LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC
I. Tại sao nói: “Xã hội học với tư cách là một bộ phận của khoa học thực nghiệm
nó chỉ ra đời ở các nước Tây Âu thế kỷ XIX?”
Xã hội học với tư cách là một bộ phận của khoa học thực nghiệm đã ra đời ở các nước
Tây Âu thế kỷ XIX. Để giải thích được vấn đề này cần phải trở lại với những điều kiện kinh
tế - xã hội ở Tây Âu thế kỷ XIX với tư cách là tìm hiểu những tiền đề quan trọng cho sự ra
đời của XHH thế giới.
1.1. Vào thế kỷ XIX ở các nước Tây Âu đã trải qua những biến động hết sức to lớn,
trước hết là những biến động trong lĩnh vực kinh tế.
- Vào thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở các nước Anh, Pháp,
Đức… Thực chất của cuộc cách mạng công nghiệp này là sự thay thế lao động thủ công
bằng lao động máy móc. Chính vì vậy nó đã đem lại những thay đổi to lớn trong lòng xã hội
châu Âu.
+ Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.
+ Kích thích xu hướng tự do hoá thương mại, tự do hoá sản xuất, tự do hoá lao động
làm cho thị trường trong nước và thì trường các nước Tây Âu được mở rộng.
+ Hình thành những trung tâm công nghiệp mới và các đô thị mới. Nhiều nhà máy, xí
nghiệp, tập đoàn kinh tế ra đời thu hút nguồn lao động từ các vùng cận thị và nông thôn.
+ Hình thái kinh tế phong kiến sụp đổ dành chỗ cho sự phát triển mạnh mẽ của
CNTB.
+ Sự biến đổi trong lĩnh vực kinh tế đã tạo ra xã hội công nghiệp, đó là một bước tiến
lớn trong lịch sử châu Âu, nhưng nó cũng nảy sinh những vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp
như: khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp…
+ Hệ thống tổ chức quản lý kinh tế theo kiểu truyền thống bị phá vỡ, đòi hỏi sự thay
thế của một phương thức quản lý mới phù hợp với tổ chức xã hội công nghiệp. Để thiết lập
phương thức quản lý mới cần có sự hỗ trợ của các ngành khoa học trong đó có xã hội học.
1.2. Thế kỷ XIX là thế kỷ của những biến động chính trị - xã hội ở các nước Tây
Âu
- Cuộc cách mạng Pháp 1789 là một cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất trong lịch sử .
Thắng lợi của cuộc cách mạng này đã đem lại việc thành lập nhà nước tư sản Pháp, các giai
cấp mới, các quan hệ xã hội mới được hình thành. Nền dân chủ tư sản được hình thành thay
- Có thể nói vào thế kỷ XIX, các nước Tây Âu đã thực sự bước vào xã hội tư bản với
sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp. Sự phát triển của nền kinh tế và những biến
đổi về chính trị - xã hội, về tư tưởng, lý luận và khoa học đã tạo ra những tiền đề cần thiết và
đầy đủ cho sự ra đời của xã hội học. Với những điều kiện và tiền đề ấy có thể khẳng định
rằng XHH với tư cách là một bộ phận của khoa học thực nghiệm nó chỉ ra đời ở các nước
Tây Âu thế kỷ XIX.
II. Các lý thuyết
1. Lý thuyết hệ thống xã hội của T.Parson
Lược sử
Talcott Parson(1902-1979) là nhà xã hội học người Mỹ, nổi tiếng với lý thuyết hệ thống
xã hội, lý thuyết hành động, có công lớn trong việc giới thiệu Weber với xã hội học Mỹ: ông
đã dịch cuốn “Đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản” năm 1930.1931, ông đưa xã
hội học vào giảng dạy ở trường Havard.Và trở nên nổi tiếng từ khi xuất bản sách”Cấu trúc
của hành động xã hội” năm 1937.
Với tư cách là nhà khoa học tổ chức, sáng lập ra “Khoa các quan hệ xã hội” ở trường
đại học tổng hợp Havard năm 1946.Parson là tác giả của khoảng 270 ấn phẩm nghiên cứu
trong đó có công trình xã hội học quan trọng như “Hệ thống xã hội”(1951), “Tiến tới một lý
thuyết tổng quát về hành động” (1951).
Lý thuyết hệ thống-hành động:
Parson sử dụng khái niệm cấu trúc và hệ thống gần như tương đương nhau.Khái niệm
cấu trúc nhấn mạnh các yếu tố tạo thành khuôn mẫu, định hình hệ thống một cách tương đối
ổn định.Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất
định, được hình thành vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung
quanh.
Về mặt lý thuyết, Parson xem xét hệ thống trong một trục toạ độ ba chiều : chiều cấu
trúc, chiều chức năng, chiều kiểm soát.
Parson phân biệt ít nhất 4 cấp độ và thông qua quá trình xã hội hoá, hành động của con
người hình thành và biểu hiện trên các cấp độ hệ thống từ cấp hành vi của cơ thể lên cấp
nhân cách, cấp xã hội và cấp văn hoá. Đặc điểm của từng cấp độ hệ thống:
THUYẾT TƯƠNG TÁC BIỂU TRƯNG
1.Một số luận điểm gốc:
Nguồn gốc:xuất phát từ các quan niệm xã hội học của M. Weber, G.Simmel, R.Park.
Tác giả nổi bật: C.H.Cooley, G.H.Mead, H.Blumer, E.Goffman.
Tên gọi của thuyết là “tương tác luận biểu trưng” do Blumer đưa ra năm 1937.
Nội dung của luận điểm gốc:
Xã hội được tạo thành từ sự tương tác của vô số các cá nhân, bất kì hành vi và cử chỉ
nào của con người đều có vô số các ý nghĩa khác nhau, hành vi và hoạt động đó phụ thuộc
đó không những phụ thuộc mà còn thay đổi với các ý nghĩa biểu trưng.
Tư tưởng của Simmel:
Xã hội được tạo thành từ vô số các “nguyên tử xã hội” là các mối tương tác xã hội.
Tương tác xã hội phụ thuộc vào số lượng thành viên của nhóm.
Kế thừa và phát triển tư tưởng trên, W.Thomas và F.Zanniecki đã phát triển thành
trường phái Chicago-cái nôi của thuyết tương tác biểu trưng:
3
-Định lý Thomas: “nếu người ta xác định tình huống một cách thực tế thì kết quả hành
động của họ cũng thực tế”.
-Nghiên cứu của W. Wund về ý thức, vai trò của yếu tố ngôn ngữ, trí nhớ đối với các
quá trình trải nghiệm bên trong của con người.
-Quan niệm của W.James về “dòng ý thức”.
-Watson cho rằng tâm lý học hành vi là một “cành nhánh” của khoa học thực nghiệm
khách quan của khoa học tự nhiên với mục tiêu nghiên cứu là dự báo và kiểm soát hành vi.
-Thorndike phát hiện một số quy luật quan trọng của hành vi.
2. Lý thuyết tương tác “ba ngôi” của George Mead.
G.H.Mead (1863-1931), nhà triết học thực chứng, nhà tâm lý học hành vi xã hội, nhà xã
hội học người Mỹ.
Tác phẩm chính : Tâm trí, tôi và xã hội.
Phương pháp tiếp cận:
Xây dựng và phát triển các khái niệm “cái tôi”, “nhân cách”, “tương tác”, “biểu tượng”,
“bản ngã”, “nhân cách”, “tri giác”
4
Kết luận: Cái tôi là một cấu trúc xã hội đặc thù này sinh, phát triển trong mối tương tác
xã hội với người khác và với chính bản thân mình.
Khái niệm “biểu tượng”:
Mead đã đưa ra định nghĩa “biểu tượng” (symbol) theo kiểu chủ nghĩa hành vi:
Biểu tượng là một loại kích thích mà phản ứng đáp lại nó đã được đem lại từ trước.
• Tương tác XH?
Là là hình thức giao tiếp xh hay trao đổi giữa cá nhân và các cộng đồng, trong đó mối
quan hệ qua lại của chúng được thực hiện. Hành động xh được diễn ra và đạt được sự thích
ứng của một hành động này với một hành động khác, qua đó cũng còn tìm thấy cái chung
trong sự hiểu biết tình huống, ý nghĩa hành động, nhằm đạt được mức độ hợp tác nhất định
hoặc sự đồng tình giữa chúng.
• Những nội dung cơ bản của lý thuyết tương tác biểu trưng và lý thuyết trao đổi
Xh.
+ Lý thuyết tương tác biểu trưng:
- Các cá nhân trong quá trình tương tác với nhau không phản ứng đối với các hành
động trực tiếp của người khác mà cố gắng “đọc” và lý giải chúng. Người ta thường hay tìm
những ý nghĩa gắn cho các hành động và cử chỉ đó, tức là biểu trưng.
- Để hình thành những biểu trưng của tương tác, trước hết cá nhân phải ý thức một cách
rõ ràng về một hành động, cử chỉ, phát ngôn, chữ viết hay hình ảnh nào đó. Sau đó cá nhân
sẽ quy gán cho chúng những ý nghĩa xác định, dần dần những ý nghĩa quy gán này sẽ được
nhiều người thừa nhận và chúng ta có một biểu tượng tương tác. Trước khi trở thành biểu
tượng chung cho một nền văn hóa hay của cả nhân loại, chúng chỉ là biểu tượng tương tác
của một tiểu văn hóa.
- Các biểu tượng có một đặc điểm chung là chúng mang những ý nghĩa nhất định và tạo
ra sự phản ứng giống nhau ở các cá nhân. Ý nghĩa của biểu tượng không trùng với ý nghĩa
trực tiếp của những cái thể hiện chúng.
- Trong tương tác biểu trưng và phân tích một mô hình tương tác biểu trưng cần hết sức
chú ý đến biểu tượng, ký hiệu, cử chỉ, khi “đọc” và “giải thích” về hành động của người
- HĐXH diễn ra lặp đi lặp lại mới tạo ra tương tác. Mức độ bền vững của tương tác phụ
thuộc số lần hành động xh diễn ra trong khoảng thời gian mà các đối tượng giao tiếp xh với
nhau.
- Khuynh hướng hoặc tính chất của HĐXH quyết định khuynh hướng của tương tác xh.
Thay lời tạm kết: Những hàm ý thực tiễn
Xã hội học là một khoa học về xã hôi, vì thế mọi người ở mọi lĩnh vực và cấp độ hoạt
động đều có thể và nên vận dụng vào cuộc sống, cho nên những hàm ý của mọi tri thức xã
hội chắc chắn thể hiện ra ở mọi cấp độ. Trên giá nhiều cửa hàng sách, ta luôn thấy cả loạt
những cuốn dạy ta hiểu cách sống (tức là cách quan hệ với người khác) trong hôn nhân và
gia đình. trong thương trường và nơi làm việc. Người ta cũng dạy cả cách cư xử với chính
bản thân mình nữa. Khi tư vấn cho ta, những tác giả ấy đề cập vấn đề từ cấp độ triết học đến
những kỹ năng cụ thể. Đằng sau mọi phiên bản đa dạng của những cuốn sách kiểu ấy, cái
chung của chúng là triết lý về hành động xã hội. Ấy là đối tượng ("công việc") duy nhất của
chúng ta, những con người, là hành động của mình và của người khác và hành động xã hội
có nghĩa là những "ý nghĩa" gắn với hành động. Do đó, hãy cố gắng hiểu (thông điệp) hành
động của người khác và đưa ra (thông điệp) hành động của mình một cách "đúng" và lương
tác hành động tuân theo và (đồng thời) tạo ra những khuôn mẫu, hiển nhiên chúng là sự câu
thúc (hạn chế, định hình) hành động của chúng ta, nhưng cũng có thể (và thực ra là như vậy)
chỉ là "khung tham khảo". Nghĩa là ta cần và có thể "làm khác đi", "vượt lên" chúng coi
chúng là "nguồn lực" của hành động chứ không phải là cái "lồng sắt” (chữ dùng của Weber)
phải tuyệt đối tuân thủ. Từ khóa then chốt của những cuốn giáo trình về cách sống này là
"tích cực", "thay đổi", "khác đi".
Điều đúng với cấp độ cá nhân thì cũng đúng với mọi cấp độ trên cá nhân: gia đình, tổ
chức, cộng đồng, thiết chế, Nhà nước, dân tộc, loài người. Vì thực ra ở cấp độ nào dù lớn
đến đâu thì đơn vị tác nhân vẫn là những cá nhân cụ thể.
Theo quan sát của tác giả bài viết, hiện nay nhiều chương trình giảng dạy và giảng viên
môn xã hội học hoặc những lĩnh vực liên quan đến xã hội học vẫn dựa trên những mặc định
tư tưởng và tập quán đã bị vượt qua trên thế giới từ vài thập niên trước (quá nhấn mạnh vào
quy luật, cấu trúc tính tất yếu ). Về mặt học thuật, chỉ nói đến khía cạnh này thì hoàn toàn
học chưa gây được sự quan tâm của xã hội. Mặt khác, chất lượng của các công trình nghiên
cứu này cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Một số nhà nghiên cứu mải chạy theo các dự án
để tăng thu nhập mà ít quan tâm tới chất lượng nghiên cứu. Đây cũng là thực trạng chung
của các nghiên cứu ở Việt Nam. Sản phẩm nghiên cứu xong để cất vào tủ, ít được (và khó
được) áp dụng trong thực tiễn.
VAI TRÒ VÀ SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TRONG NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC
Một trong những "hòn đá tảng" quyết định thành công của một nghiên cứu khoa học là
LÝ THUYẾT. Chọn lý thuyết nào? Sử dụng và vận dụng vào một trường hợp cụ thể như thế
nào? Đó là điều luôn luôn thách thức các nhà nghiên cứu nghiêm túc nhất. Xahoihoc.info xin
trân trọng giới thiệu quan điểm của Th.S Nguyễn Văn Đáng trong bài viết "Vai trò và sự vận
dụng lý thuyết trong nghiên cứu xã hội học". Mời quý vị và các bạn cùng tham khảo và thảo
luận.
1. Đặt vấn đề.
Bất cứ một lĩnh vực khoa học nào cũng phải có lý thuyết. Nghiên cứu khoa học là phải
dựa trên cơ sở lý thuyết và sản phẩm cuối cùng, quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học
chính là các lý thuyết
[
1]. Tri thức lý thuyết - những luận điểm khoa học được khái quát lên từ
[
7
thế giới tự nhiên và xã hội mà con người đang sống - là sự chắt lọc từ hàng ngàn nghiên cứu
thực nghiệm, là sự kêt tinh trí tuệ của nhiều thế hệ các nhà khoa học. Đến lượt mình, mỗi nhà
khoa học lại sử dụng lý thuyết để làm điểm tựa cho các nghiên cứu và sự đóng góp của họ
cho khoa học (nếu có) chính là sự bổ sung vào kho tàng lý thuyết. Bởi vậy, hàng năm, khi
công bố danh sách các nhà khoa học đoạt giải Nobel thi tên tuổi của họ luôn gắn liền với một
lý thuyết nào đó mới được công bố. Trong các chương trình đào tạo, trình độ càng cao (Th.s;
TS) thì khối lượng kiến thức lý thuyết mà sinh viên phải nghiên cứu càng lớn. Nền tảng lý
thuyết vững vàng là yêu cầu tất yếu đối với những người làm khoa học, nhất là những ai theo
đuổi thiên hướng nghiên cứu hàn lâm. Bài viết này sẽ trình bày quan điểm cá nhân của tác
tượng này phổ biến đến mức có cảm giác một bộ phận cán bộ nghiên cứu đã bỏ quên chức
năng chinh của nhà khoa học (scientists - sản xuất tri thức) để làm thay chức năng của nhà
lập chính sách (policy makers – xây dựng chính sách). Hậu quả của tình trạng này là sự thiếu
vắng các công trình nghiên cứu lý luận có thể trở thành dấu mốc cho sự phát triển của khoa
học xã hội học ở Việt Nam.
Hai là : trong các trường đại học đào tạo xã hội học, người ta chủ yếu trình bày nội
dung các lý thuyết cho sinh viên chứ chưa dạy họ cách vận dụng lý thuyết như thế nào trong
một nghiên cứu cụ thể. Do đó, ở phần lý luận, sinh viên cứ trình bày K. Mark nói rằng,
[
8
Durkheim và Weber cho rằng hay Talcott Parson nói rằng…. nhưng đến phần phân tích, lý
giải và đề xuất chính sách thì người đọc lại không thấy bóng dáng tinh thần của các lý thuyết
đâu cả. Thay vào đó, các phân tích còn nặng về mô tả mà ít sự nghiền ngẫm, phân tích theo
chiều sâu. Sinh viên cũng không được khuyến cáo về nguồn gốc châu Âu của các lý thuyết
xã hội học. Họ được giới thiệu và hiển nhiên áp dụng vào nghiên cứu xã hội Việt Nam cứ
như là các lý thuyết đó được sinh ra ở Việt Nam. Các nghiên cứu kiểm định lý thuyết hoàn
toàn không được đề cập đến trong các buổi thuyết trình của chuyên gia tại các cơ sở đào tạo.
Ba là : Có thể chia lý thuyết xã hội học ra thành hai bộ phận: lý thuyết xã hội học đại
cương (tổng quát) và lý thuyết xã hội học chuyên biệt. Cùng là các khuynh hướng lý thuyết
(thuyết chức năng, thuyết xung đột, thuyết tương tác biểu trưng, thuyết nữ quyền, thuyết sự
lựa chọn hợp lý…) nhưng khi vận dụng vào các lĩnh vực khác nhau thì nội dung các lý
thuyết cũng có những điểm khác nhau. Chẳng hạn, cùng là thuyết cấu trúc chức năng nhưng
nội dung của thuyết này sẽ thay đổi theo từng lĩnh vực nghiên cứu, đó có thể là thuyết chức
năng về gia đình, về biến đổi xã hội hoặc về tội phạm và tệ nạn xã hội…vv. Trong các
chương trình đào tạo xã hội học, sinh viên được giới thiệu khá kỹ về các khuynh hướng lý
thuyết tổng quát nhưng phần lý thuyết chuyên biệt gắn với từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể
còn tỏ ra hạn chế. Theo tôi, đây chính là căn nguyên của tình trạng, sinh viên chỉ trình bày
những nét chung chung của lý thuyết đại cương mà không thể vận dụng lý thuyết, thậm chí
vận dụng sai lý thuyết trong nghiên cứu cụ thể của mình. Chẳng hạn, có NCS đã vận dụng
quan điểm của Randal Collin và K.Mark để nghiên cứu và giải quyết tranh chấp nảy sinh
9
lý thuyết xã hội học trả lời câu hỏi: tại sao lại như vậy? Chẳng hạn, tại sao người ta lại
nghiện hút? tại sao lại có sự phân tầng xã hội hoặc bất bình đẳng giới?. Ở góc độ khác,
“nghiên cứu thực nghiệm (experimental research) là hoạt động thu thập dữ liệu về các sự
kiện xã hội, tương tác xã hội, quá trình xã hội… và lý giải các vấn đề đó theo những nguyên
tắc đã được quy định chặt chẽ”. Giữa lý thuyết và thực nghiệm tồn tại một mối quan hệ độc
lập bởi hai lý do sau đây:
- Thứ nhất : Lý thuyết là cơ sở, là điểm tựa của thực nghiệm và ngược lại, kết quả
nghiên cứu thực nghiệm được sử dụng để củng cố, bác bỏ hoặc điều chỉnh các lý thuyết.
- Thứ hai : dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm sẽ trở nên vô nghĩa, vô giá
trị nếu không có lý thuyết để phân tích và lý giải. Nói cách khác, các phân tích kết quả thực
nghiệm chỉ có chất lượng khoa học khi nó dựa trên một hướng tiếp cận lý thuyết nhất định.
Trong xã hội học, việc sử dụng lý thuyết nào và bao nhiêu lý thuyết phụ thuộc vào chủ
đề, đề tài nghiên cứu cũng như cách thức mà tác giả tiếp cận vấn đề đó. Thông thường, mỗi
một nghiên cứu các tác giả chỉ áp dụng một lý thuyết, tức là một cách lý giải vấn đề. Chẳng
hạn, hãy lấy tình trạng nghiện hút ở thanh thiếu niên làm ví dụ. Mối quan tâm chính của các
nhà xã hội học là: tại sao họ lại nghiện hút? Lý giải vấn đề này có thể có nhiều cách khác
nhau. Những người áp dụng thuyết kiểm soát xã hội sẽ quan tâm đến vai trò kiểm soát của
các thiết chế xã hội (gia đình – nhà trường – nhóm thành viên – cơ quan làm việc). Họ có thể
lập luận rằng người ta nghiện là do khả năng tự kiểm soát kém và thiếu vắng sự kiểm soát từ
phía các thiết chế nêu trên. Ngược lại, những người áp dụng thuyết bắt chước xã hội lại chỉ
quan tâm đến các mối quan hệ xã hội, môi trường xã hội mà cá nhân thường xuyên tiếp xúc.
Họ cho rằng: người ta nghiện là do có quan hệ với những người nghiện, bắt chước thái độ và
hành vi của họ. Hoặc là, cùng quan tâm lý giải hiện tượng phân tầng xã hội, trong khi lý
thuyết của K.Mark tập trung vào các yếu tố kinh tế thì mô hình của Max Weber lại mở rông
ra các yếu tố chính trị và văn hóa xã hội. Như vậy, mỗi lý thuyết sẽ lý giải vấn đề theo một
cách khác nhau. Vấn đề là tác giả chọn cách tiếp cận nào? Mark và Weber (xung đột) hay T.
Parson và R. Merton (cấu trúc - chức năng). Sẽ rất khó khăn, thạm chí thật là khôi hài nếu
như tác giả vận dụng cả quan điểm xung đột và quan điểm cấu trúc - chức năng trong nghiên
cứu của minh.
trình đó cùng các nhà lập chính sách chuyên nghiệp (policy makers) chứ họ không thể chỉ
dựa trên một nghiên cứu của mình để đưa ra chính sách cụ thể và khuyến nghị các cơ quan
quản lý nhà nước thực hiện.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC
1. Kỹ thuật xây dựng bảng hỏi
Khái niệm
Bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi được sắp xếp, sắp đặt theo một nguyên tắc nhất định
(lô gic, tâm lý…) mà trong đó nộ dung các câu hỏi thể hiện được vấn đề - mục đích – nghiên
cứu của người thiết lập – nghiên cứu đề tài khoa học.
Vai trò của bảng hỏi trong nghiên cứu xã hội học
Bảng hỏi là một công cụ đắc lực cho việc nghiên cứu xhh thực nghiệm.
- Thể hiện bên ngoài của giả thuyết cũng như các mục tiêu của đề tài nghiên cứu
- Công cụ quan trọng cho việc thu thập thông tin thực tế.
- Bảng hỏi là phương tiện để chứa đựng và lưu trữ các thông tin. Từ đó tạo cơ sở cho
việc thực hiện các bước xử lý kết quả - đo đạc định lượng.
Chức năng của bảng hỏi
- Đáp ứng được nhu cầu điều tra trong nghiên cứu xhh thực nghiệm.
- Kiểm tra sự am hiểu của người hỏi
- Kiểm tra tính trung thực của người trả lời
- Chức năng tâm lý: tạo ra sự hứng thú, xóa bỏ các rào cản tâm lý, giảm bớt sự căng
thẳng, nói cho người trả lời.
Các loại câu hỏi
- Câu hỏi đóng
- Câu hỏi nội dung
- Câu hỏi mở
- Các lọa câu hỏi khác(ma trận, …)
Câu hỏi theo nội dung
Dạng câu hỏi về các khía cạnh của thực tế xã hội mà thông tin thu được từ các câu hỏi
tương ứng.
Ưu điểm
- Người đọc tự do trả lời cái gì mà họ muốn, họ nghĩ.
- Giúp người nghiên cứu thấy được những suy nghĩ khác nhau của nhiều đối tượng trả
lời khác nhau.
- Rất phù hợp với nghiên cứu những hiện tượng còn chưa được hiểu một cách đầy đủ.
- Dùng câu hỏi mở trong nghiên cứu thử để kiểm tra tính đầy đủ và chất lượng của câu
hỏi đóng.
Nhược điểm
- Các câu trả lời trong câu hỏi mở có nhiều nghĩa khác nhau, gây khó khăn cho việc
xử lý thống kê. Đôi khi không xử lý được với trường hợp người trả lời dùng từ đa nghĩa.
2. Bố cục bảng hỏi
Gồm ba phần
- Phần mở đầu: Thông báo tên và bảng hỏi, tên người hay cơ quan tổ chức nghiên
cứu và trả lời giới thiệu.
- Phần nội dung: gồm tất cả các câu hỏi nhằm thu thập thông tin chủ yếu cho đề tài.
- Phần kết thúc: một số câu hỏi phụ hoặc một vài câu hỏi nhằm đi ra khỏi cuộc tiếp
xúc.
PHỎNG VẤN SÂU
1. Phỏng vấn là gì?
12
Là một phương pháp thu thập thông tin xã hội học thông qua việc tác động tâm lý xã
hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề
tài nghiên cứu.
Nguồn thông tin trong phỏng vấn là tất cả các câu trả lời của người được phỏng vấn
thể hiện quan điểm, ý thức, trình độ của trả lời và toàn bộ hành vi của họ.
Người đi phỏng vấn cần căn cứ vào hai nguồn thông tin này để xác định chính xác
câu trả lời và sau đó tiến hành ghi chép. Khi có mâu thuẫn giữa trả lời và hành vi thì ta phải
đưa ra câu hỏi phụ để xác minh độ chính xác của thông tin.
2. Phân loại phỏng vấn
- Phỏng vấn sâu
cần thiết khác. Bảng hướng dẫn cần được xây dựng dựa trên các mục tiêu nghiên cứu và các
giả định nghiên cứu nhằm phát hiện những mối quan hệ và những nguyên nhân sâu xa của
hiện tượng cần nghiên cứu.
+ Một khung sơ lược thành viên tham gia phỏng vấn/thảo luận. Mô tả đặc tính của
những đối tượng được mời tham gia thảo luận và phỏng vấn sâu.
13
+ Bảng hướng dẫn để xác định cho những người thực hiện phỏng vấn sâu. Hướng dẫn
thảo luận nhóm cũng đưa ra các yêu cầu:
- Giới thiệu một nội dung và yêu cầu nghiên cứu. Giải thích cho những người tham gia
phỏng vấn/thảo luận biết rằng những quan điểm trao đổi sẽ được giữ bí mật.
- Giới thiệu tên cán bộ nghiên cứu và yêu cầu các thành viên tham gia giới thiệu về
mình.
- Giải thích và đề nghị cho phép ghi âm để nghe lại.
Trong một số thảo luận nhóm có thể xây dựng một câu chuyện mang tính thăm dò.
Chuỵện này được chuẩn bị như là một câu chuyện giúp thảo luận sâu và thăm dò các ý kiến
về nội dung nghiên cứu một cách khái quát nhất và thăm dò các quan điểm khi chúng ta
không hỏi về họ mà hướng chú ý của các thành viên vào câu chuyện của người khác để họ
nói lên quan điểm của mình.
- Khác với phỏng vấn sâu chỉ cần một cán bộ trực tiếp phỏng vấn, thảo luận nhóm tập
trung cần hai cán bộ nghiên cứu tham gia. Một cán bộ nghiên cứu chính làm người hướng
dẫn và một người trợ giúp.
+ Hướng dẫn phỏng vấn cần phải có phần linh động để cho phép người điều hành chủ
động trong công việc của mình. Nhưng những hướng dẫn đó cũng phải thật chính xác để
đảm bảo cho các cuộc phỏng vấn nhóm khác nhau đều thực hiện như nhau để có thể so sánh
được.
+ Tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung đòi hỏi rất nhiều kỹ năng và
tính bền bỉ. Những người điều hành giỏi thiết lập mối quan hệ với nhóm và giúp họ thấy
thoải mái ngay từ đầu cuộc thảo luận. Người điều hành cần biết đầy đủ về các vấn đề sẽ tìm
hiểu nhưng không nhất thiết phải là nhà khoa học xã hội. Người điều hành tốt là cốt yếu cho
sự thành công của phỏng vấn nhóm, anh ta chắc chắn cần được đào tạo và đánh giá trước khi
ghi âm.
- Khuyến khích người tham gia thảo luận trả lời hết ý kiến:
+ Thực hiện linh hoạt các chỉ dẫn thảo luận nhóm
+ Duy trì giao tiếp bằng mắt
+ Ủng hộ một cách tích cực
+ Sử dụng ngôn ngữ cử chỉ
+ Các cố gắng không sử dụng từ “tại sao”?
- Điều chỉnh cuộc phỏng vấn:
+ Thay đổi từ của các câu hỏi chính
+ Thay đổi trật tự của câu hỏi chính
+ Thăm dò
+ Giữ yên lặng
+ Nhắc lại lời
+ Giả ngây ngô
+ Các ví dụ
+ Hỏi về xúc cảm và cảm giác
1. Phỏng vấn không cấu trúc
Là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu xã hội. Khi sử dụng
phương pháp này nghiên cứu viên phải nhớ một số chủ đề cần phỏng vấn và có thể sử dụng
một danh mục chủ đề để khỏi bỏ sót trong khi phỏng vấn. Nghiên cứu viên có thể chủ động
thay đổi thứ tự của các chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được
phỏng vấn.
Phỏng vấn không cấu trúc giống như nói chuyện, làm cho người được phỏng vấn cảm
thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đề phỏng vấn. Điều cốt yếu quyết định sự thành
bại của phỏng vấn không cấu trúc là khả năng đặt câu hỏi khơi gợi một cách có hiệu quả, tức
là khả năng kích thích người trả lời cung cấp thêm thông tin.
- Ưu điểm của PVKCT: Cho phép nghiên cứu viên linh hoạt thay đổi cấu trúc phỏng
vấn tùy theo ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng. PVKCT đặc biệt có ích trong những
trường hợp khi mà NCV cần phỏng vấn những người cung cấp thông tin nhiều lần, trong
vẫn cho phép độ linh hoạt cần thiết để thảo luận các vấn đề mới nảy sinh.
- Dễ dàng hệ thống hoá và phân tích các thông tin thu được
Nhược điểm: Cần phải có thời gian để thăm dò trước chủ đề quan tâm để xác định chủ
đề nghiên cứu và thiết kế câu hỏi phù hợp
3. Phỏng vấn có cấu trúc hoặc hệ thống
Là phương pháp phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau. Thông tin thu
được bằng phương pháp này có thể bao gồm cả các con số và các dữ liệu có thể đo đếm
được. Các phương pháp này được coi là một bộ phận trong nghiên cứu định tính vì chúng
giúp cho việc mô tả và phân tích các đặc điểm văn hóa và hành vi của đối tượng nghiên cứu.
Các phương pháp này nhằm phát hiện và xác định rõ các phạm trù văn hóa thông qua
sự tìm hiểu “những quy luật văn hóa” trong suy nghĩ của cá nhân, tìm hiểu xem họ nghĩ và
biết gì về thế giới xung quan họ và cách họ tổ chức các thông tin này như thế nào.
Liệt kê tự do (Free listing)
Tách biệt và xác định các phạm trù cụ thể. NCV yêu cầu đối tượng liệt kê mọi thông tin
mà họ có thể nghĩ tới trong một phạm trù cụ thể. Ví dụ, khi tìm hiểu kiến thức về các bệnh
lây truyền qua đường tình dục ta có thể yêu cầu đối tượng liệt kê tên của các bệnh đó hoặc
liệt kê các con đường lây nhiễm HIV
Phân loại nhóm
Phương pháp này tìm hiểu kiến thức của đối tượng về các phạm trù khác nhau và mối
liên hệ giữa chúng. Ví dụ, NCV có thể yêu cầu đối tượng phân loại các bệnh của đường sinh
dục và các bệnh lây qua đường tình dục hoặc phân loại những tiếp xúc không gây lây nhiễm
HIV và những tiếp xúc có thể làm lây nhiễm.
Phân hạng sử dụng thang điểm
16
Là phương pháp rất phổ biến trong khoa học xã hội. Các thang điểm thường được sử
dụng để phân hạng các khoản mục trong một phạm trù nào đó. Thang điểm có thể là một dẫy
số có thể là đồ thị.
Ví dụ: Khi tìm hiểu kiến thức của cá nhân về các biểu hiện của bệnh AIDS, sau khi đưa
ra danh sách của một số triệu chứng NCV có thể sử dụng thang điểm để xác định hiểu biết
của đối tượng và yêu cầu đối tượng khoanh vào số mà theo bạn biểu thị mức độ trầm trọng
Phỏng vấn nhóm không chính thức
Ví dụ phỏng vấn các nhóm tự nhiên như nhóm thành viên gia đình, nhóm đàn ông uống
trà trong quán, nhóm phụ nữ đi khám bệnh
Phương pháp này dùng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc hoặc phỏng vấn tự do
Phương pháp phỏng vấn nhóm không có trọng tâm dễ dàng thực hiện nhưng ít có tính
hệ thống do đó khó sử dụng để so sánh giữa các nhóm. Phương pháp này có giá trị đối với
các can thiệp đã được lập kế hoạch từ trước.
PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT
17
Phương pháp phỏng vấn cung cấp các thông tin về quan niệm, thái độ, giá trị và hành vi
tự thuật của đối tượng. Các phương pháp quan sát cung cấp thông tin về hành vi thực cho
phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu.
Người ta có thể quan sát trực tiếp các hành vi thực tế hoặc có thể quan sát các dấu hiệu
của hành vi. Đôi khi chỉ có thể quan sát gián tiếp dấu hiệ phản ảnh hành vi. Ví dụ muốn
nghiên cứu hành vi sử dụng bao cao su trong số gái mãi dâm, NCV không thể trực tiếp quan
sát hành vi thực tế sử dụng bao cao su như thế nào. Cũng không thể chỉ dựa vào câu trả lời
của các cô gái mãi dâm về số bao cao su mà họ đã sử dụng. Do đó NCV có thể đếm số bao
cao su được vứt trong các thùng rác sau mỗi buổi sáng hay sau một khoảng thời gian nhất
định nào đó.
Các hình thức quan sát
Quan sát tham gia/ hoặc không tham gia
Quan sát công khai/ hay bí mật
Giải thích rõ mục tiêu của quan sát/ hoặc không nói rõ về mục đích thực của quan sát
cho đối tượng bị quan sát biết
Quan sát một lần/Quan sát lặp lại
Quan sát một hành vi/Quan sát tổng thể
Quan sát thu thập số liệu định tính, mở và mô tả/Quan sát thu thập số liệu định lượng
dựa trên danh mục các điểm cần quan sát.
CHỌN MẪU TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Vì không có đủ thời gian và nguồn lực để có thể phỏng vấn hoặc quan sát từng cá nhân
Lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Bảng. Các loại chiến lược chọn mẫu
Kiểu chọn mẫu Mục đích
1. Chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên: Có tính đại diện, cỡ mẫu là một hàm số của độ tin
cậy mong muốn.
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn: Cho phép khái quát hóa kết quả từ mẫu tới quần thể nghiên
cứu mà nó đại diện
Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hoặc mẫu chùm: Tăng mức độ tin cậy trong việc đưa
ra các khái quát hóa cho từng phân nhóm cụ thể hay từng vùng cụ thể
2. Chọn mẫu không ngẫu nhiên hay chọn mẫu có mục đích: Chọn các trường hợp co
nhiều thông tin cho nghiên cứu sâu. Số lượng và trường hợp cụ thể phụ thuộc vào mục đích
nghiên cứu.
Chọn đối lập hay chọn lệch: Tìm hiểu từ các biểu hiện đi lệch một cách khác thường
của các hiện tượng ta đang quan tâm
Chọn với cường độ mạnh: Cung cấp nhiều thông tin từ một vài trường hợp mà có nhiều
đặc điểm của hiện tượng mà ta đang quan tâm (nhưng không phải là trường hợp quá lệch)
Chọn mẫu với mức độ đa dạng tối đa (chọn một cách có chủ định một khoảng thay đổi
rộng của các đặc điểm ta quan tâm): Ghi chép các trường hợp duy nhất hay các sự biến đổi
khác nhau mà có thể giúp xác định được các mô hình thông thường mật độ thông thường khi
tiến hành nghiên cứu ngang qua sự thay đổi đó
Chọn mẫu đồng nhất: Tập trung vào các đối tượng có đặc điểm giống nhau đơn giản
cho việc phân tích, giúp đỡ cho việc phỏng vấn nhóm.
Chọn trường hợp điển hình: Làm rõ hay nhấn mạnh cái gì là điển hình, thông thưòng và
trung bình
Chọn mẫu có mục đích phân tầng (chọn người cung cấpthông tin từ các tiểu nhóm đối
tượng mà ta quan tâm) Minh họa các đặc điểm của từng nhóm cụ thể ta quan tâm; hỗ trợ cho
việc so sánh.
Chọn trường hợp, địa điểm nghiên cứu, sự kiện, cá nhân mà giúp nhấn mạnh một lý
thuyết nào đó và thu thập thông tin đến mức tối đa khi các nguồn lực có hạn có thể làm hạn
chế số địa điểm nghiên cứu hay cỡ mẫu chung.
kiểm tra về chất lượng câu hỏi đó.
+ Nhược điểm: Kết quả trả lời rất khác nhau điều đó gây khó khăn lớn cho việc xử lý
thống kê, đôi khi người ta không thể xử lý được (người trả lời dùng các từ đa nghĩa), muốn
xử lý bắt buộc phải thêm thao tác phân tích nội dung.
- Câu hỏi đóng: là loại câu hỏi có sẵn các phương án trả lời trước.
Cần đặc biệt lưu ý tới các câu hỏi bị tác động bởi ý thức chủ quan của người trả lời (câu
hỏi mở, câu hỏi đánh giá); câu hỏi hồi cố, các phương án câu hỏi đóng (số lượng và xếp đặt
trật tự của các phương án); câu hỏi kiểm tra và các câu hỏi lọc.
1. Câu hỏi mở
Độ chính xác của thông tin thu được từ dạng câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào trình
độ hiểu biết, ý thức cá nhân và tâm trạng của người trả lời. Cho dù có ưu điểm nổi trội là
đem lại thông tin đa chiều, có thể đem lại nhiều phát hiện mới mẻ, thú vị mà người nghiên
cứu chưa lường hết được. Tuy nhiên câu hỏi mở lại gây ra rất nhiều khó khăn từ khâu khai
thác thông tin cho đến ghi chép và xử lý số liệu. Để tận dụng được hết những ưu điểm cũng
như hạn chế tối đa những nhược điểm của câu hỏi mở thì đòi hỏi điều tra viên phải là người
có kinh nghiệm và kỹ năng tốt, biết khơi gợi để đối tượng được hỏi đưa ra hết tất cả những ý
kiến xung quanh vấn đề nghiên cứu đồng thời phải biết cách ngắt khi người trả lời bắt đầu
lan man, ngoài ra cần có khả năng ghi chép đầy đủ, chính xác và khách quan những thông tin
thu được, cần loại bỏ hoàn toàn những yếu tố chủ quan của người hỏi trong quá trình tiếp
nhận thông tin từ phía người trả lời.
Thông thường câu hỏi mở được sử dụng trong các phỏng vấn sâu với mục tiêu hiểu biết
kỹ, tỷ mỷ về hiện tượng nghiên cứu. Phỏng vấn viên phải được lựa chọn kỹ càng và trong
hầu hết các trường hợp, người xây dựng nghiên cứu sẽ trực tiếp đi hỏi để đạt hiệu quả cao
nhất trong việc thu thập thông tin.
2. Câu hỏi mong muốn, đánh giá
20
Đánh giá và mong muốn của con người thường rất hay thay đổi, thậm chí ngay trong
quá trình của cuộc nói chuyện, cuộc phỏng vẫn, người trả lời có thể thay đổi ý kiến của
mình, có trường hợp thay đổi ý kiến đến một vài lần. Hơn nữa, mong muốn, đánh giá thường
Việc sử dụng cách diễn đạt nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu sẽ có tác
động tích cực đến tâm lý người trả lời, tăng độ chính xác, đầy đủ của thông tin.
Ví dụ: Có thể sử dụng các cụm từ như: “Hãy dành thời gian trả lời câu hỏi này ” hoặc
“Độ chính xác của câu trả lời này rất quan trọng ” hoặc “Hãy dành ít nhất 30s suy nghĩ
trước khi trả lời câu hỏi này ”
4. Các phương án câu hỏi đóng
Do đảm bảo được tính khuyết danh và không mất nhiều công sức khi người trả lời chỉ
việc đánh dấu vào những phương án lựa chọn, tuy nhiên cũng cần phải lưu ý một số điểm khi
sử dụng câu hỏi đóng.
Thứ nhất, các phương án của câu hỏi đóng cần phản ánh đầy đủ các chiều cạnh của hiện
tương nghiên cứu nhằm giúp người được hỏi có thể lựa chọn được phương án phù hợp với
mình.
21
Thứ hai, các phương án đưa ra phải được liệt kê theo một hệ thống logic nhất định, các
phương án có thể đối lập nhau nhưng tránh trường hợp phương án này bao hàm phương án
khác.
Thứ ba, các phương án trả lời cũng không nên quá dài, tạo ra tâm lý chán nản, mệt mỏi
khiến người trả lời đánh dấu bừa bãi cho xong.
Thứ tư, cần có hướng dẫn cụ thể trong việc trả lời với câu hỏi đóng lựa chọn (chỉ chọn 1
phương án) hay câu hỏi đóng tùy chọn (có thể chọn nhiều phương án, chọn tối đa 3 phương
án ) để tạo thuận lợi cho cả người trả lời cũng như người nhập số liệu và xử lý thông tin.
Cuối cùng, để tránh việc trùng lặp do tâm lý của người trả lời, có thể đánh dấu điểm bắt
đầu đọc các phương án trả lời một cách ngẫu nhiên, điều này thường được áp dụng trong các
bảng hỏi nghiên cứu thị trường.
5. Câu hỏi kiểm tra
Với một số thông tin quan trọng, nên sử dụng câu hỏi kiểm tra để đảm bảo chắc chắn độ
tin cậy của thông tin mà người trả lời cung cấp. Tuy nhiên, cần sử dụng một cách khéo léo và
tế nhị nếu không người được hỏi sẽ dễ có tâm lý khó chịu khi bị hỏi đi hỏi lại về cùng một
vấn đề, thậm chí cảm thấy bị xúc phạm do không được tin tưởng.
Ví dụ:
quan hệ nhân quả giữa các nhóm chỉ báo. Phương pháp này được sử dụng trong những
trường hợp phải xử lý một lượng thông tin lớn.
* Yêu cầu đối với phương pháp phân tích tài liệu: Đòi hỏi phải phân tích có hệ thống.
Phải phân loại, lựa chọn, khái quát, so sánh thông tin từ tài liệu.
4. Những ưu, nhược điểm của phương pháp
- Ưu điểm: Sử dụng tài liệu có sẵn, ít tốn kém về công sức, thời gian kinh phí, không
cần sử dụng nhiều người.
- Nhược điểm: Tài liệu ít được phân chia theo những dấu hiệu mà ta mong muốn, do
đó khó tìm được nguyên nhân cũng như mối quan hệ qua lại của các dấu hiệu. Số liệu thống
kê chưa được phân bố theo các cấp độ xã hội khác nhau. Những tài liệu chuyên ngành đòi
hỏi phải có chuyên gia có trình độ cao.
23