Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Môn : Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (học phần
2).
Sinh viên: Trần Đức Hải Mã sinh viên: 11131111
Lớp: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin 2 - 41
Đề tài: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về “Khủng hoảng kinh tế”
và sự vận dụng ở Việt Nam (liên hệ thực tế ở Việt Nam).
BÀI LÀM
Lời nói đầu
Năm 2008, thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế chưa
từng có trong lịch sử và hậu quả của nó vẫn còn kéo dài cho đến tận
ngày nay.Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ và không lâu sau lan rộng
ra khắp thế giới.Không ai có thể tưởng tượng được nền kinh tế số 1
thế giới lại suy sụp nhanh đến vậy và những hậu quả to lớn mà nó ảnh
hưởng đến thế giới trong đó có Việt Nam. Chính việc này đã cho em
nguồn cảm hứng để chọn đề tài “khủng hoảng kinh tế”.
Bài viết được chia thành 4 phần chính : khủng hoảng kinh tế là gì,
nguyên nhân, hậu quả, tính chu kì của khủng hoảng kinh tế,đặc điểm
của chu kì kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai, liên hệ thực tiễn ở
Việt Nam.
Bài viết dựa trên cơ sở kiến thức còn eo hẹp và chủ nghĩa Mác-Lê nin
của em kết hợp với tài liệu tham khảo bên ngoài nên còn nhiều sai
sót.Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài viết thêm hoàn
thiện.Em xin chân thành cảm ơn.
I.Khủng hoảng kinh tế là gì:
Khủng hoảng kinh tế là biểu hiện của sự mất cân đối trong phát triển
kinh tế cụ thể giữa các khu vực, các ngành, các khâu,cung-cầu, sản
xuất- tiêu dùng, hàng- tiền trong một thời gian dài mà không điều
chỉnh đượcgây ra các tác động tiêu cực đến kinh tế- xã hội trong
phạm vi rộng hoặc hẹp.Khi khủng hoảng nổ ra hàng hóa không tiêu
kinh tế. Thời kỳ Đình Trệ năm 1920-1922 và giai đoạn Đình Đốn Vĩ
Đại năm 1929-1933 đã tác động đến đời sống mọi giới con người.
Mùng 4 tháng 10 năm 1929 (“Thứ năm đen”), ở thị trường chứng
khoán Niu-Yoóc, giá chứng khoán giảm đi 60-70%.
Cùng lúc đó, nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của Mỹ đã sụp
đổ nhanh chóng. Đến cuối tháng, những người giữ cổ phiếu bị mất
hơn 15 tỷ đô-la, còn đến cuối năm giá chứng khoán sụt xuống 40 tỷ
đô-la – số tiền khổng lồ vào thời điểm đó. Ngay tiếp sau đó, khủng
hoảng bùng lên cả ở châu Âu. Vào năm 1933, ở những nước phát
triển có tới hơn 30 triệu người chính thức không có việc làm.
Khủng hoảng năm 1957-1958 lan tràn ra Mỹ, Canada và những nước
Tây Âu. Sản xuất công nghiệp thế giới giảm đi 4%. Kinh tế Mỹ vào
năm 1973-1974 bị thu hẹp lại và giống như trong thời kỳ Đình Đốn
Vĩ Đại. Khủng hoảng bao trùm toàn bộ châu Âu. Ở Anh giá chứng
khoán giảm đi 56%. Tình hình còn trầm trọng thêm vì khủng hoảng
dầu mỏ kèm theo, giá một thùng dầu tăng từ 3 lên thành 12 đô-la.
Ngày 19 tháng 10 năm 1987 được ghi nhớ ở lịch sử Mỹ là “Thứ hai
đen tối”. Trong vòng một ngày, chỉ số quỹ Dow Jones Industrial sụt đi
22,6%. Tiếp theo thị trường Canada và Úc bị sụt giảm, còn sở giao
dịch Hồng Kông nghỉ việc trong vòng một tuần.
Vào năm 1994-1995, khủng hoảng nổ ra ở Mêhicô, hai năm sau thị
trường quỹ của châu Á sụp đổ. Các chuyên gia kết luận rằng khủng
hoảng ở châu Á làm GDP thế giới giảm 2 ngàn tỷ đô-la. Một năm sau
Nga đã phải tuyên bố lạm phát và chấp nhận buông xuôi, vì món nợ
nhà nước quá lớn. Thị giá đồng Rúp sụt giảm, còn những người đầu
tư quay lưng lại với kinh tế Nga.
Khủng hoảng năm 2008 là khủng hoảng đầu tiên đối với chúng ta, nó
tác động đến nhiều mặt sản xuất trong nền kinh tế của Việt Nam như
tình trạng ổn định hòa bình trước kia.Đấu tranh không phải chỉ nổ ra
giữa những người sản xuất cá thể trong từng địa phương; những cuộc
đấu tranh địa phương đến lượt chúng, lại phát triển thành những cuộc
đấu tranh giữa các nước, thành những cuộc chiến tranh thương nghiệp
trong thê kỷ XVII và XVIII. Cuối cùng đại công nghiệp và sự tạo ra
thi trường thế giới đã làm cho cuộc đấu tranh lan rộng khắp nơi và
đồng thời đem lại cho nó một tính chất kịch liệt chưa từng thấy. Giữa
những nhà tư bản cá biệt cũng như giữa cả những ngành sản xuất và
giữa cà các nước, sự thuận lợi của những điêu kiện tự nhiên hoặc
nhân tạo của sản xuất quyết đinh sự sống còn của họ. Kẻ thất bại bị
loại trừ thẳng tay.Chính điều đó đã buộc các nhà tư bản cải tiến máy
móc, công nghệ sản xuất, phương thức tổ chức, quản lí để truy cầu giá
trị thặng dư và tồn tại. Việc này vô hình chung đã góp phần thúc đẩy
thêm mâu thuẫn thứ hai.
Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn
của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần
cùng hóa : Các nhà tư bản luôn theo đuổi giá trị thặng dư không có
giới hạn, đó là quy luật tuyệt đối trong chủ nghĩa tư bản và để làm
được điều đó nhà tư bản có khuynh hướng tích lũy, mở rộng, cải tiến
máy móc, công nghệ. Máy móc được cải tiến đồng nghĩa với việc sẽ
rút ngắn được thời gian sản xuất, tăng sản lượng,.... nhưng về bản chất
vẫn là tăng sức bóc lột người công nhân. Lao động thủ công của nhiều
người sẽ bị thay thế bằng một vài người sử dụng máy móc. Hậu quả là
có một bộ phận không nhỏ người công nhân bị thất nghiệp. Như vậy
vô hình chung máy móc đã trở thành công cụ của giai cấp tư bản để
chống lại người lao động, nó trở thành phương tiện chắc chắn nhất để
biến toàn bộ cuộc đời của người công nhân và của gia đình họ thành
thời gian lao động tiềm tàng để làm tăng thêm giá trị của tư bản. Tuy
Có thể thấy 3 mâu thuẫn trên liên hệ với nhau một cách có quy luật,
chúng cùng thúc đẩy nhau tạo nên khủng hoảng kinh tế trong chủ
nghĩa tư bản.
III.Hậu quả của khủng hoảng kinh tế:
Lực lượng sản xuất bị phá hoại và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông:
mỗi lần xảy ra khủng hoảng, hàng loạt xí nghiệp đóng cửa, quy mô
sản xuất bị thu hẹp lại, giá cả thị trường giảm sút mạnh, khối lượng
mậu dịch trong và ngoài nước bị thu hẹp lại, nhiều ngân hàng phải
đóng cửa, giá cổ phiếu hạ thấp.
Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung tư bản từ đó dẫn tới độc
quyền: khủng hoảng vừa là nguy cơ nhưng cũng là cơ hội cho những
nhà tư bản có tiềm lực mạnh, chiến lược tốt, tầm nhìn bao quát. Khối
lượng của cải trong xã hội đạt đến số lượng nhiều, những nhà tư bản
yếu kém sẽ bị thôn tính, kẻ mạnh sẽ sống sót và càng mạnh hơn. Từ
đó dẫn tới sự hình thành các nhà tư bản độc quyền hoặc các tổ chức
kinh tế độc quyền.
Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, mâu thuẫn giữa tư bản và lao
động ngày càng tăng.
Mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt.
IV.Tính chu kì trong khủng hoảng kinh tế:
Chu kì kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian là khoảng
thời gian nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vận động từ đầu cuộc khủng
hoảng này đến đầu khủng hoảng sau. Chu kì kinh tế gồm 4 giai đoạn:
khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.
- Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kì kinh tế mới. Ở
giai đoạn này hàng hóa ế thừa, dự trữ hàng hóa trong kho của các
xí nghiệp tăng lên, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp
đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống.
Cuộc cạnh tranh để tiêu thụ hàng hóa trở nên gay gắt, sản xuất bị
đạt được. Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp
được mở rộng và xây dựng thêm. Nhu cầu tín dụng tăng, ngân
hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá mức của
xã hội. Do đó lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế
mới.
V. Đặc điểm của chu kì khủng hoảng từ sau chiến tranh thế giới
thứ hai đến nay:
Khủng hoảng kinh tế không gay gắt như trước: Khủng hoảng kinh tế
1929- 1933 làm cho sản xuất công nghiệp ở các nước tư bản phát triển
trong thời gian này bị thụt lùi hàng chục năm. Nhưng từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai khủng hoảng kinh tế chỉ làm sản xuất công
nghiệp giảm tương đối nhẹ.
Vật giá leo thang trong khủng hoảng: thông thường khi khủng hoảng
xảy ra hàng hóa dư thừa, ế ẩm, giá cả tụt mạnh nhưng sau chiến tranh
vật giá chỉ giảm nhẹ và đặc biệt đến thập kỉ 60, 70 của thế kỉ XX thì
vật giá lại tăng mạnh, tốc độ tăng giá lên tới mức hai con số ở nhiều
nước. Đây là hiện tượng chưa hề có trong lịch sử phát triển của chủ
nghĩa tư bản trước chiến tranh.
Sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng trung gian, khủng hoảng cơ
cấu:
- Khủng hoảng trung gian là cuộc khủng hoảng nhẹ xảy ra giữa
hai cuộc khủng hoảng lớn. Ví dụ ở Mỹ trong khoảng thời gian từ
cuộc khủng hoảng 1948- 1949 đến cuộc khủng hoảng 19571958 có một cuộc khủng hoảng trung gian là khủng hoảng 19531954.
- Khủng hoảng cơ cấu là khủng hoảng xảy trong từng ngành, từng
lĩnh vực riêng biệt như:khủng hoảng năng lượng, nhiên liệu,
khủng hoảng dầu mỏ, khủng hoảng tiền tệ.Khủng hoảng cơ cấu
xảy ra là do tác động của khoa học công nghệ mở ra ngành sản
xuất mới đồng thời làm suy yếu những ngành nghề truyền thống;
thắt lưng buột bụng, mức độ mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu
…Việt nam là một trong những nước ảnh hưởng nặng trong hoạt
động xuất khẩu hàng hóa.
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
TIỀN(Triệu
USD)
Dầu thô
10450
Dệt May
9108
Da giầy
4697
Hải sản
4562
Lúa gạo
2902
Đồ gỗ
đã đưa mức lãi trần nhưng đều không đạt kết quả do các ngân hàng
thương mại không thực hiện triệt để. Nợ xấu ngân hàng ngày càng có
xu hướng gia tăng. Từ những lý do trên các doanh nghiệp khó, lại
càng khó hơn và số doanh nghiệp đã tự giác đóng cửa, tuyên bố phá
sản tăng 21,8% so với năm 2010 và công nhân là những nạn nhân
gánh hậu quả, thực tế là thất nghiệp ngày càng nhiều hơn. Doanh số
bán lẻ và tiêu dùng dịch vụ năm 2011 chỉ tăng 4% mức tăng thấp nhất
từ trước đến nay,
Bên cạnh đó, công tác nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt
Nam cũng không tốt hơn các doanh nghiệp xuất khẩu. Người lao động
thu nhập thấp hơn chi dùng, để giảm khó khăn cho sinh hoạt gia đình
người dân phải cắt, giảm chi tiêu, thất nghiệp trong xã hội gia tăng,
…làm cho những doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam ngần ngại trước
cuộc sống mà mức thu nhập của người dân thấp hơn so với mức tiêu
dùng hàng hóa, vậy giới hạn nhập khẩu hàng tiêu dùng của các doanh
nghiệp nằm trong một số mặt hàng cần thiết mà các nhà nhập khẩu
Việt Nam xác định giới hạn an toàn không bị lỗ, nhưng nhập mức độ
cầm chừng hoặc co cụm, hạn chế phát triển và mở rộng.
Từ xuất khẩu cho đến nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đều giảm,
gây khó khăn cho các doanh nghiệp làm dịch vụ, sản xuất các phụ liệu
đi kèm, hỗ trợ cho xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng như: bao bì, đóng
gói, vận chuyển… đều giảm, lượng hàng tồn kho tăng...
Trước tình hình đó, nhà nước và các doanh nghiệp cần có sự phối hợp
chặt chẽ để cùng giúp cho nền kinh tế phục hồi trở lại.
Lường trước sự khó khăn, hợp tác liên kết kinh doanh và tận dụng cơ
hội khai thác thị trường mới: trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu các
doanh nghiệp đều cố gắng thắt lưng, buộc bụng, tiết kiệm, kết hợp với
nhau vượt qua thời điểm khó khăn này, các doanh nghiệp thành lập
thị trường được đánh giá thiếu tính ổn định nhiếu năm qua. Như vậy
sau cơn khủng hoảng các doanh nghiệp vừa có thị trường truyền
thống vừa mở rộng thị trường mới quốc tế.
Nhà nước luôn theo dõi và đưa ra những định hướng hỗ trợ cho các
Doanh nghiệp :Đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu, quan tâm hơn
các kênh phân phối tại nước nhập khẩu, tổ chức hội chợ, quảng bá
thương hiệu, quảng bá hình ảnh của các doanh nghiệp Việt Nam. Bên
cạnh đó hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn mở các văn phòng đại diện ở
những thị trường lớn và tốt nhằm dễ nắm thông tin, xác định khách
hàng và tìm kiếm khách hàng, theo dõi tình hình thị trường, giảm
thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu, tiếp cận thị trường nhanh, khai thác
các lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và
xuất khẩu lợi thế cạnh tranh đó đến nước sở tại có lợi thế cạnh tranh
hơn.
Chính sách Nhà nước và Doanh nghiệp thắt lưng, buộc bụng, vượt
khó:Những khó khăn mà khủng hoảng toàn cầu mang lại đã làm cho
hoạt động xuất khẩu bị khó khăn, một số doanh nghiệp co cụm sản
xuất hoặc đóng cửa ngừng hoạt động và công nhân mất việc vì Doanh
nghiệp không có tiền trả lương, hàng bán chậm, vay ngân hàng đến
hạn không đáo hạn được …để các Doanh nghiệp không bị đình đốn
sản xuất, xuất khẩu, không bị vỡ hợp đồng do thiếu tài chính, Nhà
nước đã chỉ đạo các ngân hàng khoanh nợ, giãn nợ và tiếp tục cho
vay. Bên cạnh đó Nhà nước áp dụng hàng loạt biện pháp quyết liệt
nhằm kiềm chế lạm phát với chính sách tài khóa, giảm hạn mức cho
vay đầu tư bất động sản và chứng khoán, hạn chế lưu thông tiền mặt,
cho tạm hoãn, giãn tiến độ thi công một số công trình đầu tư xây dựng
cơ bản kém hiệu quả, tập trung vốn cho các công trình mang lại hiệu
quả kinh tế thấy được như: Nhà máy điện, Nhà máy lọc dầu…đồng
hào, nhìn lại thời điểm đó ( 2008- 2010) sản phẩm Việt Nam tràn đầy
các siêu thị , chợ từ nam chí bắc, thị trường nội địa rất dễ dãi và hiểu
được thời kỳ khó khăn, mỗi người có trách nhiệm góp sức mình,
dùng sản phẩm mình là yêu nước, người tiêu dùng hiểu được điều đó
thì các doanh nghiệp phải có trách nhiệm đảm bảo tốt sản phẩm, tôn
trọng người tiêu dùng. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong lúc khủng
hoảng này đồng thời góp sức bình ổn kinh tế, không để những biểu
hiện tiêu cực xảy ra trên thị trường.
Thông thoáng môi trường đầu tư : Kêu gọi doanh nghiệp trong nước
và doanh nhân nước ngoài thành lập doanh nghiệp và hoạt động phải
tốt hơn các doanh nghiệp đầu tư trước đó, nhằm thu hút vốn đầu tư và
nâng cao năng lực sản xuất mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và
các sản phẩm sản xuất, bình ổn thị trường, hạn chế lạm phát. Muốn
được như vậy ngay cả chính sách vĩ mô phải tạo thuận lợi cho nhà
đầu tư bên cạnh đó chính sách địa phương cũng thông thoáng từ khâu
thủ tục ban đầu, hệ thống cơ sở hạ tầng phải được đầu tư nâng cấp và
sửa chữa cho hoàn thiện, địa phương phải tạo nguồn nhân lực có chất
lượng cao trước khi kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực mà địa phương có
thế mạnh, có chính sách hấp dẫn khuyến khích các nhà đầu tư vào.
Không đem con bỏ chợ mà thật sự hỗ trợ các nhà đầu tư trong đó đôi
bên cùng có lợi, mục đích lâu dài có sự giới thiệu nhau trên thị trường
khi các nhà đầu tư có điều kiện và xét thấy thật sự có hiệu quả sau
thời gian hoạt động (qua môi trường đầu tư của các doanh nhân nước
ngoài trên địa bàn Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam cũng có
được mặt trên thị trường nội địa, sẽ có những bài học tốt cho sản
phẩm và cơ hội để nhìn lại sản phẩm mình trên thị trường của mình) .
Sự khủng hoảng đã xảy ra trên thế giới với qui mô toàn cầu, nó đưa
một số quốc gia đứng bên bờ vực phá sản như; Hi Lạp, Pakistan …