Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Mở đầu
Là một ngành còn mới xuất hiện trong nền kinh tế nớc ta, song kiểm toán lại
không phải nghề mới trên thế giới, đặc biệt là những nớc có nền kinh tế phát triển.
Hơn thế nữa, các công ty kiểm toán không chỉ thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính
mà còn mở rộng sang các lĩnh vực t vấn tài chính, t vấn kế toán, t vấn thuế, phát
triển phần mềm kế toán Do vậy mà kiểm toán đang là một nghề rất có triển vọng
trong tơng lai.
Qua quá trình học tập, em đợc biết, trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán doanh thu là một nội dung quan trọng bởi nó là một chỉ tiêu không thể thiếu để
phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiêu này có ảnh hởng đến các
chỉ tiêu quan trọng khác nh lợi nhuận trớc thuế, lợi nhuận sau thuế, thuế phải nộp
Nhà nớc, lãi cha phân phối, ở Việt Nam, Chuẩn mực Kế toán doanh thu là một
trong bốn Chuẩn mực Kế toán đầu tiên đợc Bộ Tài chính ban hành đã chứng tỏ tầm
quan trọng và nhu cầu cần thiết phải hoàn thiện công tác hạch toán kế toán doanh
thu trong các doanh nghiệp của nớc ta. Chính vì vậy mà em đã mạnh dạn chọn đề
tài: Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài
chính tại Công ty Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp của mình.
Bản luận văn tốt nghiệp của em, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bao
gồm những phần chính nh sau:
Chơng 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm
toán báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Chơng 2: Thực trạng kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
do Công ty Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện.
Chơng 3: Một số ý kiến nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm
toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại AASC.
Hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này, em đã đợc sự hớng dẫn tận tình của
cô giáo PGS.TS Lê Thị Hoà. Em xin chân thành cảm ơn cô. Đồng thời, em cũng
xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng Kiểm toán các ngành thơng mại và
Căn cứ vào tiêu thức phân loại khác nhau mà doanh thu có thể đợc phân
loại nh sau:
Theo tiêu thức lĩnh vực hoạt động mà có thể có các loại doanh thu sau:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
- Doanh thu hoạt động tài chính.
- Doanh thu khác.
Theo tiêu thức doanh thu đã thực hiện và cha thực hiện có thể phân loại
thành:
- Doanh thu thực hiện.
- Doanh thu cha thực hiện.
1.1.3. Các quy định trong hạch toán doanh thu
1.1.3.1. Tài khoản sử dụng trong hạch toán doanh thu
Trong quá trình hạch toán doanh thu, các tài khoản thờng hay đợc sử dụng
bao gồm có sáu tài khoản, chia thành 3 nhóm:
Nhóm tài khoản 51 Doanh thu, có 03 tài khoản
- Tài khoản 511 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ;
- Tài khoản 512 Doanh thu nội bộ;
- Tài khoản 515 Doanh thu hoạt động tài chính.
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 3 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Nhóm tài khoản 52 - Có 01 tài khoản
- Tài khoản 521 Chiết khấu thơng mại.
Nhóm tài khoản 53 Có 02 tài khoản
- Tài khoản 531 Hàng bán bị trả lại;
- Tài khoản 532 Giảm giá hàng bán.
Tài khoản 3387 Tài khoản doanh thu cha thực hiện.
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán doanh thu, kế toán còn sử dụng những
loại tài khoản khác liên quan nh: Tài khoản phản ánh Hàng tồn kho (TK 152, 153,
155, 156, 157), Giá vốn hàng bán, Thuế GTGT đợc khấu trừ và thuế GTGT phải
kết chuyển vào Tài khoản 911 Xác định kết quả kinh doanh. Các tài khoản thuộc
loại tài khoản doanh thu không có số d cuối kỳ.
1.1.3.2.1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài khoản Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ phản ánh doanh thu
của khối lợng sản phẩm hàng hoá đã bán; dịch vụ đã cung cấp đợc xác định là tiêu
thụ trong kỳ, không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu tiền.
Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp đợc thực
hiện theo nguyên tắc sau:
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế GTGT theo ph-
ơng pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán cha có thuế
giá trị gia tăng.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc
chịu thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ là tổng giá thanh toán.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá
thanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu).
- Những doanh nghiệp nhận gia công vật t, hàng hoá thì phản ánh vào doanh
thu ban hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế đợc hởng, không bao gồm
giá trị vật t, hàng hoá nhận gia công.
- Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, ký gửi theo phơng thức bán đúng giá hởng
hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phần hoa hồng
bán hàng mà doanh nghiệp đợc hởng.
- Trờng hợp bán hàng theo phơng thực trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi
nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động
tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhng trả chậm phù hợp với thời điểm
ghi nhận doanh thu đợc xác nhận.
- Những sản phẩm, hàng hoá đợc xác định là tiêu thụ, nhng vì lý do về chất l-
ợng, về quy cách kỹ thuật, ng ời mua từ chối thanh toán, gửi trả lại ngời bán hoặc
yêu cầu giảm giá và đợc doanh nghiệp chấp thuận; hoặc ngời mua mua hàng với
Đối với khoản tiền lãi đầu t nhận từ khoản đầu t cổ phiếu, trái phiếu thì
chỉ có phần lãi của các kỳ mà doanh nghiệp mua lại khoản đầu t này mới đợc ghi
nhận là doanh thu phát sinh trong kỳ; còn khoản lãi đầu t nhận đợc từ các khoản lãi
đầu t dồn tích trớc khi doanh nghiệp mua lại khoản đầu t đó thì ghi giảm giá trị
khoản đầu t trái phiếu, cổ phiếu đó.
1.1.3.2.3. Doanh thu cha thực hiện
Khi bán hàng, hoặc cung cấp dịch vụ theo phơng thức trả chậm, trả góp
thì doanh thu đợc ghi nhận theo giá bán trả ngay tại thời điểm ghi nhận doanh thu.
Giá bán trả ngay đợc xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các
khoản sẽ thu đợc trong tơng lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 6 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp là chênh lệch giữa
giá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay đợc ghi nhận vào tài khoản Doanh
thu cha thực hiện. Doanh thu cha thực hiện sẽ đợc ghi nhận là doanh thu của kỳ kế
toán theo quy định tại đoạn 25(a) của Chuẩn mực Doanh thu và thu nhập khác.
Khi nhận trớc tiền cho thuê tài sản của nhiều năm thì số tiền nhận trớc đợc
ghi nhận là doanh thu cha thực hiện. Trong các năm tài chính tiếp sau sẽ ghi nhận
doanh thu phù hợp với doanh thu của từng năm tài chính.
1.1.3.3. Điều kiện xác định doanh thu
Theo Chuẩn mực Kế toán số 14 quy định các điều kiện để xác định doanh thu
nh sau:
Doanh thu đợc xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ
thu đợc.
Doanh thu phát sinh từ giao dịch đợc xác định bởi thoả thuận giữa doanh
nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó đợc xác định bằng giá trị hợp lý
của các khoản đã thu đợc hoặc sẽ thu đợc sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thơng
mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
Đối với các khoản tiền hoặc tơng đơng tiền không đợc ghi nhận ngay thì
TK 521, 532,531 TK 511
TK 111, 112
TK 911
Kết chuyển các khoản
ghi giảm doanh thu
Kết chuyển doanh thu
thuần về tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá, dịch
vụ lao vụ trong kỳ
Kết chuyển doanh
thu thuần về tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ lao vụ
TK 3332, 3333
Thuế TTĐB, thuế XK
phải nộp về hàng đã
tiêu thụ trong kỳ
TK 521, 532,531
TK 911
Kết chuyển các
khoản ghi giảm
doanh thu tiêu thụ
trong kỳ
TK 511
TK 33311
Thuế GTGT đầu
ra phải nộp
TK 1331
Doanh thu của hàng
đem đi trao đổi
lợi nhuận cha phân phối, lợi nhuận sau thuế,
1.2.2. Đặc điểm của doanh thu ảnh hởng đến công tác kiểm toán
Với kiểm toán tài chính có hai cách cơ bản để phân chia các bảng khai tài
chính thành các phần hành kiểm toán: Phân theo khoản mục hoặc phân theo chu
trình. Từ đó mà có hai cách tiếp cận kiểm toán: kiểm toán theo khoản mục hoặc theo
chu trình.
Kiểm toán theo chu trình là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc
nhóm các khoản mục theo thứ tự trong Bảng khai vào một phần hành. Cách chia này
đơn giản song không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nh-
ng có liên hệ chặt chẽ với nhau nh Hàng tồn kho và giá vốn hàng bán, Doanh thu và
các khoản phải thu
Cách tiếp cận kiểm toán theo chu trình là cách chia thông dụng hơn căn cứ
vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các
yếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính. Chẳng hạn các nghiệp vụ
về doanh thu, doanh thu trả lại, các khoản thu tiền bán hàng và số d các khoản phải
thu đều nằm trong chu trình tiêu thụ (bán hàng và thu tiền). Cách phân chia này hiệu
quả hơn do xuất phát từ mối liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu thập đợc
các đầu mối của các mối liên hệ trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 9 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
trong Bảng khai tài chính. Theo cách phân chia này, kiểm toán Bảng khai tài chính
thờng bao gồm những phần hành cơ bản sau:
Kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền (tiêu thụ).
Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc đang chuyển).
Kiểm toán chu trình mua hàng trả tiền (cung ứng và thanh toán).
Kiểm toán chu trình tiền lơng và nhân viên.
Kiểm toán hàng tồn kho.
Kiểm toán huy động hoàn trả vốn.
Do doanh thu là khoản mục liên quan đến các khoản mục khác trên báo cáo
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
ngay tại thời điểm ghi nhận doanh thu. Giá bán trả ngay đợc xác định bằng cách quy
đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu trong tơng lai về giá trị thực tế tại thời
điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Phần lãi bán hàng trả chậm,
trả góp là chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay đợc ghi
nhận vào tài khoản Doanh thu cha thực hiện. Song nhiều doanh nghiệp lại hạch
toán hoàn toàn tiền lãi thu đợc vào doanh thu của năm tài chính.
1.2.3. Mục tiêu kiểm toán doanh thu
1.2.3.1. Mục tiêu kiểm toán chung
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 Mục tiêu và nguyên tắc cơ
bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính xác định: Mục tiêu của kiểm toán báo
cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận
rằng báo cáo tài chính có đợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành
(hoặc đợc chấp nhận), có tuân thủ pháp luật có liên quan và có phản ánh trung thực
và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?. Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài
chính còn giúp cho đơn vị kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục
nhằm nâng cao chất lợng thông tin tài chính của đơn vị.
Với mỗi một khoản mục trên báo cáo tài chính có các mục tiêu kiểm toán
riêng phù hợp với mỗi khoản mục đó.
Cụ thể các mục tiêu chung của kiểm toán khoản mục doanh thu có thể tóm
tắt nh sau:
Biểu 01: Các mục tiêu chung của kiểm toán khoản mục doanh thu
Mục tiêu chung Mục tiêu kiểm toán doanh thu
Tính có thật Doanh thu bán hàng đã ghi sổ là có căn cứ hợp lý.
Tính trọn vẹn Doanh thu bán hàng đợc ghi sổ đầy đủ.
Tính đợc phép Doanh thu đợc phê chuẩn về chế độ bán hàng và giá bán.
Tính định giá Doanh thu bán hàng đợc đánh giá đúng đắn.
Tính phân loại Doanh thu bán hàng đã đợc phân loại.
Tính kịp thời Doanh thu bán hàng đợc ghi sổ đúng kỳ.
Tính chính xác cơ học Các nghiệp vụ bán hàng đợc ghi vào sổ tổng hợp chi tiết thích hợp, tính
viên cần phải phân biệt hai loại doanh thu: Doanh thu đã thực hiện và Doanh thu cha
thực hiện.
Đối với các chỉ tiêu khác có liên quan đến hoạt động bán hàng nh chiết khấu
thơng mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, khi thực hiện kiểm toán, cần thực
hiện kiểm toán tơng tự nh kiểm toán doanh thu, tuy nhiên kiểm toán phải quan tâm tới
những quy định hiện hành có liên quan tới các chỉ tiêu đó.
1.2.4. Cơ sở kiểm toán khoản mục doanh thu
Trong cuộc kiểm toán, để tiến hành kiểm toán khoản mục doanh thu, kiểm
toán viên cần phải dựa vào các tài liệu sau của khách hàng để kiểm toán:
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phần I: Lãi Lỗ.
Các quy chế chính sách tài chính của Nhà nớc, của Tổng công ty, của bản
thân công ty khách hàng về doanh thu nh những quy định về giá bán, chiết khấu th-
ơng mại, giảm giá hàng bán,
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 12 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Các chứng từ gốc nh: Đơn đặt hàng, các hợp đồng kinh tế đã ký kết về
bán hàng và cung cấp dịch vụ, cho thuê tài chính hoặc các hợp đồng, khế ớc tín
dụng, hợp đồng đầu t tài chính.
Các hoá đơn nh: Hoá đơn bán hàng, hoá đơn giá trị gia tăng, vận đơn, hoá
đơn vận chuyển,
Các bản quyết toán, bản thanh lý hợp đồng bán hàng, hợp đồng cung cấp
dịch vụ, cho thuê tài sản, biên bản giao nhận hàng hoá, dịch vụ cung cấp, bản xác
nhận, bảng đối chiếu tình hình thanh toán với khách hàng.
Các chứng từ phải thu (tiền mặt, séc), giấy báo có của ngân hàng (kèm
theo bản sao kê của ngân hàng).
Sổ sách kế toán: Là các sổ cái Tài khoản 511, 512, 515, sổ nhật ký thu
tiền, sổ chi tiết doanh thu, doanh thu nội bộ, doanh thu hoạt động tài chính, sổ chi
tiết các khoản phải thu khách hàng.
Các bản kê bán hàng đại lý và các báo cáo doanh thu khác.
Doanh nghiệp đã làm thủ tục bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách
hàng, khách hàng đã trả tiền hoặc đã thực hiện các thủ tục chấp nhận thanh toán nh-
ng đơn vị cha hạch toán hoặc đã hạch toán nhầm vào các tài khoản khác (không
hạch toán vào doanh thu bán hàng).
Các khoản doanh thu về hoạt động tài chính và thu nhập khác đã thu đợc
nhng đơn vị hạch toán vào các tài khoản khác (không hạch toán vào doanh thu hoạt
động tài chính và thu nhập khác).
Số liệu đã tính toán và ghi sổ sai đã làm giảm doanh thu so với số liệu
phản ánh trên chứng từ kế toán.
Việc hạch toán doanh thu nh trên có nhiều nguyên nhân, nhng nguyên nhân
chủ yếu là do nhân viên kế toán cha hiểu biết đầy đủ quy định về doanh thu hoặc do
trình độ nghiệp vụ của nhân viên kế toán yếu, hoặc vì một lý do nào đó mà nhân
viên kế toán hạch toán doanh thu không đúng quy định.
1.2.6. Yêu cầu của kiểm toán doanh thu
Kiểm toán doanh thu phải đạt đợc những yêu cầu sau:
Thu thập bằng chứng chứng minh việc hạch toán doanh thu và hệ thống
kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đã đảm bảo cho việc hạch toán doanh thu là
trung thực, hợp lý và đúng quy định của Nhà nớc.
Thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ phát sinh về doanh thu
đã hạch toán phản ánh đầy đủ trong sổ kế toán.
Thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh về
doanh thu đã hạch toán và đợc phân loại chính xác, đã đợc tính toán đúng đắn và có
thực.
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 14 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
1.3. Quy trình kiểm toán doanh thu
1.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Việc lập kế hoạch kiểm toán doanh thu trong cuộc kiểm toán đợc tiến hành
đồng thời với trình tự lập kế hoạch toàn diện cuộc kiểm toán. Để có thể lập kế hoạch
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 15 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
chính thức của công ty kiểm toán, khi đó hợp đồng kiểm toán sẽ là căn cứ pháp lý để
công ty kiểm toán thực hiện những bớc kế tiếp.
1.3.1.2. Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm
toán tổng quát. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm
toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanh của
khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá
rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót
trọng yếu, đa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân
tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ
tục kiểm toán khác.
1.3.1.2.1. Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tìm hiểu về ngành
nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó có những phơng pháp kiểm toán
thích hợp, đồng thời đạt hiệu quả cao trong cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán số 300, Kế hoạch kiểm toán quy định kiểm toán viên
phải tìm hiểu ngành nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, và trong Đoạn 2
của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 310, Hiểu biết về tình hình kinh doanh đã hớng
dẫn: Để thực hiện đ ợc kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết
về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực
tiễn hoạt động của đơn vị đợc kiểm toán mà theo đánh giá của kiểm toán viên, chúng
có thể ảnh hởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán
viên hoặc đến báo cáo kiểm toán .
Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thận
trọng nghề nghiệp đúng mức. Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có những hệ
thống kế toán riêng và áp dụng những nguyên tắc kế toán đặc thù. Thêm vào đó tầm
hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác.
Ngoài ra, nhiều công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thờng xuyên đối với
mỗi khách hàng. Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu nh: Sơ đồ tổ chức bộ
máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm
thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập
nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết và qua đó kiểm toán viên
không chỉ xác định đợc các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của
Nhà nớc, với các chính sách hiện hành và của công ty hay không mà còn giúp kiểm
toán viên hiểu đợc bản chất của các số liệu cũng nh sự biến động của chúng trên các
báo cáo tài chính đợc kiểm toán.
Trong quá trình xem xét lại đó, kiểm toán viên cũng tiến hành xem xét lại kết
quả kiểm toán doanh thu lần trớc, vì thông qua đó, kiểm toán viên có thể nhận thức,
hiểu sâu hơn những sai sót mà kế toán khách hàng đợc kiểm toán thờng mắc phải và
có hớng kiểm toán thích hợp.
1.3.1.2.3. Thực hiện tham quan nhà xởng
Việc tham quan nhà xởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh
của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy
trình sản xuất kinh doanh, một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách
hàng, đặc biệt là công tác bảo vệ tài sản. Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết
minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn đề cần quan tâm nh sản xuất trì trệ, sản
phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu, hay không đợc phát huy hết công suất Ngoài ra,
kiểm toán viên cũng có đợc những nhận định ban đầu về phong cách quản lý của
Ban Giám đốc, tính hệ thống trong việc tổ chức, sắp đặt công việc,
Ngoài ra, việc tham quan nhà xởng sẽ giúp cho kiểm toán viên quan sát đợc
tình hình hàng hoá tồn kho, tình hình bảo quản vật t, sản phẩm hàng hoá, từ đó
đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu có thực sự hiệu
quả hay không.
1.3.1.2.4. Nhận diện các bên hữu quan
Các bên hữu quan, theo Chuẩn mực kiểm toán số 550, Các bên hữu quan, đ-
ợc hiểu là các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách hàng
các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt đợc các quy
trình mang tính pháp lý có ảnh hởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những
thông tin này đợc thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban Giám đốc công ty khách
hàng bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ công ty.
- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm
hiện hành hay trong vài năm trớc.
- Biên bản các cuộc họp hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, các cuộc họp cổ đông.
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng.
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 20 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Riêng trong quá trình kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên cần thu thập tình
hình pháp lý của công ty có liên quan đến hạch toán doanh thu.
Thu thập các Quy định của Nhà nớc và của doanh nghiệp về bán hàng
và cung cấp dịch vụ, về doanh thu và ghi nhận doanh thu.
Thu thập các Quy định của Nhà nớc về nhóm hàng, mặt hàng chịu thuế
suất khác nhau.
1.3.1.4. Thực hiện các thủ tục phân tích doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, Quy trình phân tích thì quy
trình phân tích là việc phân tích các số liệu, các thông tin, các tỷ suất quan trọng,
qua đó tìm ra những xu hớng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn
với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với các giá trị đã dự
kiến .
ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, sau khi đã thu thập đợc các thông tin cơ
sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên tiến hành thực
hiện các thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế
hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ đợc sử dụng cho
việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm vào các mục tiêu sau đây:
Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi
các tỷ lệ liên quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính,
nh doanh thu hoạt động tài chính trong tổng doanh thu, doanh thu bán hàng trong
tổng doanh thu,
Các tỷ suất tài chính thờng dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về
khả năng thanh toán nhanh, tỷ suất thanh toán hiện hành, các tỷ suất về khả năng
sinh lời, tỷ lệ doanh thu trên tổng nguồn vốn kinh doanh, tỷ lệ doanh thu trên tổng
nguồn vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận gộp, tỷ suất hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệ
giữa lợi nhuận trớc thuế với tổng doanh thu bán hàng
1.3.1.5. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán doanh thu
Trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán, kiểm toán viên cũng cần phải tiến hành đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm
toán đối với mỗi khách hàng cụ thể. Tuỳ theo tình hình kinh doanh của mỗi khách
hàng mà tính trọng yếu và rủi ro là khác nhau, và phân bổ cho mỗi khoản mục cụ
thể là khác nhau.
Ngoài ra, tính trọng yếu và rủi ro rất quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán vì đánh giá tính trọng yếu và rủi ro hỗ trợ việc thiết kế phơng pháp kiểm
toán, kế hoạch kiểm toán phù hợp, góp phần vào sự thành công của cuộc kiểm toán.
1.3.1.5.1. Đánh giá tính trọng yếu
Theo chuẩn mực kiểm toán số 320, Tính trọng yếu trong kiểm toán, đã nêu
khái niệm trọng yếu nh sau: Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan
trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin đợc
coi l trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của
thông tin đó sẽ ảnh hởng đến các quyết định của ngời sử dụng báo cáo tài chính. Mức
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 22 -
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin, hay sai sót đợc đánh
giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngỡng, một điểm chia cắt chứ không
phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét
cả trên phơng diện định lợng và định tính.
Lập kế hoạch
phạm vi của
các khảo sát
Đánh giá các kết
quả
Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
với từng khoản mục. Mục đích của sự phân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác
định bằng chứng thích hợp với từng tài khoản để thu thập, nhằm tối thiểu hoá các
chi phí kiểm toán.
Đối với khoản mục doanh thu cũng đợc thực hiện phân bổ ớc lợng ban đầu
về tính trọng yếu nh những khoản mục khác. Để có thể thực hiện phân bổ ớc lợng
ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán viên tiến hành ớc lợng ban đầu về mức độ
trọng yếu cho tất cả các khoản mục, sau đó tiến hành phân bổ cho các khoản mục
theo một hệ số tuỳ thuộc vào từng công ty kiểm toán khác nhau.
1.3.1.5.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán số 400, Đánh giá rủi ro kiểm toán và rủi ro kiểm
soát nội bộ, rủi ro kiểm toán là rủi ro do Công ty kiểm toán và kiểm toán viên đa ra
ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn có những
sai sót trọng yếu.
Rủi ro cố hữu là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài
chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay
không có hệ thống kiểm soát nội bộ. Trong kiểm toán doanh thu, rủi ro cố hữu th-
ờng xảy ra trong trờng hợp xảy ra các sai sót trên các hoá đơn bán hàng, trong ghi
chép sổ sách kế toán nh ghi sổ sai, tính toán sai
Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro có liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm
soát nội bộ. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống
kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không
hiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này. Đối với doanh
thu, rủi ro kiểm soát có thể xảy ra nhiều hơn với những khách hàng có hệ thống
đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ
với bốn yếu tố chính: Môi trờng kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ hống kế toán), các
thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ.
Môi trờng kiểm soát
Môi trờng kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong đơn vị và bên ngoài
đơn vị có tính môi trờng tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của
các loại hình kiểm soát nội bộ.
Trong môi trờng kiểm soát bao gồm các nhân tố: Cơ cấu tổ chức, chính sách
nhân sự, công tác kế hoạch, Uỷ ban kiểm soát, và môi trờng bên ngoài.
Hệ thống kế toán
Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống
chứng từ kế toán, hệ thống sổ sách kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng
tổng hợp, cân đối kế toán. Trong đó, quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò
quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Mục đích của hệ thống kế toán là nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo
cáo nghiệp vụ thoả mãn chức năng thông tin, kiểm tra.
Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 43A - 25 -