LUẬN VĂN:
Lý luận của Mác- Lênin về kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
và sự vận dụng ở Việt nam
Lời nói đầu
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng , đường lối
phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quết định sự thành bại trong quá trình phát
triển kinh tế của một đất nước. Thực tế cho thấy rằng, Chính phủ các nước Nics
Châu á, sau gần một thập kỉ thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, đã nhận ra
nhưng mặt hạn chế của nó, và ngay đầu thập kỉ 60 đã có sự chuyển hướng chiến
lược. Với khoảng thời gian ngắn họ đã đưa đất nước trở thành: “ những con rồng
xuất là tạo ra giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân
người sản xuất. Vì thế có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên chỉ
gồm hai khâu : Sản xuất và tiêu dùng
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất là để trao đổi hay là
để bán. Mục đích đó được xác định trước quá trình sản xuất và có tính khách quan.
Sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất đều gắn vối thị trường
So với kinh tế tự nhiên kinh tế hàng hoá có những ưu thế cơ bản sau:
Một là : trong kinh tế hàng hoá do sự phát triển của phân công lao động xã
hội cho nên sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng
mở rộng. Điều đó tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị
xsản xuất thúc đẩy việc cải tiến công cụ lao động, nâng cao trình độ kĩ thuật, mở
rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển .
Hai là : Trong kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất không phải là để
tiêu dùng cho chính bản thân người sản xuất mà là để thoả mãn ngày càng cao về
nhu cầu của thị trường. Chính nhu cầu ngày càng cao của thị trường là động lực
mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá.
Ba là : trong kinh tế hàng hoá , cạnh tranh ngày càng gay gắt . Yêu cầu của
cạnh tranh đòi hỏi những đơn vị sản xuất phải thường xuyên quan tâm tới tăng
năng xuất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm để thu được lợi nhuận ngày
càng nhiều hơn. Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận siêu ngạch đã làm cho lực lượng
sản xuất có những bước tiến bộ dài.
Để thoả mãn nhu cầu của mình, những người sản xuất phải nương tựa vào nhau,
trao đổi sản phẩm cho nhau. Phân công lao động xã hội làm nẩy sinh những quan
hệ kinh tế giữa nhưng người sản xuất với nhau.
Trong điều kiện tư hữu về tư liệu sản xuất, những người sản xuất độc lập
với nhau và có lợi ích kinh tế khác nhau.
Do có phân công lao động xã hội và sự độc lập tương đối về kinh tế giữa
những người sản xuất, cho nên quan hệ giữa những người sản xuất là quan hệ mâu
thuẫn: Họ vừa liên hệ, vừa độc lạp với nhau. Giải quyết mối quan hệ mâu thuẫn
này tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ trao đổi dựa trên cơ sở giá trị, nghĩa là dựa trên
cơ sở trao đổi ngang giá.
Khi trao đổi trở thành tập quán và là một mụch đích của sản xuất thì sản
xuất hàng hoá ra đời
Phân công lao động xã hội phát triển thì quan hệ trao đổi cũng được mở
rộng và ngày càng phức tạp. Xuất hiện nhiều ngành nghề mới, nhiều phương tiện
trao đổi mới, thị trường ngày càng mở rộng, xuất hiện nhiều tiền đề cho quá trình
biến đổi về chất của tiến trình phát triển kinh tế hàng hoá . Kinh tế hàng hoá giản
đơn dần dần chuyển sang kinh tế thị trường.
2- Bước chuyển từ kinh tế giản đơn sang kinh tế thị trường.
2.1 Kinh tế thị trường và điều kiện hình thành .
Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá . Kinh tế
hàng hoá phát triển đồng nghĩa với phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ, phạm vi
thị trường được mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra
tăng sức cạnh tranh, thực hiện chính sách phân phối và điều tiết trên cơ sở nguyên
tắc kết hợp công bằng xã hội và hiệu quả kinh tế, phát huy ưu thế và hạn chế
những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường .
3-Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ
nghĩa của kinh tế thị trường ở Việt nam
3.1-Những đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường:
Do kinh tế thị trường là sự phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá và mọi
yếu tố của sản xuất đều được thị trường hoá cho nên kinh tế thị trường có những
đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Các chủ thể kinh tế tự bù
đắp những chi phí và tự chiu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh của
mình, được tự do liên kết, tự do liên doanh theo luật định. Kinh tế hàng hoá không
bao dung hành vi bao cấp. Nó đối lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự chủ năng
động.
Hai là, hàng hoá trên thị trường rất phong phú, phản ánh trình độ cao của
năng suất lao động xã hội , trình độ phân công lao động xã hội, sự phát triển của
sản xuất và thị trường.
Ba là, giá cả được hình thành ngay trên thị trường, vừa chịu tác động của
quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ.
Bốn là, cạng tranh là mmột tất yếu của kinh tế thị trường, có nhie4èu hình
thức phong phú vì mục tiêu lợi nhuận.
Năm là, kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở.
II thị trường và cơ chế thị trường.
1-Thị trường.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường tuy nhiên có thể hiểu theo
nghĩa đầy đủ thì nó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới,
tại đây người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số
lượng hàng lưu thông trên thị trường, hình thành các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
mua- bán, cung - cầu và giá cả hàng hoá.
Có thể phân loại thị trường thành thị trường hàng tiêu dùng - dịch vụ và thị
trường các yếu tố sản xuất. Sự phân chia này căn cứ vào chủng loại hàng hoá đầu
vào và đầu ra của sản xuất . Sản xuất gắn với thị trường. Do đó, thị trường chính là
lực lượng hướng dẫn , điều tiết sản xuất và là động lực của sản xuất kinh doanh, là
nơi cuối cùng để chuyển lao động tư nhân cá biệt thành lao động xã hội . thị
trường nói chung và kinh tế thị trường nói riêng đều hoạt động theo cơ chế thị
trường.
2-Cơ chế thị trường.
Nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hoá , điều tiết sự vận động của nền kinh tế thị trường
Hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm cơ chế thị trường. Có
thể xem xét một vài khái niệm sau:
" Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường, động lực
và qui luật chi phối sự vận động của thị trường."
Thông qua sự biến động của giá cả thị trường, qui luật giá trị có tác dụng
điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Điều tiết sản xuất hàng hoá được hiểu theo nghĩa là điều tiết tư liệu sản xuất
và sức lao động vào từng ngành kinh tế. Điều này tạo ra động lực kinh tế thúc đẩy
người sản xuất hàng hoá khai thác những khả năng tiềm tàng, tranh thủ giá cao,
mở rộng qui mô sản xuất và ngược lại.
Như vậy, lợi nhận là động lực thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trường.
Theo C.Mác, những nhà kinh doanh dưới CNTB "Ghét cay ghét đắng tình trạng
không có lợi nhuận hay lợi nhuận quá ít, chẳng khác gì thế giới tự nhiên chân
không."
Trong những giai đoạn khác nhau của sản xuất và lưu thông hàng hoá, qui
luật giá trị cũng có những biểu hiện khác nhau.
Trong giai đoạn tự do cạnh tranh thì giá cả thị trường lên xuống xung quanh
giá cả sản xuất.
Trong giai đoạn độc quyền thì giá cả thị trường lên xuống xung quanh giá
cả độc quyền.
Giới hạn thấp nhất của giá cả thị trường chính là chi phí sản xuất. Giới hạn
cao của giá cả thị trường chính là nhu cầu có khả năng thanh toán của người mua.
Giá cả thị trường có những chức năng sau:
- Chức năng thông tin.
- Giá cả làm cân bằng cung cầu nên các nguồn lực được sử dụng hợp lí.
3
Nghiên cứu lí luận- Số 4
- Giá cả làm chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của các tầng
lớp dân cư trong xã hội.
Khủng hoảng " thừa là căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế thị trường phát
triển. Do mức cung hàng hoá vượt quá sức cầu có khả năng thanh toán, cho nên
dẫn tới tình trạng "dư thừa hàng hoá " . Xu hướng mở rộng sản xuất vô hạn độ
mâu thuẫn với sức mua có hạn . Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư snản và giai
cấp vô sản.
Kinh tế thị trường tạo ra sự phân hoá giai cấp, do đó nó cũng tạo thêm mâu
thuẫn giai cấp .
Một khuyết tật khác của cơ chế thị trường là gây ô nhiễm môi trường sinh
thái, tàn phá đất đai, rừng đầu nguồn do chạy theo mục đích lợi nhuận.
Tóm lại , cơ chế thị trường có tác động điều tiết sản xuất và lưu thông hàng
hoá, chi phối sự vận động của kinh tế thị trường nhưng các chủ thể tham gia thị
trường hoạt động vì lợi ních riêng của mình, cho nên sự vận động cuả cơ chế thị
trường tất yếu dẫn tới những mâu thuẫn và xung đột. Cạnh tranh khó tránh khỏi
lừa gạt, phá sản và thất nghiệp Vì vậy, cần phải có sự kiểm tra của xã hội, đó là
lí do sự cần thiết phải thiết lập vai trò quản lí của nhà nước. Vai trò của nhà nước
trong nền kinh tế của nước ta là hướng tới sự ổn định về kinh tế xã hội, sự công
bằng và làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng, phát triển với tốc độ cao.
III/ Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt nam:
1/ Thực trạng nền kinh tế Việt nam khi chuyển sang kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN.
1.1 / Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng
tính chất tự cấp tự túc.
Sự yếu kém này được thể hiện ở những điểm sau:
- Năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu người còn
thấp.
-Phần này phản ánh tổng hợp thực trạng kinh tế hàng hoá còn kém phát
triển. Do trình độ cơ ở vật chất kĩ thuật còn thấp kém, kết cấu hạ tầng dịch vụ sản
xuất và dịch vụ xã hội còn thấp kém; cơ cấu kinh tế còn mất cân đối,thị trường
trong nước còn kén phát triển cho nên năng suất lao động xã hội và thu nhập bình
quân tính theo đầu người còn thấp.
1.2/ ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế quan liêu bao
cấp.
Do nhận thức chủ quan duy ý chí về nền kinh tế XHCN cho nên trong nhiều
thập kỉ vừa qua ở nước ta đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp. Thực tiễn hoạt động kinh tế đã chứng minh mô hình này có
nhiều nhược điểm. Có thể tóm tắt trên hai giác độ: Quan hệ tổ chức hành chính và
quan hệ kinh tế. Về quan hệ tổ chức hành chính, đó là cơ chế quản lí chủ yếu theo
lệnh tập trung nhưng lại được điều hành bởi nhiều đầu mối khác nhau. Kiểu quản
lí như vậy mang tính chất phân tán.
Về quan hệ kinh tế, cơ chế tập trung quan liêu thể hiện quan hệ giao nộp,
thu mua, cấp phát. Hậu quả của nó hết sức nặng nề:
+ Làm mất sức mạnhcủa tổ chức kinh tế nhà nước.
+ Suy yếu tính sáng tạo, lãng phí gây thất thoát tài sản quốc gia
+ Cản trợ mục tiêu ổn định, cải thiện đời sống phát triển sản xuất.
Việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử, cho
nên sự hạn chế quan hệ hàng hóa tiền tệ và qui luật giá trị trở thành sự cản trở tiến
bộ kinh tế, kìm hãm nhân tố mới, do đó làm cho nhà nước không thể làm chủ quá
tạo ra môi trường và hành lang pháp lí qua đó thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển.
3/ Các giai đoạn và biện pháp hình thành kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN ở Việt nam.
3.1/ Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là: Phát triển và mở rộng quan hệ hàng
hoá, tiền tệ tạo điều kiện tiền đề cho kinh tế hàng hoá phát triển. Để thực hiện
được nội dung nói trên, chúng ta đã có những giải pháp sau đây:
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại
hoá.
- Bảo đảm nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tăng trưởng và phát triển,
bảo đảm công bằng xã hội và sự vững bền của môi trường.
- Đảm bảo sự phát triển, tăng trưởng đồng bộ và cân đối, tạo điều kiện thúc
đẩy những ngành mũi nhọn nhằm tạo ra tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế.
- Giải phóng sức sản xuất xã hội, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất
nước, tạo ra nhiêù công ăn việc làm cho người lao động.
- Đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, đồng thời
hạn chế sự phát triển chạy theo lợi nhuận trước mắt, phá hoại môi
trường thái trong quá trình kinh doanh.
- Tạo điều kiện thực hiện nền kinh tế mở, áp dụng khoa học kĩ thuật, chất
lượng và hiệu quả kinh tế cao.
Hai là, chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố
của thị trường, phát huy những ưu thế và động lực của thị trường, đồng thời hạn
chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường.
Ba là, hoàn thiện và tăng cường vận dụng các chính sách tài chính và tiền
tệ nhằm tạo nguồn vốn và thực hiện việc đầu tư vốn theo mục tiêu phát triển, phân
phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, tạo lập sự opỏn định về tiền tệ, tỉ giá hối
coi trọng.Giải pháp này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật đông
đảo và tài năng, tận tuỵ với sự nghiệp xây dựng đất nước. Kết luận
Mô hình kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt nam đã và đang
đem lại những thành tựu đáng kể, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước tạo điều
kiện hội nhập kinh tế thế giới. Sự khắc phục này dần khắc phục được những
khuyết tật của kinh tế thị trường, tăng cường ảnh hưởng tích cực đồng thời đảm
bảo được hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội.
Để ngày càng thu được những thành công to lớn nhằm nâng cao dần đời
sống dân cư và vị thế của kinh tế nước ta trong khu vực và trên thế giới, trong tiến
trình thị trường hoá nền kinh tế đòi hỏi không chỉ có sự cố gắng nỗ lực của Đảng,
nhà nước và nhân dân ta mà còn cần có một lí luận sắc bén về kinh tế thị trường
và định hướng XHCN. Đó chính là vai trò của lí luận Mác- Lênin về kinh tế thị
trương theo định hướng XHCN và sự vận dụng nó ở Việt nam.
Như vậy, một lần nữa có thể khẳng định được rằng các lí luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin về kinh tế thị trường và sự vận dụng nó vào nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN ở Việt nam thực sự có vai trò quan trọng, cần được tuân thủ và áp
dụng một cách linh hoạt vào thị trường Việt nam, đảm bảo cho nền kinh tế nước ta
đạt được những thành công mong đợi, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Mục lục
A/ Lời nói đầu 1
B/ Nội dung 2
I/ Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường 2
1/ Quá trình phát triển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá 2
1.1/ Một số khái niệm về kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá 2
1.2/ Những tiền đề của quá trình chuyển từ nền kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng
hoá 3
2/ Quá trình chuyển biến từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị
trường 5
2.1/Những điều kiện hình thành kinh tế thị trường 5
3/ Một số đặc trưng của cơ chế thị trường 6
3.1/ Những đặc trưng chung của cơ chế thị trường 6
3.2/ Định hướng XHCN của kinh tế thị trường của Việt nam 7
II/ Thị trường và cơ chế thị trường 8
1/ Thị trường 8
2/ Cơ chế thị trường 9
2.1/ Cơ chế thị trường có những ưu điểm sau 10
2.2/ Những khuyết tật của cơ chế thị trường 11
III/ Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của Việt nam 12
1/ Thực trạng nền kinh tế Việt nam khi chuyển sang kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN 12