cái tinh
thần cốt lõi thời sơ khai mà nhờ có nó mới có được một bức tranh về lễ hội
đặc sắc như ngày nay. Theo GS.Trần Quốc Vượng thì cần có “phương pháp
tiếp cận có hệ thống về lễ hội, đòi hỏi phải coi lễ hội là một thể thống nhất,
một toàn thể, một tổng thể hệ thống bao hàm nhiều hệ thống (hệ Lễ, hệ Hội) và
nhiều tiểu hệ, vi hệ và quan hệ tương tác nhiều chiều giữa chúng với nhau tạo
thành mạng tương quan thời gian - không gian của lễ hội”. Theo phương
pháp đó chúng ta sẽ nhận ra được tinh thần cơ bản của lễ hội Việt Nam đó
chính là lễ hội Nông nghiệp ngày xưa.
Việt Nam là một đất nước có hàng ngàn lễ hội, gắn liền với vùng thuộc
khí hậu nhiệt đới, trồng lúa nước, chế độ phong kiến kéo dài, tôn thờ nhiều
6
đạo. Nếu coi mỗi lễ hội là một màu sắc thì có thể nói trên dải đất hình chữ S
của chúng ta là cả một bức tranh rực rỡ sắc màu.
Qua nhiều thế hệ, phong tục tập quán được truyền lại ở các địa phương,
những nét văn hoá truyền thống đó bắt nguồn từ cuộc sống lao động và chiến
đấu của nhân dân đồng thời thể hiện sự phong phú đa dạng trong đời sống tôn
giáo, tín ngưỡng của người Việt.

đẹp với tinh thần tạo mới để xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn
hoá mới, con người mới Việt Nam. “Chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội với
chủ nghĩa Mác – Lênin, với đường lối của Đảng và vốn cũ của dân tộc.”
Những lễ hội truyền thống được duy trì và tạo điều kiện thuận lợi trong
việc tổ chức, đặc biệt là những lễ hội lớn như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Gióng,
lễ hội Kiếp Bạc, lễ hội chùa Hương…Những lễ hội này ngày càng thu hút
lượng người tham dự rất lớn đến từ các vùng trên cả nước, chính vì thế được
tổ chức hoành tráng rầm rộ.
Tuy nhiên bên cạnh phần bảo tồn cũng cần có sự chọn lựa và gạt bỏ
những yếu tố tiêu cực của lễ hội xưa. Trong lễ hội dân tộc xưa không thiếu
những cái hay nhưng cũng còn phần dở. Về cơ bản, những hình thức lễ hội
truyền thống nay vẫn giữ được duy trì nhưng cái khó ở đây là làm sao để thể
hiện và lưu giữ được cái tinh tuý, cái tinh thần, cái “hồn” của lễ hội xưa. Một
mặt khác là sự xuất hiện của nhiều kiểu lễ hội mới gắn với truyền thống cách
mạng, với cuộc sống mới và con người mới ở khắp mọi miền đất nước.
Nhiều hình thức lễ hội mới xuất hiện có tính chất nghi lễ kỷ niệm thời
điểm ra đời một vùng đất, liên hoan du lịch văn hoá ở những danh lam thắng
cảnh như lễ hội Fesival Huế, lễ hội du lịch 350 năm vùng đất Nha Trang, lễ
hội Du lịch Quảng Nam, 100 năm Sapa…Những lễ hội này được tổ chức mà
nội dung và tính chất của nó liên quan đến các sự kiện chính trị, quân sự, văn
hóa xã hội nổi bật trong tiến trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Địa điểm của
lễ hội hiện đại thường diễn ra ở các thành phố, trung tâm đô thị lớn, đặc biệt
8
như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các thành phố thị xã của các
tỉnh thành phố trực thuộc trung ương.
Lễ hội hiện đại huy động đến hàng ngàn diễn viên chuyên nghiệp và
không chuyên, trung ương và địa phương, có khi có cả đoàn quốc tế đến từ
các quốc gia khác. Với quy mô lớn, nghệ thuật trình diễn cao được đạo diễn
từ kịck bản nên những hoạt động tại lễ hội hầu hết rất chỉn chu và có hệ
thống.

Các lễ hội cổ truyền được khôi phục theo đúng nghi lễ và tập tục nhưng
hiện tương thương mại hoá lễ hội đang diễn ra ở hầu hết các lễ hội đang là
một vấn đề gây đau đầu với các nhà quản lý văn hoá. Bên cạnh xu hướng hoài
cổ, phục cổ là sự pha tạp, lai căng kệch cỡm, sự phồn thực giả tạo trong các
hình thức và nội dung thể hiện của lễ hội…là những tác động tiêu cực của
hoạt động văn hoá này. Hơn nữa, một điều cần tránh là sự lãng phí về tiền của
diễn ra ở các lễ hội hiện nay. Sự lãng phí xa xỉ với đầu óc mê tín dị đoan có
xu hướng phát triển. Những điều đó cần phải được loaị bỏ thông qua việc
thực hiện nghiêm túc Qui chế lễ hội của Bộ VHTT ban hành ngày
23/08/2001.
10
CHƯƠNG 2: LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
1. Dẫn luận về lễ hội truyền thống Việt Nam:
Với nền văn minh lúa nước lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyền
Việt Nam xuất phát từ đó với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo.
Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hoá. Nền văn hoá
Việt Nam là nền văn hoá nông nghiệp. Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ
hội nông nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông
nghiệp của dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hoà cho vạn vật
sinh sôi nảy nở.
Theo GS. Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm
những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi
thức hay nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “ Tồng Ngồng” của người Tày, lễ tế
Thần Nông, lễ hạ điền ( xuống đồng của người Mường), lễ hội thượng điền
của người Việt – mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt
cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hái nấm ở rừng, ở bụi
bao gồm cả những hội đền, hội phủ, hội chùa, hội đình…Tất cả chúng đều
được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không gian thôn dã với
một thời gian thôn dã ( mang tính chất chu kì). Chủ nhân của những lễ hội
này phần lớn là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống ở vùng quê

những âm thanh của hàng loạt nhạc khí, lời ca và những nhịp điệu uyển
chuyển…Nhưng yếu tố là nên sự sống động của lễ hội nhất là sự hội tụ của
hàng ngàn, hàng vạn người quy tụ về đây vui với tiền nhân. Không gian lộng
lẫy uy nghi tạo nên chất hoành tráng và thiêng liêng của lễ hội, có sự khơi dậy
cái thiện và mỹ trong tâm hồn mỗi người, thôi thúc họ vươn lên một lý tưởng
sống cao đẹp và giàu ý nghĩa hơn.
Lễ hội mang sức sống của một dân tộc được minh chứng qua thời gian
ngàn năm lịch sử, là một bảo tàng văn hoá sống lưu giữ tín ngưỡng tôn giáo,
12
sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian, nơi phản ánh một cách trung thực nhất
tâm thức của một dân tộc cần cù chịu khó, yêu lao động.
Đối với cá nhân con người, tham gia lễ hội là một cách tham gia vào
quá trình sáng tạo và sáng tạo văn hoá, là được hoà mình trong dòng nước đầu
nguồn của văn hoá dân tộc với một tinh thần cộng đồng và cộng cảm sâu sắc.
Lễ hội chia làm hai phần: Lễ và Hội
Lễ là tổng thể nghi thức thể chế hoá trật tự, gắn với sự tích, quyền năng
của thần, diễn đạt mối quan hệ của Người và Thần. Lễ cơ bản là linh thiêng.
Theo từ điển tiếng Việt 2002 Nhà xuất bản Đà Nẵng
“Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự việc,sự
kiện có ý nghĩa nào đó”
Dưới thời phong kiến, các nhà nho quan niệm Lễ là trật tự, là chữ đã
định sẵn của Trời “Lễ nghĩa thiên chi tự”, cần phải có và không thể đảo
ngược. Cuộc sống xã hội cần phải có lễ để phân biệt, giữ gìn trật tự trong mối
quan hệ đa chiều, luôn diễn ra trong đời sống xã hội. Lễ được coi là cơ sở của
một xã hội có tổ chức và đã phát triển đến một trình độ nào đó.
Nghi lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất
định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỉ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó
nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh ước nguyện về sự kiện nhân vật đó với mong
muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối
tượng mà người ta thờ cúng.

trong thời gian, không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện, nhân vật
lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hoá
của con người với tự nhiên, thần thánh và con người trong xã hội mới.
Bản chất và nội dung của lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hoá
cộng đồng bởi đây là hoạt động văn hoá tập thể thuộc về tập thể và do tập thể
tổ chức và tiến hành. Dù ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng
phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành. Chính họ là những người
sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và
14
chiến đấu. Họ là chủ nhân đồng thời là người đánh giá thẩm định và hưởng
thụ những thành quả sáng tạo văn hoá ấy. Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về
một nhóm người nào đó trong xã hội. Không có đông người đến dự không
thành hội, bởi thế mới có câu “đông như hội” chính là vậy.
Mục đích lễ hội là một hoạt động văn hoá nổi bật trong đời sống con
người với nhiều hình thức khác nhau nhằm phục vụ lợi ích của con người.
Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là một cách ứng xử thông minh
khôn ngoan cuả con người đối với sức mạnh vô hình hoặc hữu hình mà họ
không lý giải được nhưng muốn khống chế - họ phải kính và sợ. Chính vì thế
lễ hội trở thành một hiện tượng văn hoá tổng hợp, giúp giải phóng năng lượng
tâm linh, tâm lý, vật chất của con người.
Lễ hội chính vì thế có tính chất tái tạo, con người hiến dâng để cầu xin
tốt lành trong tương lai và hưởng thụ vật chất và tinh thần thoải mái trong
hiện tại.
Lễ hội là cách thức giao cảm cộng đồng, giao hoà giữa con người với
trời đất, giữa hiện tại với hồi tưởng trong quá khứ và hi vọng tương lai.
Lễ hội truyền thống xưa nhấn mạnh phần lễ, tức là phần nghi lễ vì nhu
cầu tâm linh rất lớn
Lễ hội truyền thống nay phần hội được nhấn mạnh nhiều hơn vì từ nhu
cầu tâm linh giờ đã chuyển sang giải quyết nhu cầu được vui chơi, sống lại
không khí dân dã của những trò chơi dân gian xưa, không khí tưng bừng náo

c. Lễ hội Cổ Loa
Đền Cổ Loa thờ vua An Dương Vương – người có công tô lớn trong việc
dựng nước và giữ nước. Lễ hội diễn ra từ mồng 6 tháng giêng, để tưởng nhớ
công ơn của nhà vua.
d, Lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc như:
* Lễ hội đền Đô ( Đền Lý Bát Đế )
Đền Đô được xây từ thế kỉ 11 tại Đình Bảng (Tiên Sơn – Bắc Ninh) để tưởng
nhớ Lý Công Uẩn ( Lý Thái Tổ) và các đời vua Lý tiếp theo.
16
Lễ hội có các hoạt động rước kiệu khổng lồ, đấu vật, đánh cờ, chọi gà, hát
chèo, tuồng
* Lễ hội Đống Đa:
Giỗ trận Đống Đa- kỉ niệm ngày vua Quang Trung đại phá tiêu diệt gần 20
vạn quân Thanh tại gò Đống Đa năm Kỷ Dậu 1789. Lễ hội diễn ra vào mùng
5 tết ta
* Lễ hội Trường Yên:
Diễn ra tại cố đô Hoa Lư để tưởng nhớ công đức lớn lao của Đinh Tiên
Hoàng và Lê Đại Hành. Tại đây diễn ra các nghi thức rước nước, tế lễ ở hai
đền. Đặc biệt, phần Hội có diễn trò cờ lau tập trận, bơi chải, múa rồng…
e, Lễ hội tôn vinh các vị thần:
* Hội Phù Đổng diễn ra tại xã Phù Đổng, Huyện Gia Lâm, Hà Nội từ ngày 6
đến 12 tháng tư âm lịch.
* Hội Phủ Giầy thờ thánh Mẫu văn hoá dân tộc: Bà Chúa Liễu- là một trong
tứ bất tử của điện thần Việt Nam
* Hội đền Dạ Trạch thờ Chử ĐồngTử và Tiên Dung có công giúp dân khai
hoang, trồng trọt và chữa bệnh…
f, Lễ hội các làng nghề
* Hội làng Đồng Kỵ: Làng thuộc xã Đồng Quang, Tiên Sơn, Bắc Ninh có
nghề mộc làm đổ khảm trai trên các tủ chè, sập gụ, bàn ghế xuất khẩu. Trong
lễ hội có tục rước và đốt pháo…

nghiêng hoa nở trắng rừng…
Xuân Việt Nam là xuân làm ăn, xuân đánh giặc, xuân vui chơi. Mùa
Xuân của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…Những mắt xích chủ
yếu của một truyền thống về tài thao lược lâu đời của dân tộc- được thế hệ Hồ
Chí Minh kế thừa và phát triển lên một trình độ mới.
18
Lễ hội mùa xuân là một nhân tố cổ truyền của nền văn hoá Việt Nam.
Hàng ngàn năm nay, với gái trai đất Việt, Xuân đã là mùa ca hát – nam nữ đối
ca – mùa yêu đương, mùa của trao duyên… Trong Xuân ca giáo phường
(phường hát xoan) trong hội Rô 36 năm mới mở hội một lần tại Khánh xuân
điện, thờ thánh Tản Viên, vị thần linh tối cổ được coi là “Bách thần nguyên
thủ” trong Vạn thần miếu Việt Nam tại xã Liệp Tuyết, Liệp Mai, miền Quốc
Oai, xứ Đoài xưa có đoạn ngâm ngợi mùa xuân:
… “Tháng giêng giai tiết ở đầu
Bao nhiêu mỹ nữ đá cầu đánh đu
Tháng hai hoa nở tranh đua
Đậm lòng con gái ngâm ngơ tinh thần
Tháng ba nắng tốt thập phần
Nhưng màng lần nữa hết Xuân sang Hè!”
Các trò chơi mùa xuân, hoặc nhấn nhá vào ý niệm tình tứ (đánh đu,
tung còn…) hoặc xoay quanh quả bóng, quả cầu, tượng trưng cho mặt trời và
tín ngưỡng thờ mặt trời thần cổ ( đá cầu, vật cầu, hất phết…) hoặc tượng
trưng cho sự đấu tranh và hoà đồng, mâu thuẫn mà thống nhất giữa hai xung
lực Đất– Trời, Âm– Dương, Đực- Cái ( đấu vật, kéo co, hát đối đáp..) tất cả
hoà quyện vào hội mùa xuân, sau màn sương tôn giáo, tín ngưỡng, ánh bừng
nên sức sống của tuổi thanh xuân thiết tha yêu đời, vui tươi, lành mạnh, hồn
nhiên, trong sáng. Hội mùa xuân: một đỉnh cao của phong cách trữ tình dân
gian Việt Nam.
Hội mùa xuân cổ truyền dân gian đã gắn với hội đền: đền Thính thờ

quy định năm chẵn do Trung ương làm chủ lễ, năm lẻ do địa phương chủ trì.
Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo tới đời sống tinh thần cũng như gìn giữ
phát huy truyền thống dân tộc chính vì thế từ năm 2005 lễ hội đền Hùng được
tổ chức theo quy chế Quốc lễ. Lễ hội đền Hùng đã trở thành lễ hội mang tính
Quốc gia một cách chính thức, chính vì thế việc tổ chức lễ hội sẽ được nâng
lên tầm cao mới với những nghi thức trang trọng và những màn biểu diễn
hoành tráng.
Báo VietNamNet cập nhật hồi 14:59’ 28/03/2005 có bài phỏng vấn
NSND Phạm Thị Thành : Lễ vua Hùng phải có dấu ấn riêng với tít dẫn:
“Năm nay, giỗ tổ Hùng Vương lần đầu tiên tổ chức theo quy chế quốc lễ, Đạo
diễn, NSND Phạm Thị Thành được giao trọng trách làm Tổng đạo diễn
chương trình này. Vậy quy mô, tầm vóc của lễ hội đền Hùng có gì khác với
những năm trước đây?
Trả lời câu hỏi của phóng viên về quy mô tổ chức lễ hội đền Hùng,
NSND Phạm thị Thành cho biết: “ Lễ hội lần này phải thể hiện được nội dung
trải dài 4000 năm lịch sử đồng thời cũng phải mang tính huyền thoại, tâm linh
và mang tính thời sự cập nhập đương đại... Tôi muốn lễ hội đền Hùng phải
mang một dấu ấn riêng đó là làm thế nào để khách trong nước cũng như quốc
tế biết được đây là một lễ hội của Việt Nam. Đồng thời lễ hội đền Hùng phải
mang đậm tính lịch sử và huyền thoại, vừa mang tính văn hóa Việt Nam.”
21
(Đoàn hành lễ dâng hương lên đền Thượng)
Những lễ hội truyền thống đã mang phần nào đó màu sắc của lễ hội
hiện đại đó là tính hoành tráng thể hiện cả trong không gian và thời gian diễn
ra lễ hội. Trả lời phỏng vấn của Phóng viên VietNamNet bà Phạm Thị Thành
cho biết: “Lễ hội đền Hùng năm 2005 diễn ra trong 4 ngày từ 06/4 đến 10/4 sẽ
thu hút khoảng 1,5 triệu lượt người. Không gian lễ hội từ đền Hùng đến thành
phố Việt Trì. Phần lễ chủ yếu diễn ra tại các đền, chùa ở núi Nghĩa Lĩnh. Phần
hội ở những địa điểm có diện tích rộng, mang ý nghĩa lịch sử từ cổ xưa tới
thời kỳ cách mạng với sự tham gia của 2.500 cho đến 3000 người cả chuyên

Lễ hội luôn là sự kiện thu hút được sự quan tâm đông đảo của mọi tầng
lớp nhân dân. Chính bởi vì, lễ hội không của riêng ai, ai cũng muốn được
tham dự, được hoà vào hứng khởi non sông nên những thông tin về lễ hội
được xem là điểm nhấn số một của tin tức xung quanh thời gian diễn ra lễ hội.
Bài đinh và ảnh đinh luôn có một vị trí đặc biệt trên trang nhất các báo, nó thu
hút mắt nhìn của công chúng và luôn dành để đăng tải những sự kiện quan
trọng có ý nghĩa của đất nước, những sự kiện chính trị xã hội văn hoá nổi bật.
Bài đinh và ảnh đinh của các số báo đều dành chỗ để đăng tải về lễ hội
lớn. Các hoạt động trong lễ hội được thông tin đầy đủ cho công chúng tham
khảo và từ đó có sự đánh giá một cách tổng quan về sự kiện. Việc sử dụng bài
đinh và ảnh đinh thông tin về lễ hội thể hiện được tầm quan trọng của lễ hội
đối với đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hoá của nhân dân.
23
Báo Lao Động số 45/2005 ra ngày 15 tháng 2 có bài đinh, ảnh đinh
“Cảm hứng miền quê dấu Phật – Lễ hội chùa Hương 2005” của Việt Văn,
tác giả dẫn lời: “Hiếm có một lễ hội nào mà tính đại chúng, sức hấp dẫn, lan
toả không gian và thời gian như lễ hội chùa Hương. Một lễ hội tưng bừng khai
mạc và mồng 6 tết và kéo dài hết mùa xuân”. Tiếp theo, tác giả đưa ra dự đoán
của mình: “Năm 2004 đã có trên 80 vạn khách tham quan chùa Hương còn
năm nay lượng khách hứa hẹn đông hơn khi chỉ mấy ngày Tết đã có hơn 2 vạn
người hành hương về đất Phật…” Chiều sâu của bài viết nằm ở phần tác giả
khai thác gốc tích hình thành lễ hội chùa Hương có từ bao giờ…Điều đó có
thể chỉ là phần thêm vào nhưng lại chính là nơi mà công chúng có thể có được
một cái nhìn đúng và sâu về lễ hội và nét đặc sắc của nó và có được niềm
thích thú khi tham dự lễ hội.
Báo Tiền Phong số (24 +25) / năm 2006 có bài đinh “Khai hội đầu
xuân” và ảnh đinh là ảnh chụp chùa Hương với dòng chú thích ảnh “Năm nay
du khách có thể đi thuyền và ngồi cáp treo để vào chùa Hương” Phần đầu tác
giả viết: “ Giới trẻ chen chân về đất Phật” xu hướng giới trẻ đi du xuân khác
mọi năm không phải là những địa điểm mang tính chất hiện đại nữa. Điều này

xong mảnh ruộng khoán, các liền chị cố thu xếp công việc chợ búa để kịp mặc
áo the khăn xếp, nón thúng, quai thao bước vào canh hát giao duyên. Khách
thập phương đã lẻ tẻ tìm về để nghe quan họ làng “hát mộc” trước khi lên đồi
Lim trẩy hội…”
Tiếp theo, tác giả đã miêu tả không khí hứng khởi rộn rịp của dân miền
quan họ: “Trong khắp 49 làng quan họ thì vùng Lim gồm 3 xã Nội Duệ, Liên
Bão, Vân Tương nổi tiếng hơn cả. Bắt đầu từ hôm nay 11 tháng Giêng, dân xã
Nội Duệ đã làm lễ rước thần hoàng theo lộ trình Đình Cả- chùa Nghè. Cờ
phướn lộng lẫy, nghi trượng trang nghiêm; kèn, trống hoà âm tưng bừng như
một dòng sông hoa chảy qua làng.
25

Trích đoạn Lễ hội hiện đại ngày càng phong phú và đa dạng: Các lễ hội hiện đại giống nhau đến mức nhàm chán: Lễ hội tràn lan, tốn kém: Lễ hội hiện đại không thực hiện tốt chức năng giao tiếp: CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status