NGHIÊN CỨU
KHÓA HỌP LẦN THỨ BẨY
KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
Tác động xã hội của hội nhập kinh tế quốc
tế và gia nhập WTO ở Việt Nam
GS.TS. Trịnh Duy Luân
Viện trưởng Viện Xã hội học
TS. Nguyễn Xuân Mai
Đà Nẵng, ngày 26 và 27 tháng 2 năm 2008
Mục lục
Tác động xã hội của hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập
WTO ở Việt Nam
MỞ ĐẦU 3
TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ GIA NHẬP WTO Ở VIỆT NAM. 4
1.1. Hội nhập KTQT đã và đang góp phần đổi mới thể chế và nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước
và trở thành một động lực cho quá trình phát triển đất nước :
4
1.2. HNKTQT làm gia tăng mức sống của các nhóm dân cư và hỗ trợ công cuộc giảm nghèo 6
1.3. HNKTQT đang làm gia tăng sự phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã hội 9
1.4. Vấn đề việc làm, quan hệ lao động, di cư trong quá trình HNKTQT: 12
MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH:
18
2.1 - Lựa chọn ưu tiên các mục tiêu phát triển: 18
2.2 Cần tiếp tục đổi mới thể chế và nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước phù hợp với
tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến đổi xã hội và với điều kiện của một nền kinh tế thị trường 19
2.3 - Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn dân phù hợp với quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang
nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và quá trình HNKTQT 19
2.4. Xã hội hóa các dịch vụ xã hội cơ bản, nhưng đảm bảo việc tiếp cận dễ dàng đối với các nhóm xã
hội yếu thế
20
3 /
hiện nay.
HNKTQT đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, đồng thời đã và đang tác động
trực tiếp và gián tiếp, tích cực lẫn tiêu cực, phức hợp và đa diện, về mặt xã hội. Những tác
động này có thể tương tác với các tác động kinh tế, chính trị với những hệ quả tích hợp.
Tác động xã hội của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có thể được phản ánh gián tiếp
thông qua tác động của quá trình này đến tăng trưởng kinh tế, từ đó thúc đẩy sự phát triển
con người, làm gia tăng mức sống, giảm nghèo, phân tầng xã hội, hay góp phần làm biến
đổi cơ cấu kinh tế và qua đó biến đổi cơ cấu xã hội, tác động đến quản lý kinh tế và xã
hội, đến sự thay đổi thể chế và công nghệ và làm biến đổi con người và các nhóm xã hội
về tư duy, về hành vi kinh tế và xã hội, về tác phong làm việc hay tác động trực tiếp đến
quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các tổ chức kinh tế và xã hội, đến bất bình đẳng xã
hội, cũng như đến xóa đói giảm nghèo, đến quan hệ xã hội về lao động như làm tăng sự
hợp tác cũng như nguy cơ xung đột giữa lao động Việt nam với giới sử dụng lao động
nước ngoài, tăng cơ hội tiếp cận với y tế, giáo dục chất lượng cao, tăng khả năng di cư và
di chuyển lao động hay tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc duy trì và bảo vệ các giá trị
và di sản văn hóa truyền thống…
HNKTQT thúc đẩy sự gia tăng mức sống, giảm nghèo, nhưng cũng làm gia tăng
sự phân tầng xã hội giữa các giai tầng, nhóm xã hội, giũa các vùng miền. Hội nhập cũng
tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các nhóm nghề nghiệp xã hội theo các ngành hàng,
4 /
23
nhóm sản phẩm, các khu vực kinh tế, vừa làm tăng trưởng số việc làm trong một số lĩnh
vực và địa phương, vừa mang lại rủi ro thất nghiệp cho nhiều người, cho sự phá sản
nhiều doanh nghiệp. Sự tập trung dòng vốn FDI vào các vùng kinh tế trọng điểm, các
thành phố lớn sẽ làm gia tăng rộng khoảng cách phát triển giữa các vùng, tạo sức hút
mạnh mẽ các dòng di cư từ nông thôn vào thành thị, góp phần tăng cường lực lượng sản
xuất, nhưng cũng làm căng thẳng thêm tình trạng quá tải và nhiều vấn đề xã hội tại các đô
thị. Những mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động, giới chủ và người lao
động cũng sẽ phức tạp hơn trong quá trình tăng trửơng nhanh đầu tư nước ngoài. Hiện
tượng đình công trở nên phổ biến hơn và có thể tạo ra những bất ổn xã hội và kinh tế. Hội
quá trình phát triển đất nước :
Trên tầm vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách đã xây dựng những đường hướng
chiến lược quan trọng để giải quyết các tác động xã hội của hội nhập kinh tế quốc tế như
5 /
23
Chiến lược toàn diện tăng trưởng và giảm nghèo, Kế hoạch phát triển KTXH 2006-2010,
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững, Chương trình hành động của Chính phủ
hậu WTO
Quá trình đổi mới thể chế, với sự hỗ trợ của các đối tác song phương, đa phương và
tổ chức quốc tế, đã tạo động lực quan trọng để Việt nam có được nhiều tiến bộ quan trọng
trong việc đạt các mục tiêu phát triển như đã đạt được 5 trong mười mục tiêu MDG chính
cho năm 2015 và trên đà đạt 4 mục tiêu khác trước thời hạn. Nhiều lĩnh vực chính sách
liên quan đến các khía cạnh xã hội được đánh giá có nhiều tiến bộ rõ rệt trong giai đoạn
2001-2005 như y tế, giáo dục, đất, nước, hạ tầng cơ sở, phát triển khu vực kinh tế tư
nhân (theo tài liệu chương trình PRCS 5). Đánh giá về thể chế và chính sách quốc gia của
WB (CPIA) cũng cho thấy Việt nam đạt được điểm số cao hơn trung bình trong khu vực
trong hầu hết các chỉ tiêu về quản lý kinh tế vĩ mô và hòa nhập xã hội. Các điểm số thấp
hơn trung bình trong khu vực là trong khu vực tài chính, lao động và an sinh xã hội, tính
minh bạch và chống tham nhũng (1,2006).
Trong phạm vi từng lĩnh vực, còn nhiều chính sách, bộ luật chưa phù hợp với thực tiễn
xã hội, tác động sâu sắc đến nhiều nhóm xã hội, đặc biệt các nhóm xã hội yếu thế. Điều
đó tạo nên những bất ổn xã hội biểu hiện qua khiếu kiện đông người, đình công lan rộng
trong một thời gian ngắn và tập trung ở các khu công nghiệp, hiện tượng nghèo đói tập
trung ở một số vùng, ở những nhóm dễ bị tổn thương bởi thiên tai, dịch bệnh, sự bất bình
đẳng gia tăng
Chẳng hạn, các chính sách đất đai hướng vào khuyến khích những doanh nghiệp đầu
tư trong các khu công nghiệp, đô thị hơn là bảo vệ lợi ích thỏa đáng và lâu dài của người
dân bị mất đất. Chênh lệch địa tô do chuyển quyền sử dụng đất mang lại chưa được xử lý
thoả đáng để hỗ trợ quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và tạo lập sinh kế bền vững cho
nông dân bị mất đất. Cần phải làm cho quyền sử dụng đất trở thành hàng hóa giao dịch
vào quá trình toàn cầu hóa ?
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đời
sống xã hội ?
1.2. HNKTQT làm gia tăng mức sống của các nhóm dân cư và hỗ
trợ công cuộc giảm nghèo
1.2.1. Hội nhập quốc tế đã tạo ra một động lực quan trọng cho tăng
trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế cao và liên tục một giai đoạn
dài trong quá trình Đổi mới và hội nhập quốc tế đã tạo cơ sở vững
chắc cho sự gia tăng mức sống. Đến lượt nó, sự gia tăng mức sống lại
làm tăng thêm mức tích lũy và tiêu dùng của dân cư, từ đó thúc đẩy
trở lại đối với tăng trưởng kinh tế.
Tiêu dùng quân đầu người tăng trung bình 5,5% trong 5 năm 2001-2005. Tỷ lệ tiết
kiệm trong nước so với tổng sản phẩm trong nước năm 2005 đạt 30,2%, trong đó tích lũy
từ khu vực dân cư và doanh nghiệp chiếm khoảng 24,2% (4, 2006).
Mức sống của người dân ở cả nông thôn và đô thị đã gia tăng nhanh chóng trong
quá trình Đổi mới và hội nhập quốc tế. Xem xét mức chi tiêu dùng bình quân đầu người
thực tế trong giai đoạn 1993-2004, theo giá cố định năm 1993, như trong bảng 2, ta thấy
chỉ số này tăng lên 1,75 lần ở nông thôn và 2,05 lần ở thành thị. Riêng trong 3 năm 2002-
2004, khoảng thời gian hội nhập kinh tế sâu rộng hơn trước, sau khi Hiệp định Thương
mại song phương (BTA) với Hoa kỳ phát huy hiệu lực, mức chi tiêu dùng bình quân đầu
người thực tế tăng 1,18 lần ở nông thôn và 1,12 lần ở thành thị. Đó là một tỷ lệ gia tăng
mức sống cao và tỷ lệ tăng của nông thôn đã cao hơn thành thị.
Bảng 1: Chi tiêu dùng bình quân đầu người thực tế theo nhóm thành thị,
nông thôn 1993-2004 (1.000VNĐ, giá tháng 1/1993)
1993 1998 2002 2004
Nông thôn 1114 1472 1649 1945
Thành thị 2124 3280 3884 4359
Nguồn: Tính toán trên cơ sở số liệu của các cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình 1993, 1998, 2002,
2004 của TCTK. Trích trong (3, 2007)
7/2
Long
Hộ đánh giá sự thay đổi mức sống so với 3 năm trước (%)
* Như cũ, ít thay
đổi
37,9 22,1 35,0 48,5 30,6 43,5 46,7 34,2 47,2
* Khá hơn 53,8 59,5 61,9 49,9 60,0 50,1 49,0 54,8 42,4
* Kém hơn 8,3 18,4 3,1 1,5 9,4 6,4 4,3 11,0 10,4
Nguồn: 2, 2007
Khi so sánh sự thay đổi mức sống so với 3 năm trước thời điểm điều tra, khoảng
trên 50% số HGĐ cho là “khá hơn trước”, gần 40% cho là “không thay đổi nhiều” và gần
10% cho là giảm sút, kém hơn trước. NghĨa là đa số hộ gia đình tự đánh giá đã có sự gia
tăng mức sống, hoẶC duy trì được mức sống ổn định và chỉ một bộ phận nhỏ bị suy giảm
mức sống trong khoảng thời gian 3 năm. Ở Đồng bằng sông Hồng, số hộ đánh giá là mức
sống kém hơn là 18,4%, ở Đông Nam bộ 11% và Đồng bằng sông Cửu Long 10,4%, Bắc
Trung bộ 9,4%. Có vẻ như ở những vùng mà kinh tế phát triển hơn, thỠ SỰ TỎC động
khuynh đảo của thị trường tới đời sống người dân mạnh hơn và sự không hài lŨNG
CŨNG CÚ Ở MỘT TỈ LỆ LỚN Hơn.
Trong khi đó, ở các vùng miền núi, tỉ lệ hộ cho rằng đời sống kém hơn lại rất nhỏ:
chỉ có 3,1% ở Đông Bắc, 1,5% ở Tây Bắc và 4,3% ở Tây Nguyên. Ở các vùng này, tỉ lệ hộ
cho là mức sống khá hơn cũng cao tương ứng: 35% ở Đông Bắc, 48,5% ở Tây Bắc và
46,7% ở Tây Nguyên. RỪ RàNG Là TỠNH HỠNH đời sống chung của dân cư các vùng
miền núi được cải thiện hơn đáng kể do mặt bằng mức sống xuất phát điểm ở các vùng
này là thấp và mức độ nhạy cảm cao hơn với các tác động can thiệp như XĐGN.
Biểu đồ 1: Đánh giá của các hộ về sự thay đổi mức sống trong 3 năm qua (%)
100%
80%
8
18
3
2
Hong
Trung
bo
Trung
bo
Nguyen
Nam
bo
Cuu Long
3
Khong
thay
doi Kha hon
Kem
hon
8 /23
Nguồn: 2, 2007
Tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp cũng đang tăng nhanh nhờ
tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế (biểu hiện qua làn sóng đầu tư nước ngoài và sự
thành lập mạnh mẽ các doanh nghiệp trong những năm gần đây). Mức tăng lương trên thị
trường lao động Việt Nam đang tăng cao, từ 8% năm 2004 lên 9,5% năm 2005 và 12,3%
năm 2006 (xem hộp 1).
HỘP 1
06/05/2007 DAN TRI.COM.VN
Cuộc khảo sát của Navigos Group cho thấy mức tăng lương (thu nhập thực
tế) trên thị trường lao động Việt Nam đang ở một tốc độ chóng mặt. Nếu
như năm 2004 con số này là 8% và 2005 là 9,5% thỠ đến 2006 đÓ VỌT
LỜN 12,3%. Điều đáng chú ý nữa là nếu như trong các năm 2004, 2005,
chỉ số tăng lương so với chỉ số lạm phát và GDP chỉ ở mức một chín một
các
doanh
nghi ệ
p t
ăng m
ạnh
trong
thời g
i an
gần
đây
dẫn
đến cu
ng
cầu
lực chính để giảm nghèo ở Việt Nam.
Trong vòng 11 năm (1993-2004) đã có khoảng 24 triệu người thoát nghèo đói,
trong đó một nửa thoát đói nghèo trong giai đoạn 1993-1998 và nửa còn lại trong giai
đoạn 1998-2004. Tỷ lệ nghèo năm 2004 (19,5%) chỉ bằng một phần ba so với năm 1993
(58,1%). Giảm nghèo trong giai đoạn 1993-2004 là rất rõ ràng và không phụ thuộc vào
chuẩn nghèo. Mức thiếu hụt của những người nghèo trong chi tiêu dùng của họ so với
chuẩn nghèo cũng giảm đi đáng kể trong giai đoạn này. Các chỉ số phi thu nhập, phản ánh
các mặt xã hội của cuộc sống trong các hộ gia đình cũng được cải thiện đáng kể trong giai
đoạn trên. Thành tựu giảm nghèo đó có được phần lớn nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao: ”một phần trăm tăng trưởng của GDP tính trên đầu người đã giúp giảm tỷ lệ nghèo
xuống 0,55 và 0,49 điểm phần trăm tương ứng trong hai giai đoạn 1993-1998 và 1999-
2004” (3, 2006).
Mặt khác, các doanh nghiệp FDI, với hiệu quả kinh tế cao, đã gia tăng mạnh mẽ
việc đóng góp nguồn ngân sách nhà nước (từ 0,2 triệu USD năm 1995 lên tới gần 1,5 tỷ
USD hiện nay). Từ đó tạo cơ sở quan trọng để Nhà nước tăng chi tiêu ngân sách cho các
lĩnh vực xã hội, (chiếm 30% tổng ngân sách), trong đó có các dịch vụ xã hội cơ bản như y
tế, giáo dục, hay XĐGN, hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn. Riêng Chương trỡnh 135 hỗ trợ
9 /23
2.374 xã đặc biệt khó khăn, trong giai đoạn 1999-2004, được ngân sách trung ương đầu
tư 7.227,7 tỷ đồng, đã xây dựng được 22 ngàn công trình CSHT, 528 trung tâm cụm xã,
góp phần giảm tỷ lệ nghèo của các xã này từ 60% năm 1999 xuống 23,5% năm 2004 .
Nguồn vốn ODA trong quá trình hội nhập quốc tế cŨng góp phần quan trọng vào
giảm nghèo. Với 24,7 tỷ USD đã ký hiệp định, giải ngân được 15,8 tỷ USD, hoạt động
ODA tập trung vào phát triển hạ tầng KTXH, hoàn thiện thể chế, xóa đói giảm nghèo. Vì
vậy một bộ phận người nghèo, những nhóm xã hội yếu thế đã được hưởng lợi, nâng cao
được ý thức và năng lực quản lý, cải thiện và bảo vệ môi trường. ODA đÓ GÚP PHẦN
QUAN TRỌNG THỲC đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn kết hợp xoá đói giảm
nghèo thông qua các dự án, trong đó nguồn vốn ODA đÓ GIỲP NỤNG DÕN NGHèo tiếp
cận nguồn tín dụng để tạo ra các ngành nghề phụ, hỗ trợ phát triển công tác khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, thuỷ lợi, cung cấp nước sạch,
dùng giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất. Nếu năm 1993, chi tiêu dùng của các
hộ giầu nhất gấp 5 lần so với các hộ nghèo nhất, thì năm 2004, khoảng cách này đã tăng
lên 6,3 lần. Tỷ lệ của nhóm giầu nhất trong tổng chi tiêu dùng xã hội tăng từ 41,8% năm
1993, tăng lên 44,7% năm 2004, trong khi đó tỷ lệ này của nhóm nghèo nhất lại giảm
tương ứng từ 8,4% xuống còn 7,1% cùng thời kỳ(3,2007)
10 /
23
Bất bình đẳng giữa các vùng trong quá trình tăng trưởng kinh tế cũng ngày càng
gia tăng. Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng Tây bắc, Tây nguyên ( hai vùng tập trung đồng bào
dân tộc thiểu số), Bắc trung bộ, đồng bằng sông Cửu long gấp 4,5 lần tỷ lệ hộ nghèo
chung của cả nước.
Nếu so sánh bất bình đẳng về tài sản (nếu đo lường được, trong điều kiện hiện tại)
thì nhiều khả năng khoảng cách giữa nhóm giầu nhất và nghèo nhất có thể gia tăng gấp
nhiều lần so với đo lường bằng các chỉ báo chi tiêu hay thu nhập ở các nghiên cứu đã có.
Trong giai đoạn 1993-2004, gia tăng bất bình đẳng chung chủ yếu là sự gia tăng
bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn, mặc dù tầm quan trọng của nó trong bất bình
đẳng chung ngày càng giảm dần và sự bất bình đẳng nội vùng ngày càng cao và lớn hơn
sự bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn. Phân tích hệ số bất bình đẳng Theil L cho thấy:
nếu trong giai đoạn 1993-1998, 96% gia tăng bất bình đẳng ở Việt Nam là do gia tăng bất
bình đẳng giữa các vùng thành thị và nông thôn và chỉ có 4% là do bất bình đẳng trong nội
vùng nông thôn hoặc thành thị thì đến giai đoạn 1998-2004, tỷ lệ tương ứng là 39% so với
61% (3, 2007)
Tuy nhiên, phân tầng xã hội cũng tạo ra những cơ hội và kích thích những người
có năng lực, biết nắm bắt các cơ hội thị trường, vươn lên thành đạt hơn trên các thang bậc
xã hội. Nhiều doanh nhân trẻ, người lao động, trí thức đã trở nên giầu có, có vị thế xã
hội cao hơn trong quá trình HNKTQT và phát triển nền kinh tế thị trường. Tại các đô thị,
đã hình thành một nhóm xã hội giầu có, gắn với hiện tượng cư trú tách biệt và tập trung
tích tụ tài sản. Từ thực trạng sở hữu cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, VnExpres
ngày 23/1/2007, căn cứ vào các bảng cáo bạch của gần 150 công ty, đã cho biết: ”Tổng
giỏ trị tài sản của 650 cỏ nhõn sở hữu cổ phiếu, bao gồm các cổ đông sáng lập, những
1,91 năm 1993 lên 2,24 năm 2004.
Tác động của FDI về mặt xã hội còn được thể hiện trong vấn đề sử dụng đất (phần
lớn là đất nông nghiệp). Kết quả là một bộ phận không nhỏ nông dân bị mất đất canh tác,
hay một bộ phận dân đô thị mất sinh kế quen thuộc, phải chuyển đổi nghề nghiệp hoặc tái
định cư.
Hiện nay diện tích đất do người nước ngoài (trong đó có các doanh nghiệp FDI) sử
dụng chiếm khoảng 35.105 ha. Tuy nhiên, ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến vấn đề sử
dụng đất lớn hơn con số này rất nhiều. Hội nhập quốc tế kích thích tăng trưởng kinh tế,
mở rộng đô thị, phát triển mạnh mẽ hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, gia tăng số
lượng các khu công nghiệp, khu đô thị.
Hộp 2
Theo thống kờ cuả Cục Hợp tỏc xó và Phỏt triển nụng thụn ( Thuộc Bộ Nụng
nghiệp và Phỏt triển nụng thụn ) hiện nay, trung bỡnh mỗi hộ nụng dõn cú 1,5 lao
động và mỗi hecta đất bị thu hồi sẽ ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động
nông nghiệp. Như vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở trong 5 năm qua đó
tỏc động tới đời sống của 627.495 hộ gia đỡnh, khoảng 950 ngàn lao động và 2,5
triệu người. Trong đó, vùng Đồng Bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng đất lớn
nhất, với khoảng 300 000 hộ; Đông Nam Bộ với khoảng 108 000 hộ. (Molisanet 7-
8-07)
Hội nhập quốc tế sâu rộng hơn có làm gia tăng bất bình đẳng xã hội?
Sau khi gia nhập WTO, quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ngày một sâu rộng
hơn, chẳng hạn vốn FDI trong 9 tháng đầu năm 2007 đã đạt 9,6 tỷ USD, xấp xỉ năm 2006
và dự kiến sẽ đạt 13 tỷ USD vào cuối năm nay. Điều đó sẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
nhanh hơn, với tốc độ tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm nay đạt 8,3%, cao nhất trong
10 năm qua. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tất yếu sẽ làm thay đổi nhiều về mặt
xã hội, trong đó có thể làm gia tăng bất bình đẳng xã hội bởi sự chênh lệch trong đầu tư
FDI giữa các vùng, bởi cơ hội việc làm và thu nhập là khác nhau giữa nhiều nhóm xã hội,
sự khác biệt về quyền lực, vốn xã hội, về vốn vật chất, vốn tài nguyên, vốn tài chính, vốn
con người giữa các nhóm này, tạo ra các cơ hội sinh kế khác nhau giữa họ. Các nhóm
nông dân thiếu đất hay bị mất đất canh tác, bị tổn thương bởi thiên tai, dịch bệnh, hay các
Hiện nay, ở khu vực thành thị thường xuyên có khoảng 588 nghìn người thất
nghiệp và trên 33 triệu lao động ở khu vực nông thôn chỉ có việc làm trong khoảng bốn
phần năm thời gian lao động. Hằng năm Việt nam phải giải quyết việc làm cho khoảng
trên 1,5 triệu người, trong đó khoảng hơn 1 triệu việc làm mới.
Một tác động tích cực quan trọng nhất về mặt xã hội của FDI là tạo việc làm và cải
thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề
việc làm và nâng cao chất lượng lao động ở nước ta. Đến nay, đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho trên 1 triệu lao động và khoảng 3-4 triệu lao động gián
tiếp, thu hút khoảng 5% số lao động mới hàng năm (trong khoảng trên 1,2 triệu lao động
mới được giải quyết việc làm hàng năm), nếu tính cả lao động gián tiếp có thể đạt khoảng
20%, so với trung bình nhiều nước khoảng 10%, thì Việt Nam đạt loại trung bình khá (7,
2006) Hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật Việt Nam được nâng cao kỹ năng chuyên
môn hay có thể thay thế nhân viên nước ngoài trong quản lý điều hành sản xuất kinh
doanh, cũng như làm chủ công nghệ hiện đại.
Tuy nhiên cơ hội việc làm được phân bố không đồng đều do FDI tập trung vào
những ngành Việt Nam có ưu thế về lao động và thị trường như dệt may, da giầy, du lịch,
xe máy hoăc những ngành nước ta chưa hay không có ưu thế cạnh tranh về vốn và công
nghệ như khai thác dầu khí, viễn thông, ô tô, điện tử. Tình trạng thiếu lao động trong các
doanh nghiệp FDI tại các khu công nghiệp, các thành phố lớn đang diễn ra, do sự phân bố
không đồng đều FDI , sự cơ cấu lại về kinh tế của các địa phương và trình độ của lực
lượng lao động.
Vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đang là một trở ngại lớn trong quá trình phát
triển kinh tế, thu hút đầu tư nuớc ngoài và giải quyết việc làm.
Chiến lược phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước
ngoài dựa vào lợi thế nhân công rẻ có thể giúp giải quyết vấn đề việc làm trước mắt,
nhưng có thể không phát huy được vai trò trong trung và dài hạn, thậm chí có thể tạo ra
những trở lực cho phát triển.
13 /
23
động không giảm xuống, cả hiện nay và trong tương lai, thì nhiều hậu quả xã hội như bất
bình đẳng xã hội, mâu thuẫn, xung đột xã hội, tội phạm và tệ nạn xã hội, có thể sẽ gia
tăng mà tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đến đâu cũng không thể bù đắp nổi những tổn thất
và hệ lụy xã hội nói trên.
Câu hỏi thảo luân:
Vấn đề đặt ra là làm sao có thể phát triển một thị trường lao động ổn định và cả
người lao động cũng như giới sử dụng lao động đều có thể thỏa mãn về quan hệ lao động
giữa họ ? Có thể xây dựng các thể chế pháp lý và dân sự nào để bảo vệ lợi ích của họ
trong quan hệ với giới chủ, trong điều kiện Việt Nam ?
* Di cư dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế:
14 /
23
Quá trình hội nhập quốc tế (với sự gia tăng và tập trung nguồn lực FDI, ODA, kiều
hối, xuất khẩu lao động) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra lực hút mạnh mẽ từ các đô
thị, các vùng kinh tế trọng điểm, đã và đang kéo theo dòng người di cư đông đảo vào các
khu vực này. Di cư đang trở thành một “sinh kế” hay một bộ phận quan trọng trong chiến
lược sống của đông đảo người lao động nông thôn.
Khoảng 2,2 triệu người di cư đủ điều kiện đăng ký thường trú (tạm trú liên tục từ 1
năm trở lên và có chỗ ở hợp pháp) tại các thành phố lớn, trong đó chủ yếu là thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 cho thấy 89,1% các loại di cư đều có việc làm,
trong đó 98-99% người di cư, với lý do chuyển đến vì việc làm và lý do cải thiện điều kiện
sống, đã có việc làm. Gần một nửa lực lượng di cư hoạt động lao động giản đơn, 27%
hoạt động kinh doanh và nghề thủ công, 10,7% làm các công việc vận hành máy móc,
4,7% là chuyên gia và lãnh đạo các cấp hay 1,3% trồng trọt Khu vực kinh tế quan trọng
thu hút nam di cư là khu vực tư bản tư nhân, tập thể và nhà nước, kinh tế có vốn nước
ngoài. Còn đối với nữ di cư 45% tham gia khu vực kinh tế cá thể / tiểu chủ và một phần tư
cho khu vực FDI.
Đại đa số người di cư đều đạt mục tiêu kinh tế. Hai phần ba người di cư có thu
nhập cao hơn so với trước khi di cư, 12% cao hơn nhiều và 13% thu nhập không đổi, tỷ
23
Vấn đề đặt ra là làm sao điều tiết các dòng di cư như một sự dịch chuyển lực lượng
lao động để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo ở nông thôn và tạo cơ hội bình đẳng
và sự ổn định cuộc sống cho người di cư ở các đô thị và khu CN?
1.5 . Phát tr i
ển con
ngườ i
:
Việt Nam đang phát triển trong tiến trình hội nhập và chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN với mục tiêu trọng tâm là vì con người. Phát triển con
ngưòi VN đã đạt được những thành tựu nhất định, song cũng còn không ít vấn đề cần
phải tiếp tục giải quyết.
Trên bình diện quốc gia, các chỉ số phát triển con người trong giai đoạn 1999-2004,
giai đoạn mở rộng hội nhập quốc tế, bao gồm HDI, HPI, GDI đều đã được cải thiện đáng
kể. Các chỉ số cấu thành của HDI, HPI đều được cải thiện. Chỉ số HDI của Việt nam đã
tăng liên tục từ 0,611 năm 1992, lên 0,689 năm 1999 và 0,731 năm 2004. Chỉ số GDP
bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh nhất 19%, đóng góp 4,3 điểm % và đóng
góp hai phần ba vào tốc độ tăng của HDI.
Bảng 3: Tốc độ tăng HDI, giảm HPI và đóng góp của các chỉ số cấu thành
Chỉ
số
Chỉ số cấu
thành
1999 2004 Tốc độ tăng
HDI/giảm
HPI
Đóng
tác với các tổ chức quốc tế, các quốc gia về y tế (tiêm phòng, trang bị y tế, đào tạo cán
bộ ), phòng chống HIV/AIDS, dân số và KHHGĐ, giáo dục, nước sạch và VSMT đã góp
phần làm cải thiện tình hình giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân, làm tăng các chỉ số
về giáo dục và tuổi thọ.
Ba chỉ số cấu thành của HPI đều được cải thiện trong giai đoạn 1999-2004. Tỷ lệ
bần cùng về vật chất (P3) giảm mạnh nhất 8,5% xuống còn 21,3%. Đó là do giảm mạnh
cả tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, lẫn tỷ lệ người không được dùng nước sạch.
Mức độ nghèo khổ của Việt nam, qua chỉ số HPI đã giảm từ 21,1% năm 1999 xuống
15,1% năm 2004, khiến cho giảm nghèo trở thành lĩnh vực thành công nổi bật nhất của
Việt Nam trong hơn 2 thập kỷ qua. Hai chỉ số về tỷ lệ người không kỳ vọng sống đến 40
tuổi và tỷ lệ người lớn không biết chữ thì giảm ở mức độ chậm hơn .
Việc giảm mạnh tỷ lệ bần cùng về vật chất là do có sự đóng góp của các hỗ trợ
quốc tế qua các chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn, cũng như các chương
trình chăm sóc y tế đối với trẻ em. Tỷ lệ người dùng nước sạch ở cả nước tăng gấp đôi
trong 10 năm (1993-2002) từ 26,2% lên 48,5% (10, 2003). Riêng tỷ lệ người dùng nước
sạch nông thôn tăng từ 18,1% năm 1993 lên 39,6% năm 2002 và 54% năm 2003. Các
vùng nghèo nhất như vùng miền núi phía Bắc cũng nâng tỷ lệ dùng nước sạch từ 29% lên
48%, Tây Nguyên từ 31% đạt ngưỡng 46%, trong 5 năm 1999-2003. Vốn tài trợ quốc tế
cho chương trình nước sạch vệ sinh nông thôn chiếm 16% tổng vốn của chương trình
(787 tỷ đồng). Ngoài ra, nhiều chương trình tài trợ song phương cũng hướng đến việc
cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn và thành thị như các chương trình nước
Phần Lan, Việt Nam – Lucxemburg, Việt Nam-Hà Lan, … Phần vốn ngân sách nhà nước
trong Chương trình NS &VSNT là 18%, do có sự đóng góp ngân sách tăng cao của FDI
(13,2006).
Tuy nhiên tình hình cải thiện các chỉ số về giáo dục và tuổi thọ chỉ đạt ở mức thấp
hơn nhiều (chỉ bằng 1/8) so với chỉ số tăng trưởng kinh tế và đặt ra những vấn đề về tiếp
tục đẩy mạnh chỉ số phát triển con người. HNKTQT ngày càng sâu rộng, mà việc gia nhập
WTO phải đặt y tế và giáo dục là 2 ngành dịch vụ, việc đẩy mạnh xã hội hóa hai lĩnh vực
này liệu có làm giảm đi chỉ số phát triển con người trên 2 khía cạnh giáo dục và tuổi thọ?
Tiến bộ về Giới ở Việt Nam cũng đạt được ở mức nhất định. Năm 2004, chỉ số
Gia nhập WTO là sự đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của Việt nam, với kỳ vọng
đạt được nước có vị thế thu nhập trung bình trong vài năm tới (2010). Dù đó là nhiệm vụ
đầy cam go, trở ngại, nhưng Việt nam hoàn toàn có thể đạt được khi giải quyết thành
công những thách thức trên con đường phát triển. Con đường phát triển mới dù đang
rộng mở, nhưng Việt nam sẽ phải lựa chọn một cách khó khăn trong việc đánh đổi các
mục tiêu phát triển. Chẳng hạn, đó là việc giải quyết mâu thuẫn giữa việc hội nhập hoàn
toàn vào nền kinh tế toàn cầu để tận dụng triệt để các cơ hội thị trường và việc phải chịu
nhiều rủi ro hơn trước các biến động thị trường và suy thoái kinh tế đột biến, như các
nước châu A trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997. Điều đó cũng có nghĩa là lựa chọn
sự tăng nhanh thu nhập ở các vùng kinh tế trọng điểm và làm gia tăng sự nghèo khổ
tương đối ở các vùng khác, kéo doãng khoảng cách chênh lệch về thu nhập với các nhóm
xã hội khác, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số hay sẽ quyết định các chính sách điều
tiết giảm thiểu hiện tượng phân tầng xã hội. Một câu hỏi có liên quan đến vấn đề này là:
Việt nam đã cần phải hạn chế và hạn chế ở mức độ nào tốc độ tăng trưởng ``nóng`` hiện
nay, để củng cố các mục tiêu xã hội, mục tiêu con người, bảo đảm chất lượng tăng trưởng
và phát triển bền vững đúng như tôn chỉ mục đích của đất nước đã đặt ra từ nhiều thập kỷ
trước đây hay chưa ?
Có thể có nhiều cách tiếp cận để lựa chọn ưu tiên cho các mục tiêu phát triển.
Cách tiếp cận hướng đến sự phát triển với việc chú trọng chất lượng tăng trưởng hơn
là tốc độ và duy trì các thành tựu đã đạt được cần được lưu ý đến. Việc nâng cao hiệu
quả phân bổ các nguồn lực, còn khá hạn hẹp, trong quá trình phát triển cần được chú
trọng đầu tiên.
Quan điểm về „an dân“, về „công bằng xã hội“ chí ít phải được đặt ngang bằng, thậm
chí cần ưu tiên hơn so với quan điểm „thúc đẩy tăng trưởng kinh tế“, mà các chính sách
chỉ là những phương tiện thực hiện các quan điểm này Điều đó là cơ sở để thực hiện
định hướng XHCN trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta. Do vậy,
quan điểm trên cần có sự nhất trí cao trong việc hoạch định các chính sách, soạn thảo các
văn bản pháp qui và tổ chức thực hiện, trong toàn bộ hệ thống chính trị. Sự thiên lệch theo
hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong quá trình hoạch định hay tổ chức thực hiện
chính sách có thể tạo ra một bộ phận lớn các nhóm không được hưởng lợi ích công bằng
minh bạch và chống tham nhũng. Những chính sách được nêu trong mục 2.1 như chính
sách đất đai, đền bù, GPMB, luật lao động về đình công, thương lượng tập thể, luật cư
trú cần được điều chỉnh để điều hòa được lợi ích của tất cả các bên có liên quan, không
thiên lệch theo hướng khuyến khích đầu tư và tăng trưởng và tổ chức thực hiện, giám sát
việc thực hiện một cách nghiêm minh, nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Mặt khác khung
pháp luật cũng cần được xây dựng không chỉ phản ánh quá trình chuyển đổi nền kinh tế,
mà còn phải phản ánh mối quan hệ đang thay đổi giữa nhà nước và xã hội, trong đó bao
gồm cả khuôn khổ pháp luật cho các tổ chức xã hội dân sự để họ tham gia vào việc cung
cấp các dịch vụ và đảm bảo dân chủ ở cơ sở. Việc tăng cường tính thực thi và sự nhất
quán của các văn bản pháp luật cũng cần được chú ý. Việc tạo điều kiện dễ dàng để các
nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương có thể tiếp cận với các hỗ trợ pháp lý là một hướng cải
cách tư pháp.
Việc nâng cao hiệu quả của bộ máy nhà nước gắn liền với việc Cải cách hành chính
công, trong đó cần tập trung vào tái cơ cấu tổ chức theo hướng đơn giản hóa và làm rõ
chức năng, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện chính phủ điện tử, cải cách quản lý
và đào tạo cán bộ, công chức, nâng cao trách nhiệm và đạo đức công chức, cải cách tiền
lương, phân bổ ngân sách theo kết quả, Việc nâng cao trách nhiệm giải trình của các
cơ quan nhà nước, vai trò phản biện xã hội, giám sát xã hội của các tổ chức xã hội dân sự
và tăng cường sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng và nên thể chế hóa hoạt động
trưng cầu dân ý.
2.3 - Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn dân phù hợp với quá trình
chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN và quá trình HNKTQT
Giảm nghèo là một thành tựu đầy ấn tượng của Việt nam trong giai đoạn vừa qua,
nhưng tình trạng nghèo ngày càng tập trung vào nhóm dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, quá
trình HNKTQT, phát triển nền kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế cao, đẩy mạnh đô thị
hóa, CNH đang làm hình thành những nhóm nghèo mới, những nhóm nghèo “cơ cấu”, tạo
nên những cơn sốc rủi ro, tổn thương cho một bộ phận xã hội đông đảo như phá sản,
thất nghiệp, mất việc làm, tai nạn lao động, mất đất sản xuất, biến động giá cả thị trường,
cũng như các tổn thương về sức khỏe, mất lao động trụ cột là tai họa nghiêm trọng cho hộ
nguồn lực này. Việc xây dựng mã số BHXH cho các cá nhân có thể giúp sớm xây dựng hệ
thống BHXH toàn dân và giải quyết nhiều khó khăn khác về BHYT, di chuyển lao động và
nơi cư trú, nơi nhận BHXH
Về thị trường lao động, cần sớm tổ chức tốt việc thực hiện trợ cấp thất nghiệp, nhằm
chống đỡ các rủi ro của biến động kinh tế cho người lao động, cũng như việc xây dựng
một quĩ an sinh xã hội và chế độ trợ cấp thích hợp dành cho lao động dôi dư trong các
DNNN trong quá trình sắp xếp lại khu vực kinh tế này, đặc biệt là lao động ở các nông
lâm trường. Kinh nghiệm của việc giải quyết l20.000 lao động dôi dư trong các DNNN vừa
qua với việc ngân sách chi ra 300 triệu USD, đã được thực hiện khá tốt, và cần được phát
huy. Việc tạo điều kiện để duy trì khu vực kinh tế không chính thức ở nông thôn và thành
thị như một công cụ cần thiết để tạo việc làm, chống đỡ các rủi ro cũng cần được chú ý.
Xây dựng cơ chế khuyến khích và tạo điều kiện cho nhóm người tàn tật (khoảng 5 triệu ở
Việt nam) tham gia vào thị trường lao động và hòa nhập xã hội. Cần sớm xây dựng một
cơ chế thương lượng tập thể phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện đại.
2.4. Xã hội hóa các dịch vụ xã hội cơ bản, nhưng đảm bảo việc tiếp cận dễ
dàng đối với các nhóm xã hội yếu thế.
Yêu cầu của việc gia nhập tổ chức WTO là giáo dục, y tế được xem là các ngành kinh
tế dịch vụ. Bên cạnh đó như cầu xã hội và sự phát triển kinh tế đang đòi hởi phải nâng cao
chất lượng các lĩnh vực quan trọng này, đặc biệt khi đất nước đang vươn lên một nước có
vị thế thu nhập trung bình. Xã hội hóa là con đường phát triển và nâng cao chất lượng các
dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, khi thực hiện xã hội hóa các dịch vụ xã hội cơ bản, gánh
nặng chi phí sẽ ngày càng tăng quá mức chịu đựng của các nhóm xã hội yếu thế. Đây là
một mâu thuẫn phải xử lý và giải quyết phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực dịch vụ,
cũng như của từng loại đối tượng yếu thế.
21 /
23
*Về xã hội hóa giáo dục:
Cần đảm bảo miễn phí học tập đối với các cấp phổ cập giáo dục tại các trường
công lập, đồng thời khuyến khích phát triển hệ thống giáo dục tư nhân.
Để nâng cao chất lượng giáo dục nên thực hiện tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt
Dù đạt được những thành tựu ấn tượng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên kỷ,
cũng như làm gia tăng chỉ số phát triển con người, hiện tượng phân tầng xã hội (bất bình
đẳng xã hội) trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đang có xu hướng ngày càng tăng. Các
hoạt động miễn giảm chi phí y tế, chưa thực sự bảo vệ được người nghèo. Dù chính phủ
đã tăng chi cho cho y tế từ 5% ngân sách năm 2005 lên 8% ngân sách năm 2008, nhưng
do chi phí y tế ngày càng tăng cao bởi những thay đổi từ nhu cầu xã hội, cơ cấu bệnh tật
và dân số già đi, nên ngành y tế sẽ cần nhiều nguồn lực hơn nữa. Xã hội hóa ngành y tế
là con đường tất yếu để cung cấp thêm nguồn lực cho dịch vụ xã hội quan trọng này.
Cần có chiến lược mở rộng từng bước hệ thống BHYT cho toàn dân và chuyển
dịch việc tài trợ cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ cung sang cầu.
Khó khăn hiện nay là xác định mức phí hợp lý cho chương trình BHYT. Nếu tăng
phí cao để cân đối tài chính, chuyển gánh nặng cho người sử dụng lao động và người lao
động, có thể sẽ làm mất đi động lục chính thức hóa việc làm và sẽ dẫn đến giảm tỷ lệ
tham gia BHXH. Nên khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của các nhóm dân cư khác
22 /
23
nhau, sự thay đổi nhu cầu khi tham gia BHYT, chi phí thực tế của các dịch vụ và dự báo
xu hướng chi cho y tế để thiết kế chương trình BHYT cho phù hợp. Cần xây dựng cơ chế
thanh toán dịch vụ khuyến khích tiết kiệm chi phí, nhưng đảm bảo việc điều trị đầy đủ theo
bệnh lý. Nên xây dựng cơ chế đánh giá, phản hồi của người tiêu dùng dịch vụ, nhằm bổ
trợ cho việc theo dõi về chuyên môn. Xây dựng cơ chế để BHXH thành nhà mua sỉ trọn
gói BHYT, tạo sự cạnh tranh cung cấp dịch vụ y tế.
Bên cạnh đó, việc mở rộng diện tham gia chương trình BHYT tự nguyện phải có
sự tham gia rộng rãi của các tổ chức xã hội như Hội nông dân, Hội phụ nữ , nhằm đảm
bảo khả năng tài chính của chương trình. Nhà nước cần tiếp tục cung cấp kinh phí chăm
sóc sức khỏe cho đối tượng nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như phát
triển hệ thống y tế dự phòng ở các địa phương.
Cần nghiên cứu xây dựng quĩ y tế và cơ chế đối phó với các thảm họa ngày càng
có nguy cơ cao.
23 /