MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong thời đại ngày nay khi kinh tế ngày càng phát triển và
các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hoá
dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý nó là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ lịch sử của mỗi dân tộc, nó làm nên sức sống
mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt biết bao sóng gió
và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không
ngừng phát triển và lớn mạnh.
Vai trò văn hoá đã được Đại Hội VIII khẳng định “ văn hoá là
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế –xã hội”kết tinh những giá trị tinh thần cốt
lõi và đặc sắc có tính bền vững và trường tồn trong lịch sử của dân
tộc. Văn hoá nghệ thuật là hệ cốt lõi của nền văn hoá trong sự phát
triển nối tiếp của nhiều thế hệ giá trị bản sắc văn hoá nghệ thuật luôn
được trao truyền phát triển, làm cơ sở cho sự định hướng phát triển
văn hoá dân tộc.
Trong xu thế gần đây một xu thế giao lưu hội nhập - một cơ
chế đang vận hành trong lòng xã hội bản sắc văn hoá Việt Nam đang
đối diện với những khó khăn lớn, thậm chí có nguy mai một mất bản
sắc dân tộc Việt Nam . Hơn bao giờ hết nhiệm vụ giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc. Vấn đề giữ gìn giá trị truyền thống tốt đẹp được đặt
gia cấp bách cho mỗi con người Việt Nam và chung cho cả cộng
đồng.
Là một loại hình đặc thù báo chí ra đời do nhu cầu khách quan
của xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định của văn minh
nhân loại.Vai trò của báo chí giữ một vị trí quan trọng: Nó vừa là
công cụ truyền bá văn hoá vừa là một sản phẩm một thành tố văn
hoá. Nó tham gia tích cực vào việc lưu giữ và truyền bá làm giầu
thêm kho tàng văn hoá dân tộc và nhân loại. Mặc dù chỉ là một kênh
thông tin, nhưng báo chí là một phương tiện đặc biệt có hiệu quả
sinh động những biến chuyển của đời sống xã hội. Khi đặt vấn đề
nghiên cứu đề tài “ giữ gìn và phát huy văn hoá nghệ thuật” trên
báo Thanh Niên: tôi mong muốn tìm hiểu một cách tương đối cụ thể,
kỹ lưỡng, những đóng góp của báo chí đối với sự vận động phát
triển của các giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thống tốt đẹp, qua đó
khái quát xác định vai trò của vị trí báo chí trong việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hoá nghệ thuật của dân tộc. Trên cơ sở những tư
liệu cụ thể được sưu tầm trên báo chí, việc nghiên cứu báo chí cũng
sẽ hình thành những phác hoạ về xu hướng vận động của nền văn
hoá nghệ thuật dân tộc trong thời kỳ đổi mới, từ đó xác định những
bước đi phù hợp cho báo chí.
Việc nghiên cứu một số đặc điểm có hình thức thể hiện của
tác phẩm báo chí. Kết quả nghiên cứu thực tiễn để chúng tôi có sự
đánh giá chính xác về những bài học kinh nghiệm và mạnh dạn đề
xuất một số giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả của các
hoạt động báo chí giúp báo chí thực hiện tốt hơn chức năng “văn hoá
nghệ thuật” của dân tộc
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu để lý giải, làm rõ vấn đề tôi vận
dụng nhiều phương pháp khoa học.
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- LêNin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm, chính sách của Đảng và nhà
nước.
Phân tích một số nội dung cơ bản thể hiện trên báo.Từ đó tổng
hợp các kết quả để đi đến một đánh giá khái quát về vị trí vai trò của
báo chí với việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá nghệ thuật dân
tộc.
5. Kết cấu tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
ra tiểu luận gồm 3 chương cụ thể.
Ngọc Thêm ).
Trong cuốn hỏi và đáp về văn hoá Việt Nam bản sắc văn hoá
dân tộc được định nghĩa là “hệ thống những đặc tính bên trong,
những sắc thái riêng có tính nguồn gốc gắn với những đặc tính của
chủ thể, trở thành nền tảng, bản thể của một nền văn hoá, là căn cước
là chứng minh thứ của nền văn hoá bất cứ dân tộc nào. Nó chính là
cái để phân biệt văn hoá dân tộc này và văn hoá dân tộc khác. Khiến
văn hoá của dân tộc này không trở thành cái bóng của dân tộc kia và
ngược lại. Sự ý thức về bản sắc văn hoá dân tộc thấm đượm trong
mỗi tâm hồn tạo nền tảng cơ sở vững chắc cho lòng tự tin dân tộc,
kết tinh lại đưa lên một tầm cao mới. Mọi giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc bắt nhịp với sự phát triển của thời đại mới mà không
đánh mất vốn quý của chính mình .
Văn hoá Việt Nam hình thành trên nền văn hoá ĐNA ( lớp
văn hóa thứ nhất) trải qua nhiều thế kỷ nó đã phát triển trong sự giao
lưu mật thiết với văn hoá khu vực, trước hết là Trung Hoa ( lớp văn
hoá thứ 2) từ vài thế kỷ trở lại đây nó đang chuyển mình giữ dội nhờ
đi vào giao lưu ngày càng chặt chẽ với văn hoá phương tây ( lớp văn
hoá thứ 3) . Văn hoá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang phải
đối mặt với cuộc giao lưu văn hoá phương tây, không phải với quy
mô có thể kiểm soát được mà là một xu thế tất yếu của thời đại.
Cuộc tiếp xúc lần này hàm chứa rất nhiều tiềm năng nhưng cũng
không ít nguy cơ mai một bản sắc.
1.2 Bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu và phát triển .
Loài người đang sống trong một thời kỳ có những thành tựu to
lớn , sâu sắc trong cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự
bùng nổ thông tin và các phương tiện truyền thông, sự cải cách chính
trị xã hội đáng ngạc nhiên và sự tái sinh vai trò tiềm lực to lớn của
văn hoá. Nói cách khác do sự tiến bộ vượt bậc của văn hoá kỹ thuật,
do những biến đổi nhanh chóng của từng khu vực đã đưa tri thức loài
văn hoá dân tộc. Trong lich sử Việt Nam đã là một trong hơn 30
quốc gia còn giữ được bản sắc dân tộc.
2. Quan điểm của nhà nước ta về vấn đề bản sắc văn hoá
dân tộc.
2.1 Xác định các giá trị bản sắc của văn hoá Việt Nam .
Mỗi nền văn hoá đều là tài sản của một cộng đồng người nhất
định - một chủ thể của văn học… mọi hệ thống văn hoá đều có mối
quan hệ với môi trường xã hội .Vì vậy giữa văn hoá và môi trường
có sự gắn kết sâu sắc, văn hoá hỗ trợ là động lực của sự phát triển
của xã hội, và điều kiện xã hội, tác động thúc đẩy hay kìm hãm độ
phát triển văn hoá.
Trong suốt thời kỳ cách mạng sôi động hơn nửa thế kỷ qua
phương hướng gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, kết hợp
với tinh hoa văn hoá nhân loại là một nội dung cơ bản trong đường
lối cách mạng của Đảng Cộng Sản và nhà nước.
Tại Đại Hội văn hoá toàn quốc tháng 7/1948 Tổng bí thư
Trường Chinh khẳng định “văn hoá dân chủ mới Việt Nam phải gồm
3 tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”. Đến Đại Hội VI của
Đảng năm 1986 khái niệm bản sắc văn hoá dân tộc được nêu lên và
được đại hội công nhận ghi vào nghị quyết “xây dựng một nền văn
hoá văn nghệ XHCN đậm đà bản sắc đân tộc”.
Ngày 14/1/1993 lần đầu tiên Đảng ta ra một nghị quyết có nội
dung riêng về văn hoá được ban chấp hành TW khoá VII thông qua
về một số nhiệm vụ trách nhiệm văn hoá văn nghệ những năm trước
mắt, xây dựng vai trò quan trọng của văn hoá là nền tảng tinh thần
của xã hội đồng thời là mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Từ những đánh giá và khẳng định vai trò của văn hoá và bản
sắc văn hoá dân tộc trong xã hội. Đảng và nhà nước ta đề ra nhiều
giải pháp , phương hướng phù hợp, hỗ trợ cho sự nghiệp giữ gìn và
phát huy bản sắc tốt đẹp độc đáo của văn hoá dân tộc Việt Nam.
Như vậy vấn đề và phát huy gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc
đã được khơi dậy trong tất cả các lĩnh vực hoạt động văn hoá, và
không chỉ có thế, Đảng và nhà nước ta còn đặt ra mục tiêu làm cho
bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hoá phải được
thấm đậm cả trong mọi hoạt động xây dựng, sáng tạo, ứng dụng các
thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ giáo dục và đào tạo sao cho
trong mọi lĩnh vực chúng ta có cách tư duy độc lập, có cách làm vừa
hiện đại vừa mang sắcthái Việt Nam.
Thực hiện tinh thần của nghị quyết nhà nước đã tăng cường
các biện pháp đẩy mạnh sự phát triển của phong trào “ toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” trên cả nước trong mọi tầng
lớp nhân dân . Hệ thống các văn bản luật pháp và chính sách liên
quan đến văn hoá đang được xúc tiến xây dựng, trong đó đáng chú ý
là luật di sản văn hoá.
Tóm lại đường lối văn hoá của Đảng ta luôn nhất quán .Văn
hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
phát triển kinh tế xã hội. Những chủ trương chính sách kịp thời của
Đảng và nhà nước đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho văn hoá
phát triển theo đúng định hướng dân tộc, khoa học và nhân văn.
.
CHƯƠNG II
BÁO CHÍ VỚI VAI TRÒ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY
BẢN SẮC VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT
1. Mối quan hệ với báo chí việt nam và bản sắc văn hoá dân
tộc.
Báo chí ra đời cách đây hơn 100 năm. Mặc dù là sản phẩm
thành tựu của văn hoá phương tây du nhập vào. Nhưng không ai có
thể phủ nhận được thực tế là phương tiện truyền thông nhằm mục
đích phục vụ cho nhu cầu xã hội Việt Nam đang vận động và phát
triển đã nhanh chóng vượt lên vai trò thông tin thương mại đơn
vai trò quan trọng to lớn. Sự nhanh chóng và khả năng đồng hiện
trong một không gian lớn của thông tin báo chí là ưu điểm không
phương tiện nào so sánh được. Báo chí đã tham gia tích cực vào
trong việc lưu giữ và truyền bá và làm giàu kho tàng văn hoá dân tộc
và nhân loại.Tuy không thể trang bị một hệ thống tri thức lịch sử –
văn hoá như trong trường học, nhưng báo chí lại có khả năng thẩm
định và cổ vũ cho những giá trị lịch sử văn hoá, tạo môi trường
thuận lợi cho việc hình thành ý thức lịch sử của dân tộc.Thông tin
báo chí tham gia đáng kể vào việc hình thành cách tư duy nhận thức
hành động của con người hiện đại và cả xu hướng vận động của toàn
xã hội.
Trong mối quan hệ với bản sắc văn hoá dân tộc, báo chí chịu
ảnh hưởng sâu sắc từ trong bản chất hệ thống, và cũng là phương
tiện hữu hiệu có vai trò quan trọng góp phần giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá Việt Nam.
2 . nhiệm vụ của báo chí trong việc gìn giữ và phát huy bản
sắc văn hoá việt nam.
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu với đời
sống xã hội . Không phải ngẫu nhiên mà các nhà chính trị, các nhà
cách mạng đã dành cho báo chí sự quan tâm lớn . Vai trò chức năng
của hệ thống quyền lực thông tin này được LÊ NIN xác định “ không
những là người tuyên truyền cổ động tập thể , mà còn là người tổ
chức tập thể”.
Từ khi ra đời trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh
đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất
nước .Đảng và nhà nước ta luôn đánh giá đề cao vai trò của báo chí “
coi báo chí như là một công cụ đắc lực để tuyên truyền vận động và
tổ chức quần chúng làm cách mạng”.Báo chí hoạt động trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Trong đời sống văn hoá của đất nước, sự
tham gia của báo chí càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chủ Tịch
vào văn hoá tinh thần nhân văn thấm sâu vào các lĩnh vực đời sống
vào các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế- xã hội của Đảng
và nhà nước.
Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu văn hoá.
Nếu sự phát triển là do giao lưu quyết định thì tần số du nhập và xuất
tin tức của một xã hội lại là thước đo nhất định, chính xác nhất nhịp
độ giao lưu văn hoá của xã hội đó. Chính ở lĩnh vực này báo chí phát
huy chức năng “bộ lọc” của văn hoá dân tộc, định hướng giá trị cho
toàn xã hội.
Trong những định hướng lớn về xây dựng và phát triển nền
văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng và nhà nước có
đề ra nhiệm vụ “phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin
đại chúng, nhằm tăng hiệu quả thông tin chất lượng tư tưởng văn hoá