Hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) - Pdf 45

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ khi Việt Nam ra nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể, là “mảnh đất” hấp dẫn thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, các ngành dịch vụ trong nước cũng
phải được nâng cao để phù hợp với điều kiện này và đáp ứng được yêu cầu quản lý
nhằm minh bạch hóa tình hình tài chính. Từ yêu cầu đó, ngành kiểm toán tại Việt
Nam đang phát triển hết sức mạnh mẽ không chỉ về quy mô mà cả loại hình dịch vụ
cung cấp. Cũng xuất phát từ hội nhập kinh tế với sự cạnh tranh của các công ty kiểm
toán lớn và có uy tín trên thế giới, các công ty kiểm toán Việt Nam đang phải nỗ lực
hết sức để nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán, đáp ứng được yêu cầu chung trên
thế giới. Vấn đề đặt ra cho các công ty kiểm toán là làm thế nào để nâng cao chất
lượng của dịch vụ cung cấp, tạo niềm tin đối với khách hàng, chiếm lĩnh được thị
trường. Chính vì vậy việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để
nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung, kiểm toán cáo
cáo tài chính nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được đối với bất cứ một công
ty kiểm toán nào trong quá trình phát triển của mình.
Bằng chứng kiểm toán là các tài liệu, thông tin kế toán, mà kiểm toán viên thu
thập liên quan đến cuộc kiểm toán là cơ sở cho ý kiến của mình. Có thể nói bằng
chứng kiểm toán là yếu tố quyết định đến thành công của cuộc kiểm toán. Trong thế
kỷ mới khi kỷ nguyên kiểm toán đang mở rộng và phát triển thì việc nâng cao chất
lượng cuộc kiểm toán là một yếu tố hàng đầu của các công ty kiểm toán. Muốn làm
được điều này thì việc nâng cao chất lượng bằng chứng là một điều tất yếu. Chính vì
vậy việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để nâng cao chất
lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung, kiểm toán cáo cáo tài chính
nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được đối với AASC cũng như đối với bất cứ
một công ty kiểm toán nào trong quá trình phát triển của mình.
Nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán,
với những kiến thức đã học ở trường đại học và qua quá trình thực tập tại Công ty
Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) em đã lựa chọn đề tài

không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để
báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
ST
T
Nội dung Chữ viết
tắt
1 Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán
AASC
2 Báo cáo kết quả kinh doanh BCKQKH
3 Bảng cân đối kế toán BCĐKT
4 Báo cáo tài chính BCTC
5 Doanh nghiệp DN
6 Doanh nghiệp nhà nước DNNN
7 Thành viên Ban giám đốc T/v BGĐ
8 Xây dựng cơ bản XDCB
9 Kiểm toán viên KTV
10 Trách nhiệm hữu hạn TNHH
11 Ủy ban chứng khoán Nhà nước SSC
12 Ngân hàng Thế giới WB
13 Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB
14 Tổ chức thương mại thế giới WTO
15 Báo cáo kiểm toán BCKT
16 Kiểm soát nội bộ KSNB
17 Chuẩn mực kiểm toán CMKT

thuế. Hiện nay, AASC có trụ sở chính đặt tại Hà Nội, chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh
và Văn phòng đại diện tại Quảng Ninh
Quá trình hình thành và phát triển của công ty AASC gắn liền với 3 giai đoạn:
1.1.1. Giai đoạn 1: Từ 01/04/1991 đến tháng 8 năm 1993
Doanh nghiệp nhà nước Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán (AASC) được thành lập ngày 13/05/1991 theo Quyết định số 164 TC/TCCB
của Bộ trưởng BTC. AASC là một trong hai tổ chức hợp pháp lớn nhất và đầu tiên ở
Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính. Lúc ấy,
AASC có trụ sở chính đặt tại Hà Nội và các chi nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố
trên lãnh thổ Việt Nam. Ngày 14 tháng 9 năm 1991, Công ty chính thức đi vào hoạt
động.
1.1.2. Giai đoạn 2: từ 14/9/1993 đến tháng 09/2007
Ngày 14/9/1993 Bộ trưởng BTC đã ra Quyết định số 639 TC/QĐ/TCCB, thành
lập lại công ty Dịch vụ kế toán, đổi tên thành Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài
Chính kế toán và Kiểm toán (AASC) với tổng số vốn ban đầu gần 300 triệu đồng.
Tháng 3/1992, Công ty thành lập chi nhánh đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh
và đến tháng 3/1995, được phép của BTC, chi nhánh này tách ra khỏi Công ty
AASC và thành lập Công ty CP Kiểm Toán và Tư vấn Tài chính Kế toán (AFC).
4
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
Ngoài ra Công ty còn có các chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Thanh Hóa
và Quảng Ninh.
1.1.3. Giai đoạn 3: Từ 09/2007 đến nay
Thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO), AASC đã
chuyển đổi thành công từ Doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Tài chính thành Công ty
TNHH có 2 thành viên trở lên và vẫn là một trong 6 công ty kiểm toán hoạt động tại
Việt nam có doanh thu hàng năm, có hệ thống khách hàng và có số lượng kiểm toán
viên và nhân viên lớn nhất hiện nay (52 kiểm toán viên Nhà nước, 35 cán bộ đang
theo học chứng chỉ ACCA của Vương quốc Anh, 07 thẩm định viên về giá và trên

nghiệp và tư
vấn cổ phần
hóa DN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
Sơ đồ 1.1: Dịch vụ AASC cung cấp
Dịch vụ kiểm toán
Dịch vụ kiểm toán gồm các loại hình sau:
Kiểm toán BCTC: Là một trong những dịch vụ cơ bản làm nên thương hiệu
AASC
Kiếm toán Báo cáo Quyết toán vốn đầu tư: Hoạt động kiểm toán Báo cáo quyết
toán vốn đầu tư của AASC đã góp phần giúp các chủ đầu tư loại bỏ được các chi phí
bất hợp lý, tiết kiệm cho Ngân sách Nhà nước và cho chủ đầu tư hàng ngàn tỷ đồng.
Dịch vụ kế toán:
AASC được hình thành và phát triển từ khởi đầu là một đơn vị chuyên cung cấp
các dịch vụ kế toán. AASC đã cung cấp cho các khách hàng nhiều loại dịch vụ kế
toán, bao gồm: Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức công tác kế
toán cho DN; Rà soát, cải tổ bộ máy kế toán đã có sẵn…
Dịch vụ tư vấn:
Với kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc, AASC đã thực hiện đa dạng nhiều loại hình
dịch vụ tư vấn được khách hàng đánh giá cao như: Tư vấn lập BCTC doanh nghiệp,
báo cao dự án, báo cáo quyết toán vốn đầu tư; tư vấn xây dựng, lựa chọn mô hình kế
toán DN, soạn thảo hồ sơ thành lập DN…
Dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa:
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước về việc chuyển đổi hình thức sở
hữu các doanh nghiệp Nhà Nước sang công ty cổ phần, từ năm 2003 đến nay AASC
đã có những bước phát triển vượt bậc trong hoạt động cung cấp dịch vụ xác định giá
trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hoá.
Dịch vụ đào tạo, hỗ trợ tuyển dụng.
6
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6

kiểm
toán 2
Phòng
kiểm
toán 5
Phòng
kiểm
toán 3
VP đại
diện ở
Quảng
Ninh
Phòng
kiểm
toán 6
Chi
nhánh
TP
HCM
Phòng
tổng
hợp và
Đào tạo
Phòng
kiểm
toán
xây
dựng cơ
bản
Phòng

phố Hồ Chí Minh.
Phòng hành chính tổng hợp và Đào tạo: Có nhiệm vụ quyết định về công tác tổ
chức nhân sự, đào tạo, bảo vệ tài sản và cung cấp hậu cần cho Công ty…
Phòng kế toán tài chính: Trợ giúp cho ban Giám đốc trong công tác điều hành,
quản lý công ty, theo dõi và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, cung cấp các
báo cáo kế toán, thanh toán lương, tạm ứng cho các cán bộ công nhân viên đi công
tác, …
9
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Phòng kiểm toán số 1, 2, 3, 5, 6: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo tài
chính cho các Công ty, định giá doanh nghiệp, tư vấn hỗ trợ khách hàng về tài chính,
kế toán, …
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo
quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, các hạng mục công trình, các dự án đầu
tư, ..
Phòng đầu tư nước ngoài: Cung cấp các dịch vụ liên quan tới các dự án của các
tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, công ty liên doanh nước ngoài… Hiện nay,
lĩnh vực kiểm toán các dự án tại Công ty đang rất phát triển và đóng góp 1 phần
đáng kể cho doanh thu của toàn Công ty.
Mô hình tổ chức Công ty theo cơ cấu trực tuyến – chức năng. Theo cơ cấu này,
Tổng giám đốc được sự giúp sức của các Phó giám đốc đế chuẩn bị các quyết định,
hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Tổng giám đốc vẫn chịu trách
nhiệm về mọi mặt công việc và toán quyền quyết định trong phạm vi doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cơ cấu này sẽ khiến TGĐ phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ
giữu bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng. Ngoài ra mỗi khi Phó giám đốc lãnh
đạo các bộ phận chức năng có nhiều ý kiến khác nhau, tranh luận căng thẳng cũng
khiến TGĐ không đưa ra được quyết định có hiệu quả như mong muốn.
1.3.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh:
Khách hàng của Công ty AASC rất đa dạng, bao gồm tất cả các lĩnh vự kinh tế,

Khen thưởng của cơ quan nhà nước: Do những thành tích và những đóng góp
của Công ty AASC đối với ngành Tài chính, Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, Đảng
và Nhà nước đã có nhiều quyết định khen thưởng cho Công ty cũng như các cá nhân
của Công ty:
Công ty AASC là Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên và duy nhất của Việt Nam
liên tục hai lần vinh dự được Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ tặng thưởng Huân
chương lao động hạng Nhì, hạng Ba. Ban Giám đốc Công ty được tặng thưởng Huân
chương lao động hạng Ba và danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”.
1.4. KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY AASC TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY.
Vốn điều lệ của công ty: 9.683.000.000 VNĐ.
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của AASC trong giai đoạn 2005- 2009
11
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Doanh thu của AASC tăng đều qua các năm, sở dĩ doanh thu tăng nhanh là do
hiện nay yêu cầu về minh bạch tình hình tài chính là mối quan tâm hàng đầu, vì vậy
nhu cầu về kiểm toán cũng tăng cao. Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng doanh thu
lớn nhất trong doanh thu về cung cấp dịch vụ hàng năm của AASC.
Để đạt được kết quả như trên là do sự cố gắng của ban lãnh đạo trong công tác
quản lý, điều hành và sự đóng góp nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên có
trình độ kinh nghiệm chuyên môn trong nghề, đưa thương hiệu AASC ngày càng lớn
mạnh, nâng cao uy tín của công ty.
(*) Công ty AASC thực hiện công tác chuyển đổi từ năm 2007. Năm tài chính
đầu tiên có niên độ bắt đầu từ 01/7/2007. Niên độ kế toán công ty từ 01/10 năm
trước đến 30/9 năm sau.
1.5. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KIỂM TOÁN CỦA CÔNG TY AASC.
1.5.1. Đặc điểm tổ chức đoàn kiểm toán của công ty AASC
Trong mỗi cuộc kiểm toán khác nhau thì quy mô đoàn kiểm toán cũng khác nhau.
Tuy nhiên bất cứ cuộc kiểm toán nào cũng phải đảm bảo có: Thành viên Ban tổng

kiểm tra công việc của các KTV còn ít kinh nghiệm hoặc các trợ lý kiểm toán. Đồng
thời trưởng nhóm là người lập báo cáo kiểm toán, gửi các bút toán điều chỉnh, thư
quản lý đối với khách hàng, là người giao dịch sau cùng với khách hàng về các sự
việc phát sinh sau ngày kết thúc hợp đồng kiểm toán.
Các trợ lý kiểm toán: Là người thực hiện kiểm toán phần hành dưới sự phân
công của trưởng nhóm kiểm toán và báo cáo kết quả cho trưởng nhóm kiểm toán. Số
lượng KTV tham gia cuộc kiểm toán tùy thuộc vào quy mô cuộc kiểm toán, thời
gian, mức độ đánh giá trọng yếu, rủi ro của đối tượng kiểm toán.

13
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
Trưởng nhóm kiểm
toán
Khách hàng
Trợ lý kiểm
toán
Trợ lý kiểm
toán
Trợ lý kiểm
toán
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tổ chức đoàn kiểm toán
Mô hình tổ chức nhân sự cho một cuộc kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu
tư và báo cáo quyết toán công trình xây dựng hoàn thành: Tổ chức nhân sự của
cuộc kiểm toán đối tượng này tương tự kiểm toán BCTC. Ngoài những nhân tố trên
kiểm toán loại này còn có thêm các Kỹ sư xây dựng, các kỹ sư xây dựng có nhiệm
vụ kiểm tra bản vẽ thiết kế, tính toán khối lượng dự toán của công trình và tư vấn
những vấn đề liên quan đến chuyên môn xây dựng.
1.5.2. Đặc điểm tổ chức công tác kiểm toán
1.5.2.1. Đặc điểm tổ chức đoàn kiểm toán

công tác hậu cần:
Công tác khảo sát, đánh giá khách hàng và Dự thảo, ký hợp đồng: Khi khách
hàng có nhu cầu tìm đến và đặt yêu cầu cung cấp dịch vụ với Ban Giám đốc,Ban
Giám đốc sẽ chỉ đạo cho Trưởng/phó phòng phụ trách khảo sát đánh giá sơ bộ về
công ty khách hàng, thu thập được các thông tin cơ bản về khách hàng, nắm bắt
được những thông tin sơ bộ về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của khách thể kiểm
toán, lập Báo cáo khảo sát.
Công tác chuẩn bị hậu cần: Trưởng/phó phòng phụ trách sẽ phân công nhóm làm
việc với khách hàng gồm có trưởng nhóm và các trợ lý kiểm toán. Sau đó trưởng
nhóm sẽ chuẩn bị xin phê duyệt các giấy tờ sau: Giấy đi đường, giấy đề nghị tạm
ứng và đề nghị xin văn phòng phẩm.
Thứ hai, Giai đoạn triển khai: Sau khi thống nhất các điều khoản và ký hợp
đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán, lãnh đạo phòng phụ trách sẽ tổ chức đoàn kiểm
toán gồm có trưởng nhóm và các trợ lý. Trưởng nhóm sẽ phân công công việc cho
các trợ lý và trong quá trình làm việc sẽ trao đổi các vấn đề liên quan đến công việc
lẫn nhau. Trưởng nhóm còn có trách nhiệm trao đổi với khách hàng về thông tin và
15
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn triển khai
Giai đoạn kết thúc
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
thống nhất kết quả kiểm toán; Trao đổi thông tin với các thành viên trong nhóm
trong quá trình thực hiện; Báo cáo kết quả thực hiện công việc.
Giai đoạn này gồm có 3 bước được mô tả trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5 : Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán BCTC
Bước một là lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán: Giai đoạn này
bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạo được cơ sở pháp lý, kế hoạch
kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho công tác kiểm toán. Cụ thể:
Tìm hiểu, khảo sát về hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý của công ty: Đối

gian đảm nhiệm chức vụ của từng người, trình độ kế toán, thâm niên công tác, việc
cập nhật các chế độ chính sách của nhân viên phòng kế toán… Cuối cùng, KTV đưa
ra kết luận về hệ thống KSNB của khách hàng.
Lập kế hoạch kiểm toán (kế hoạch chiến lược, kế hoạch tổng thể và thiết kế
chương trình kiểm toán): Đây là công việc cần thiết cho mọi cuộc kiểm toán. Lập kế
hoạch kiểm toán được tiến hành chu đáo, chuẩn xác quyết định phần nhiều tới thành
công của một cuộc kiểm toán. Vì vậy AASC đặc biệt chú trọng đến bước công việc
này. Thông thường người tiến hành lập kế hoạch kiểm toán là Trưởng nhóm kiểm
toán dưới sự giám sát và phê duyệt của Trưởng đoàn kiểm toán.
Nội dung của Kế hoạch kiểm toán tổng thể thay đổi phù hợp mục đích, phạm vi
và tính chất của từng cuộc kiểm toán. Thông thường nó bao quát các vấn đề: Thông
tin về hoạt động của khách hàng và những thay đổi trong năm kiểm toán; Các điều
khoản trong hợp đồng cần nhấn mạnh; Hiểu biết về hệ thống kế toán và KSNB;
Đánh giá rủi ro; Xác định mức độ trọng yếu; Phương pháp kiểm toán đối với khoản
mục; Yêu cầu nhân sự; Tổng hợp kế hoạch kiểm toán tổng thể.
Bước tiếp theo dựa vào kế hoạch kiểm toán tổng thể để xây dựng chương trình
kiểm toán. Chương trình kiểm toán sẽ bao gồm các bước công việc cụ thể cần phải
tiến hành được Trưởng nhóm kiểm toán giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong
nhóm nhằm đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch kiểm toán đã đề ra.
Bước hai là thực hiện kế hoạch kiểm toán: Bắt đầu một cuộc kiểm toán, đoàn
kiểm toán sẽ phải tiến hành họp triển khai chương trình với ban giám đốc, phòng kế
toán và đại diện các phòng ban chức năng nhằm thống nhất mục tiêu, nội dung
chương trình kiểm toán, ngày giờ kiểm toán, địa điểm làm việc, trách nhiệm của các
bộ phận liên quan đến cuộc kiểm toán…
Tiếp theo, trưởng nhóm sau khi xem xét bảng cân đối số phát sinh sẽ phân công
công việc cho các trợ lý trong nhóm kiểm toán tùy theo năng lực, trình độ của các
17
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
thành viên trong nhóm. Các trợ lý kiểm toán theo phân công công việc sẽ thực hiện

SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Một là thực hiện thử nghiệm kiểm soát: Thử nghiệm kiểm soát được tiến hành
sau khi tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng, khi đó thủ tục kiểm soát được
triển khai nhằm thu thập các bằng chứng về thiết kế và thực hiện của hệ thống
KSNB. Công ty AASC đã thiết kế mẫu nội dung thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
liên quan đến tất cả các khoản mục làm tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ cho các kiểm
toán và trợ lý khi thực hiện công việc. KTV trong quá trình thực hiện có những thay
đổi các thủ tục cho phù hợp với mô hình thiết lập hệ thống KSNB của khách hàng
để đảm bảo thu được bằng chứng tin cậy về sự thiết kế phù hợp.
Nếu qua kiểm tra hệ thống KSNB các KTV phát hiện không phù hợp với đánh giá
ban đầu trong kế hoạch kiểm toán thì cần thực hiện các thủ tục kiểm tra bổ sung.
Hai là thực hiện thử nghiệm cơ bản, cụ thể:
Thực hiện thủ tục kiểm soát: rà soát tình hình kiểm soát nội bộ và rà soát đánh giá
việc tuân thủ pháp luật.
Thực hiện các thủ tục phân tích: xem xét tính độc lập và tin cậy của các dữ liệu thông
tin tài chính, nghiệp vụ bằng cách sử dụng các hệ số, tỷ suất tài chính, ước tính các giá trị
ước tính và giá trị ghi sổ, phát hiện và tìm ra các nguyên nhân chênh lệch.
Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết : tuỳ từng phần hành và khoản mục mà chọn
mẫu kiểm tra hay kiểm tra toàn bộ, sử dụng phương pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết để
thực hiện kiểm tra đối với khoản mục đã chọn. Xác định chênh lệch và các biện pháp xử
lý .
Kết thúc giai đoạn này là công việc đánh giá các phát hiện, đưa ra các bút toán điều
chỉnh.
Bước ba là hoàn thành kiểm toán và công bố BCKT: Kết thúc kiểm toán là
bước cuối cùng của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn này, các KTV sẽ tiến hành
xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập BCTC, tổng hợp và đánh giá các bằng
chứng thu thập được trong quá trình kiểm toán để đưa ra ý kiến xác nhận về tính
trung thực hợp lý của BCTC cũng như việc tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành trên BCKT.

Bảng 1.2: Bảng ký hiệu tham chiếu trong hồ sơ kiểm toán chung
Nội dung Ký hiệu
Các thông tin chung TTI
Các tài liệu pháp luật TTII
Các tài liệu về thuế TTIII
Các tài liệu về nhân sự TTIV
Các tài liệu về kế toán TTV
20
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Các tài liệu về hợp đồng TTVI
Các thủ tục TTVII
Thứ hai, Hồ sơ kiểm toán năm: Là hồ sơ kiểm toán chứa đựng các thông tin về
khách hàng chỉ liên quan tới cuộc kiểm toán một năm tài chính. Hồ sơ kiểm toán
năm là cơ sở trực tiếp cho việc hình thành ý kiến kiểm toán của KTV, giúp đánh giá
chất lượng cuộc kiểm toán và là thông tin cho việc lập kế hoạch của cuộc kiểm toán
năm sau.
Hồ sơ kiểm toán năm tại Công ty AASC gồm: Thông tin chung về cuộc kiểm
toán; Các vấn đề chung về cuộc kiểm toán và các phần hành.
Các vấn đề chung về cuộc kiểm toán gồm 11 vấn đề, được sắp xếp theo ký hiệu
tham chiếu đánh số thứ tự La Mã như bảng sau:
Bảng 1.3: Bảng ký hiệu tham chiếu các vấn đề chung về cuộc kiểm toán
Nội dung

hiệu
Từ trang -
Đến trang
BCKT, Thư quản lý I
Tổng kết công việc kiểm toán của niên độ II
Các sự kiện phát sinh sau khi phát hành BCKT năm trước III

Tóm tắt hệ thống KSNB của khách hàng B
Tiền C
Các khoản đầu tư tài chính D
Các khoản phải thu E
Hàng tồn kho FA
Chi phí sản xuất, tính giá thành, SPDD FB
Tài sản ngắn hạn khác G
Bất động sản đầu tư H
Tài sản cố định I
Chi phí XDCB dở dang J
Tài sản dài hạn khác K
Công nợ nội bộ L
Lương và các khoản theo lương M
Các khoản nợ phải trả khác N
Các loại thuế O
Các khoản Vay/Nợ P
Nguồn vốn, quĩ và lợi nhuận chưa phân phối Q
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ R
Giá vốn hàng bán S
Doanh thu và chi phí hoạt động tài chính T
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp
U
Thu nhập và chi phí khác V
Khác Y
1.5.3. Kiểm soát chất lượng kiểm toán của Công ty AASC
Đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán là một hệ thống
chính sách và biện pháp để nắm bắt và điều hành hoạt động kiểm toán đạt chuẩn
mực chung, bao gồm: quan điểm về kiểm soát, các quy định nghiệp vụ kiểm toán và
kiểm soát, cơ cấu tổ chức bộ máy kiểm soát, chính sách về nhân sự, các hoạt động

trường hợp là kỹ năng chuyên sâu để hoàn thành công việc một cách xuất sắc. Tiếp
đó, công việc kiểm toán được chỉ đạo, giám sát và soát xét ở tất cả các cấp - không
để chỉ một cấp nào đảm đương toàn bộ một cuộc kiểm toán. Các trưởng/phó phòng
kiểm toán phân công công việc cho các nhân viên trong phòng nhưng họ không thể
chuyển giao trách nhiệm của mình cho nhóm kiểm toán. Một trong những quy trình
kiểm soát chất lượng chủ yếu là tất cả các công việc được soát xét bởi một thành
viên cao cấp hơn trong nhóm kiểm toán.
23
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Kế đến, KTV phụ trách việc ra quyết định duy trì và chấp nhận khách hàng: Danh
tiếng của Công ty kiểm toán phụ thuộc vào khách hàng mà công ty đó phục vụ, sự
đánh giá thấu đáo về khách hàng tiềm năng và việc thường xuyên đánh giá lại khách
hàng đang có là một phần việc quan trọng, chủ yếu của quản lý chất lượng.
Cuối cùng, KTV thực hiện công tác kiểm tra: Công ty AASC thường xuyên kiểm
tra tính hiệu quả của các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động của
công ty.
Một thủ tục rất quan trọng để duy trì chất lượng cuộc kiểm toán tại Công ty
AASC là hệ thống soát xét được thực hiện qua 3 cấp. Sau quá trình làm việc tại công
ty khách hàng, KTV sẽ tập hợp bằng chứng kiểm toán, giấy làm việc vào file và đưa
ra ý kiến của mình. Tiếp theo Trưởng/phó phòng phụ trách sẽ soát xét lại file và đưa
ra ý kiến trước khi trình lên Ban tổng giám đốc soát xét lần cuối. Sau khi đủ 3 cấp
soát xét và được phê duyệt, Công ty sẽ phát hành Báo cáo kiểm toán cho khách
hàng.
Hai là, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài : Đó là các hoạt động quản lý từ cơ quan
quản lý Nhà nước và Hiệp hội nghề nghiệp. Hoạt động quản lý bên ngoài thực hiện thông
qua cơ chế giám sát hoạt động đối với việc tuân thủ các chuẩn mực và quy định pháp lý.
24
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc

- Server IBM đủ điều kiện ghi tăng nguyên giá TSCĐ đang được
đơn vị theo dõi trên TK242 và phân bổ và chi phí sản xuất kinh
doanh trong kỳ. Đề nghị điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ
Bút toán điều
chỉnh
- Đơn vị đang hạch toán tăng nguyên giá TSCĐ là chi phí sửa chữa
văn phòng số tiền 46.582.222 đ. Đề nghị điều chỉnh sang TK242 và
thực hiện phân bổ trong 02 năm
Bút toán điều
chỉnh… … … …
… … … …
Bảng 1.5: Trích bảng tổng hợp kết quả kiểm toán
25
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status