Tìm lại nơi sinh của Lê Thánh Tông doc - Pdf 20

Tìm lại nơi sinh của Lê Thánh Tông

Trong “Về nơi sinh của Lê Thánh Tông và dòng họ Định trên đất Thái Bình” in
trên Nghiên cứu lịch sử số 3 (198 (V - VI) - 1998, tác giả Mai Hồng - Viện Hán
Nôm nêu:

“Từ trước đến nay, giới sử học thường nhận định rằng Đinh Liệt và Nguyễn Xí
đã giúp vua Lê Thánh Tông lên ngôi. Nhưng chưa có ý kiến nào nói rõ điểm xuất
phát để lên ngôi của vua Lê Thánh Tông là từ đâu. Nhân trong các chuyến đi điền
dã tại Thái Bình, chúng tôi đã thu thập được một số tư liệu có liên quan đến nơi
sinh của vị Hoàng đế đầy tài ba của dòng họ Lê này”.

Bài viết dựa theo các nguồn tư liệu dân gian và tư liệu thành văn. Trước khi vào
vấn đề chuyện dân gian, tôi xin nhắc lại những điều trong chính sử đã ghi về ngày
sinh, nơi sinh, nơi ở của Hoàng tử Tư Thành (tên huý của Lê Thánh Tông), cho
đến khi Hoàng tử Tư Thành được phong Bình Nguyên Vương, rồi lại đổi phong
Gia Vương:

“Tháng 6, sách phong Ngô thị làm Tiệp dư ở cung Khánh Phương, tức Quang
Thục Hoàng thái hậu sau này”.

(Đại Việt sử ký toàn thư - tập III - quyển XI, tr 129).

“Mùa thu, tháng 7, ngày 20, Hoàng tử Tư Thành sinh” (sđd, tr 130).

“Tháng 6, phong Hoàng đệ Tư Thanh làm Bình Nguyên Vương” (sđd, tr 135).

“Vua huý là Tư Thành, lại huý là Hạo, con thứ tư của Thái Tông… Mẹ là
Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô thị, người làng Đồng Bàng, huyện Yên Định,
phủ Thanh Hoá. Khi Thái Hậu còn là Tiệp di, đi cầu tự, chiêm bao thấy trời cho
Tiên đồng, rồi có thai… năm Đại Bảo thứ 3 (1442), tháng 7, ngày 20 sinh ra vua…

Thì sinh ra đất Duyên hà, Thần Khê

Nhược bằng bác mẹ chẳng sinh

Thì quăng ra đất Vạn Linh cho rồi.

Câu khấn này có nghĩa là nếu người có tài đức để nối nghiệp ông cha, thì sang
Duyên Hà hoặc Thần Khê hãy ra đời. Nếu như kém tài hèn đức thì sinh ở Vạn
Linh thì khó thoát tay Phạm Đồn, nên vứt đi cho khỏi liên luỵ người khác”.

Về sự kiện này, tác giả có nhận định khác Đinh Tú.

“Khi chạy ra đến cầu Tray, nơi giáp ranh giới giữa hai địa phận làng Chép, xã
Gia Lập, huyện Duyên Hà và làng Sâm, xã Mậu Lâm, huyện Thần Khê thì bà
Ngọc Dao chuyển dạ đẻ. Suốt từ chập tối cho đến sáng hôm sau một chuỗi thời
gian dài và nặng nề, mọi người lo sợ triều đình sẽ đuổi kịp. Trong tình thế tiến
thoái đều khó, bà Ngọc Dao cho thắp hương cầu trời phật. Bài khấn ấy, đến nay
vẫn còn được lưu truyền trong dân gian và tác giả Mai Hồng không dùng chữ
“Vạn Linh” (đất Vạn Linh) mà dùng chữ “Vạn Ninh”, chú thích nghĩa là “yên lặng
muôn thuở - bãi tha ma”.

Câu chuyện Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh hiềm khích với Tiệp dư (2) Ngô Thị
Ngọc Dao, lập mưu hãm hại lúc có thai mấy tháng bị đuổi khỏi cung Khánh
Phương, ra giam ở chùa Huy Văn (3), hoặc:

“Khi ấy, Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh chưa thể ra tay, mà chỉ cách chức Tiệp dư
của Ngô Thị Ngọc Dao và biết bà Ngọc Dao đã có thai, mới cho biệt ở chùa Huy
Văn (Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội), chờ sau khi sinh nở rồi sẽ định liệu”.

Đây thật ra là những chuyện dựng đứng xuyên tạc lịch sử hết sức thô bạo,

năm ấy Vương mới lên 4 tuổi, hàng ngày càng với các Thân vương học tập ở Kinh
diên. Năm 18 tuổi được tôn lên làm vua, tức Lê Thánh Tông. Vậy Thánh Tông nào
đã xây thành luỹ ở làng Đún làm căn cứ? Xây thành luỹ làm căn cứ chống ai?

Tác giả viết: “Biết tin Thánh Tông xây thành luỹ làm căn cứ. Thái hậu Nguyễn
Thị Anh đã cho người đến tận nơi tra xét. Quan Khâm sai đến đây thấy cảnh xây
dựng đồ sộ hệt như một kinh đô, cũng phải thảng thốt nói: Đúng là một “kỳ đô”
(kinh đô lạ).

Thời phong kiến từ ăn mặc đến xây dựng nhà cửa trang trí hoa văn… được quy
định cấp bậc chặt chẽ, vượt khuôn khổ đẳng cấp gọi là “tiếm”, tội rất nặng.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tĩnh quốc Đại vương Quốc Khang (anh vua
Trần Thánh Tông) dựng phủ đệ ở châu Diễn, lang và vũ vòng quanh, lộng lẫy quá
mức thường. Vua nghe tin, sai người đến xem. Tĩnh Quốc sợ, mới tô tượng phật
để thờ (nay là chùa Thông)”.

Đến anh vua, xây dựng phủ đệ quá lộng lẫy, vua cho người vào xem, anh vua sợ
tội “tiếm” đã phải đem tượng Phật vào thờ, biến phủ đệ thành chùa thờ Phật. Thế
mà bà Tiệp dư Ngô Thị từ chỗ bị giam lỏng trốn về Y Đún, sinh Thánh Tông (theo
tác giả). Tới khi lớn, Thánh Tông còn là một dân thường, mà đứng lên làm cái việc
xây thành đắp luỹ. Quan khâm sai của triều đình đến tra xét, thấy cảnh dựng đồ sộ,
giống hệt như một kinh đô,phải thảng thốt gọi là “kỳ đô” (kinh đô kỳ lạ). Một
người ở lứa tuổi thiếu niên, con bà Tiệp dư đi lánh nạn ở một làng quê, lấy sức
người, sức của ở đâu để xây thành luỹ căn cứ đồ sộ hệt như một kinh đô và sau khi
triều đình tra xét xong lại không xử lý, thật là “Siêu kỳ sự…”, lời thảng thốt của
những người đọc bài viết này.

Liên quan đến chủ đề nơi sinh của Lê Thánh Tông, còn có một số tư liệu thành
văn như đôi câu đối ở từ đường họ Đình – Y Đún, xã Bình Lăng, huyện Hưng Hà,

Dịch nghĩa vế dưới:

Thần châu (bãi thiêng), cũng như Thần Khê (sông thần) vùng đất này đã sinh ra
Lê Thánh Tông cháu Lê Lợi.

Tác giả không hiểu chữ “hưng nhưỡng” tức “Hưng bình nhưỡng loạn”, nên lại
phiên âm là “Hưng nhượng” và dịch nghĩa là Thần châu (bãi thiêng) và Thần khê
(sông thần). Tai hại hơn nữa là vế trên tác giả đưa “danh trì” (danh tiếng đồn xa)
thành địa danh. Danh Trì hoặc Mỹ Lý (ở Thái Bình) xưa đã sinh ra Lê Lợi. Lê Lợi
có một mình lại được sinh ở hai địa phương thuộc hai tỉnh Thanh Hoá và Thái
Bình.

Tác giả chú thích “thang mộc ấp” nghĩa là “nơi tắm của vua lúc mới sinh”. Tác
giả và nhiều người hiểu lầm nghĩa từ “thang mộc ấp”. Đinh Tú thì cho ba chữ
“Thang mộc ấp” là nơi sinh ra vua Lê Thánh Tông. Trong bản Bước đầu khảo sát
chi phái họ Đinh ở Y Đún, Thang mộc ấp lại dịch là “nuôi vua chúa”…

“Thang mộc” có nghĩa là “tắm gội”, nghĩa bóng là “trai giới cho được tinh
khiết”. Theo đời Chu bên Trung Quốc (1066 – 225 TCN), Thiên tử đem một khu
đất ở gần kinh thành ban cho chư hầu, gọi là Thanh mộc ấp, để mỗi khi vào chầu
Thiên tử làm nơi nghỉ ngơi, lấy hoa lợi ở đấy dùng vào việc trai giới tinh khiết. Từ
đời Hán trở đi, Thang mộc ấp là danh từ chỉ bất cứ một “Thái ấp” nào mà vua ban
phong cho các công thần để thu hoa lợi ở đấy mà chi dùng. Vậy xã Đô Kỳ là thái
ấp, tức Thang mộc ấp, đời Lê còn gọi là ruộng “Thế nghiệp” của Lân Quốc Công
Đinh Liệt cũng như Sáo Đền ở xã An Lão, huyện Thư Trì là Thang mộc ấp, hoặc
Thái ấp, tức ruộng Thế nghiệp của Bân quốc công Đinh Lễ.

“Thang mộc” có nghĩa là “tắm gội”, chứ không có nghĩa là “tắm đẻ”, cũng
không có nghĩa là “nuôi vua chúa”.


Ngô Thị Ngọc Dao, nơi sinh ra vua Lê Thánh Tông. Khi vua Lê Thánh Tông lên
ngôi mới đổi là Dục Khánh, lại tôn tử cung lên điện. Đến lúc tuổi già, Ngô Thái
hậu đặt toà thờ Phật ở ngay trong điện, cho nên khi Thái hậu mất, ngoài việc thờ
trong Thái miếu, vua Thánh Tông vốn là con chí hiếu, mới cho đúc tượng Thái
hậu, đặt thờ bên toà thờ Phật, để hàng ngày vua đến chiêm ngưỡng dung nhan như
khi Thái hậu còn sống. Rồi vua lại đổi tên là điện Huy Văn, có nghĩa là làm sáng
ngời cái đức của Văn Hoàng đế, tức Thái Tông.

Có thuyết, khi nhà Mạc thay nhà Lê, cấm thành thu hẹp lại, điện Dục Khánh trở
thành hoang phế, dần dần nhân dân đến ở lập làng Huy Văn. Họ tu sửa điện Dục
Khánh làm chùa thờ Phật của làng, nhưng vẫn gọi là điện Huy Văn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status