CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG - Pdf 29

C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
CHUYÊN ĐỀ: CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG – NHÂN TỐ QUYẾT
ĐỊNH DẪN TỚI SỰ HƯNG THỊNH CỦA TRIỀU ĐẠI LÊ SƠ
I. Hoàn cảnh lịch sử
1. Thuận lợi
Đầu thế kỉ XV do không đoàn kết được nhân dân, nhà Hồ chịu sự thất bại
trước cuộc xâm lược của nhà Minh. Vì vậy từ 1407, Đại Việt lại rơi vào ách đô
hộ tàn bạo của nhà Minh. Hàng loạt cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở miền ngược
cũng như miền xuôi nhưng đều thất bại. Từ năm 1417 – 1428 khởi nghĩa Lam
Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi bùng nổ ở Thanh Hóa và
giành được thắng lợi. Sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, đầu năm 1428 Lê
Lợi lên ngôi hoàng đế, sáng lập nhà Lê, đặt lại tên nước là Đại Việt. Trải qua
các đời vua đầu nhà Lê sơ: Thái Tổ (1428 – 1433), Thái Tông (1433 – 1442),
Nhân Tông (1442 – 1459), đất nước đang dần được khôi phục và bước vào giai
đoạn phát triển trên tất cả các lĩnh vực.
Về chính trị, đó là sự ổn định, chính quyền trung ương ngày càng mang
tính chất tập trung. Ngay từ năm 1427, khi còn bao vây Đông Đô, Lê Lợi đã
bước đầu xây dựng bộ máy chính quyền. Đến khi đất nước được giải phóng,
nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho nhà Lê là xây dựng chính quyền mới. Về cơ bản
từ đời vua Thái Tổ đến đời vua Nhân Tông, nhờ nhận được sự ủng hộ, tin tưởng
của nhân dân trước một triều đại mới – triều đại đã đánh bại quân xâm lược
Minh, giành lại độc lập, chủ quyền cho dân tộc mà nhiệm vụ trên được thực
hiện một cách thuận lợi. Tuy các triều vua đầu nhà Lê vẫn dựa vào quy chế của
các triều đại Lý, Trần nhưng bộ máy nhà nước đó đã có một bước tiến về mức
độ tập trung chính quyền có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều
đại và nền độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt trong 4 thế kỉ, tạo tiền đề
cho những bước đột phá giai đoạn sau. Bên cạnh đó, để củng cố tình hình chính
trị, ngay sau khi lên ngôi vua, Lê Lợi đã cùng các đại thần bàn định một số luật
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
lệ và lo đến lập pháp. Việc ban hành pháp luật đã góp phần ổn định chính trị, cơ

hiệu Bình chương quân quốc trọng sự, rồi đến các chức Tam Tư, Tam Thái,
Tam thiếu. Chức Thiếu úy được Lê Thái Tông đặt từ lúc còn khởi nghĩa, sau
khi dẹp yên giặc Minh mới đặt Thái Úy, cùng với chức Thái, ba chức Thiếu
đều là trọng trách của đại thần. Các trọng chức của đại thần văn võ chỉ trao
cho các thân thuộc nhà vua và bầy tôi có công. Dưới là hai ngạch văn ban, võ
ban. Văn ban có chức Đại hành khiển, đặt theo quan chế của nhà Trần. Dưới
Đại hành khiển là Thượng thư đứng đầu bộ, bấy giờ mới chỉ có ba bộ: Bộ Lại,
Bộ Lễ và Bộ Hộ. Bên cạnh đó có một số cơ quan chuyên trách như: Nội mật
viện (hoặc Khu mật viện), Ngũ hình viện, Bí thử giám, Ngự sử đài, Hàn lâm
viện, Quốc tử giám…Võ ban có các chức Đại Tổng quản, Đại đô đốc; Đô tổng
quản. Những chức này chỉ huy quân thường trực kinh thành và vệ quân ở các
đạo, dưới có các chức võ tướng cao cấp khác.
Ở địa phương, năm 1428, Thái Tổ chia lại nước làm 5 đạo: Đông, Tây,
Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa đến
Thuận Hóa). Mỗi đạo do Hành khiển đứng đầu. Dưới đạo là Lộ do An Nam
phủ xứ đứng đầu như thời Trần. Các lộ về mặt quy mô không đồng đều. Dưới
Lộ là huyện, châu, xã. Đơn vị hành chính cơ sở là xã, gồm 3 loại: xã lớn 100
người trở lên, xã vừa 50 người trở lên và xã nhỏ 10 người trở lên.
Nhìn chung, tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê Thái Tổ chủ
yếu vẫn dựa vào quy chế tổ chức của các triều đại trước. Thiết chế chính trị
như trên còn chưa chặt chẽ, chưa hoàn chỉnh, mang tính phân tán. Nhược điểm
này đã bộc lộ ngay từ nửa sau thế kỷ XIV. Như vậy, trong hoàn cảnh mới,
thiết chế chính trị đó vẫn tiếp tục được duy trì đã không còn phù hợp với yêu
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
cầu phát triển của đất nước, của xu thế thời đại nên cải cách tất yếu phải diễn
ra. Và Lê Thánh Tông đã nhận thức được điều này.
* Chính quyền trung ương chưa vững mạnh, nội bộ vương triều mâu
thuẫn
Sau khi vua Lê Thái Tổ qua đời, các vua kế vị thường còn ít tuổi. Thái

khủng hoảng như cuối thời nhà Trần. Dựa vào điều kiện thuận lợi và khó khăn
của đất nước ở thế kỉ XV, có thế nói với tư chất thông minh, quyết đoán, Lê
Thành Tông đã lấy đó là cơ sở để đưa ra và thực hiện những cải cách đúng đắn
trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - giáo dục nhằm đưa đất
nước Đại Việt đạt được sự phát triển rực rỡ về mọi mặt.
II. Nội dung cải cách
1. Cải cách hành chính
Vào những năm 60 khi đất nước đã ổn định, vua Lê Thánh Tông khi mới
lên ngôi đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn từ trung ương đến địa
phương nhằm “cốt để cho lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng kiềm
chế nhau, uy quyền không bị lạm dụng, lẽ phải không bị lung lay khiến mọi
người có thói quen theo đạo, giữ phép không có lầm lỗi làm trái nghĩa, phàm
hình, để theo trọn cái trí của Thái Tổ, Thái Tông ta mà giữ được trị an lâu dài”.
Lê Thánh Tông trước tiên bãi bỏ các quan chức và cơ quan trung gian
giữa vua và bộ phận thừa hành, đó là Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Khu mật
viện cùng các viên quan cao cấp nhất như Tướng quốc (Tể tướng), Đại hành
khiển, tả, hữu Bộc xạ… Vua trực tiếp nắm quyền kể cả quyển tổng chỉ huy quân
đội, chỉ đạo mọi công việc trọng yếu và làm việc trực tiếp với các cơ quan thừa
hành. Giúp vua bàn bạc và chỉ đạo công việc khi cần thiết có các đại thần như
Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Thái Úy, Thiếu sư, Thiếu bảo…
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Tiếp đến, tách 6 bộ Lại, Lễ, Binh, Hình, Hộ, Công ra khỏi Thượng thư
sảnh lập thành 6 cơ quan riêng biệt phụ trách các mọi mặt công việc của triều
đình. Đứng đầu các bộ là chức Thượng thư chịu trách nhiệm trực tiếp với vua về
hoạt động của bộ mình phụ trách.
Lê Thánh Tông rất đề cao công tác thanh tra, giám sát quan lại. Hệ thống
tổ chức thanh tra, giám sát quan lại được tổ chức khá chặt chẽ từ triều đình đến
các địa phương. Ở trung ương, để tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt
động các quan lại ở 6 Bộ, ngoài Ngự sự đài đã có từ thời Trần, Lê Thánh Tông

mạch, nhất quán, không chồng chéo lẫn nhau, đảm bảo tính thống nhất trong
chính quyền từ trên xuống. Nếu so sánh bộ máy hành chính với các triều vua
Lý, Trần thì hệ thống hành chính quốc gia thời Lê sơ đặc biệt là ở thời Lê
Thánh Tông đã thể hiện một bước tiến cơ bản – đạt đến đỉnh cao mô hình Nhà
nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Mọi quyền hành đều tập trung
trong tay vua. Hệ thống các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương
được xếp đặt rõ ràng, có phân công nhiệm vụ, quyền hành cụ thể, không dẫm
đạp lên nhau, có quan hệ rõ ràng theo chiều dọc, đảm bảo quyền lực của nhà
vua và sự thống nhất chính trị của cả nước.
2. Cải cách quân đội và củng cố quốc phòng
Cùng với quá trình xây dựng bộ máy chính quyền quân chủ chuyên chế
trung ương tập quyền, nhà Lê sơ cũng rất chú trọng tổ chức xây dựng và củng
cố lực lượng quốc phòng.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, đầu năm 1429 Lê Lợi
cho 25 vạn quân trở về làm ruộng, giữ lại 10 vạn quân thường trực. Số quân còn
lại chia làm 6 quân ngự tiền đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đô và
cung điện nhà vua, và quân 5 đạo đóng giữ ở các địa phương. Trong số 10 vạn
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
quân, Lê Lợi chia làm 5 phiên, cứ lần lượt thay nhau về làm ruộng chỉ giữa lại
một phiên thường trực. Mỗi khi có việc dụng binh, nhà nước mới điều động
toàn bộ quân đội.
Đến năm 1466, toàn bộ hệ thống quân đội được Lê Thánh Tông tiến hành
cải tổ. Quân đội được chia làm 2 loại: quân thường trực bảo vệ kinh thành gọi là
cấm binh hay thân binh và quân ở các đạo gọi là ngoại binh. Về ngoại binh, Lê
Thánh Tông bỏ các đạo, chia binh làm 5 phủ, mỗi phủ gồm 6 vệ, mỗi vệ có 5
hoặc 6 sở. Sau này, Thánh Tông cho đặt thêm các vệ quân ở các đô ti xa.
Để tăng cường hiệu lực quốc phòng và sức mạnh quân đội, Lê Thánh
Tông cũng có sự cải cách về hành chính quân sự - quốc phòng. Binh chế nhà Lê
năm 1467 quy định quân số ở các đơn vị thống nhất như sau: mỗi ti gồm 100

rất kiên quyết nhằm giữ vững chủ quyền, giữ vững “thước núi, tấc sông” mà cha
ông để lại. Trong lời dụ của Lê Thánh Tông nêu rõ: “Một thước núi, một tấc
sông của ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ được. Phải kiên quyết tranh luận không để họ
lấn dần,…nếu kẻ nào dám đem một tấc đất của vua Thái Tổ để lại làm mồi cho
giặc thì người đó sẽ bị trừng trị nặng”.
3. Hoàn chỉnh pháp luật
Ngay sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã rất chú ý đến việc xây dựng
pháp chế, ông nhận định rằng: “Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật,
không có pháp luật thì sẽ loạn”, nên vào năm 1428 ông đã “hạ lệnh cho các
quan Tư Không, Tư Đồ, Thiếu úy, Hành khiển bàn định pháp lệnh cai trị quân
dân, để người làm tướng biết phép trị quân, quan các lộ biết phép trị dân, cũng
để răn dạy quân dân biết là có pháp luật. Mọi công việc đều có các cơ quan
phụ trách riêng”. Qua các đời Thái Tông, Nhân Tông nhà nước đã xây dựng
thêm một số quy tắc, điều luật về kiện tụng, quyền thừa kế Đến thời vua
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Thánh Tông, năm 1483 vua sai triều thần tập hợp những điều lệ đã ban hành ở
các đời vua trước, tham khảo pháp luật đời Lý, Trần, pháp luật nhà Tùy, Đường,
Minh (của Trung Quốc) rồi căn cứ vào tình hình mới trong nước mà soạn ra bộ
luật mới. Đó là bộ luật Hồng Đức mà sau này được sửa chữa, bổ sung để lập
thành bộ Lê triều Hình luật.
Bộ luật gồm 722 điều, chia làm 6 quyển, gồm 16 chương bao nhất, gồm
những quy định về hình sự, dân sự, đất đai, hôn nhân, gia đình, về tố tụng và cả
những quy định luật hành chính, về hội hôn và điền sản. Bộ luật Hồng Đức tổng
hợp, điều chỉnh toàn bộ những quan hệ xã hội căn bản nhất, rường cột nhất tạo
nên cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của nhà Lê.
Nội dung cơ bản của bộ luật nhằm khẳng định và củng cố sự thắng lợi
của giai cấp địa chủ, trấn áp mọi hành động chống đối nhà nước phong kiến,
xâm phạm đến lợi ích của giai cấp thống trị.
Bộ luật bảo vệ quyền thống trị của nhà nước trung ương tập quyền.

dân tộc sâu sắc. Bộ luật đánh dấu một trình độ phát triển cao của tư tưởng pháp
lý của dân tộc Đại Việt. Bộ luật biểu hiện rõ nét tính chất giai cấp và quyền lực
của nhà nước phong kiến đối với nhân dân, nhưng đây cũng là bộ luật tương đối
tiến bộ nhất trong thời đại phong kiến Việt Nam, mang đậm nét sáng tạo và tinh
thần thực tiễn của giai cấp phong kiến Việt Nam trong giai đoạn đi lên của nó.
Vì vậy nó đã được sử dụng trong suốt bốn thế kỉ (XV - XVIII).
Nhà sử học Phan Huy Chú coi pháp luật thời Lê như “mẫu mực để trị
nước, khuôn phép để buộc dân” (trong thời kì phong kiến). Giáo sư
Oliveroldman, chủ nhiệm khoa luật Đông Á (Đại học Luật Haward) nhận xét:
“Bộ luật thời Lê của nước Việt Nam truyền thống là một công trình bất hủ của
vùng Đại Đông Á truyền thống… trong đó có nhiều điều đã có thể so sánh
ngang về mặt chức năng với những quan điểm pháp luật ở Phương Tây cận
đại”.
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
4. Cải cách kinh tế, phát triển nông nghiệp
Vua Lê Thánh Tông được đánh giá là một vị vua minh quân không chỉ
bởi ông đã tiến hành những cải cách vừa có lợi cho chính quyền của ông mà
những cải cách đó còn phát huy được tiềm năng của kinh tế nông nghiệp, góp
phần phát triển kinh tế của đất nước. Ngay sau khi lên ngôi, Thánh Tông đã ban
hành các chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt với tư tưởng “trọng nông ức
thương”, thì ruộng đất trở thành vấn đề trung tâm của cải cách kinh tế. Các chế
độ ruộng đất tiếp tục được củng cố, hoàn thiện bởi những chính sách cải cách
phù hợp.
- Chế độ lộc điền với chính sách ban cấp ruộng lộc cho quý tộc, quan lại
Thời nhà Lê, chế độ lộc điền là đem ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà
nước ban cấp cho tầng lớp quan lại cao cấp. Chế độ được thi hành ngay từ thời
vua Lê Thái Tổ nhưng chưa trở thành quy chế. Đến thời vua Thánh Tông, chính
sách này mới được quy định và ban hành thống nhất trong cả nước.
Ruộng đất dùng để ban cấp chủ yếu gồm loại ruộng đất công làng xã.

Chính sách quân điền là một đòn tấn công mạnh mẽ nhằm phủ định quyền
chi phối ruộng đất công của làng xã theo tục lệ, buộc làng xã phải tuân thủ những
nguyên tắc quy định về phân chia và hưởng thụ bộ phận ruộng đất công theo quy
định của nhà nước. Trên nguyên tắc, ruộng đất công làng xã không được đem
mua bán, chuyển nhượng, quyền đó thuộc nhà nước trung ương, nhà vua.
Nhà nước trung ương, nhà vua với chính sách quân điền đã trở thành người
chủ lớn nhất trong cả nước và nông dân làng xã trở thành tá điền của nhà nước,
làng xã rơi xuống địa vị là người quản lý ruộng đất cho nhà nước trung ương và
nhà vua. Như vậy, chính sách quân điền cũng đã góp phần quan trọng vào việc
xác lập và thống trị của những quan hệ sản xuất phong kiến – quan hệ sản xuất
địa chủ - tá điền trong xã hội ở thế kỉ XV. Tuy nhiên, chính sách này còn chứa
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
đựng sâu sắc tính giai cấp và bộc lộ những hạn chế khi chính nó lại là nguyên
nhân làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa nhà nước phong kiến với nông dân. Chính
sách quân điền của Lê Thành Tông đã trói buộc người nông dân vào ruộng đất để
bóc lột thuế và chịu mọi gánh nặng sưu dịch của nhà nước trong điều kiện nền
kinh tế hàng hóa đang có điều kiện thuận lợi và chế độ tư hữu đang ngày càng
thắng thế.
- Chính sách khẩn hoang và lập đồn điền
Bên cạnh việc củng cố các chế độ ruộng đất, nhà Lê ngay từ rất sớm còn
đưa ra những chính sách khuyến khích nông dân các làng xã khai hoang lập
làng để phục hồi nền kinh tế nông nghiệp, đặc biệt thời vua Lê Thánh Tông.
Điều 349 trong bộ luật Hồng Đức quy định việc khai hoang, khai thác hết diện
tích cày cấy thành pháp lệnh của nhà nước.
Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn đẩy mạnh việc khai hoang lập đồn điền.
Chính sách này được bắt đầu thi hành từ thời Thái Tổ và được mở rộng dưới
thời Thánh Tông. Chỉ dụ năm 1481 nêu rõ mục đích lập đồn điền của nhà nước
“để khai thác hết sức nông nghiệp, mở rộng nguồn súc tích cho nước”. Lực
lượng được huy động bao gồm cả quân lính đồn trú, tù binh, tội nhân. Nhà nước

tục giấy tờ của những người ứng thí. Sau đó cứ 3 năm, nhà nước mở 1 kì thi.
Vua khuyến khích việc học tập thi cử bằng cách đặt lệ xướng danh, treo bảng,
ban áo mũ, phẩm tước, dựng bia tiến sĩ và lệ vinh quy bái tổ. Những biện pháp
nói trên đã góp phần quan trọng phát triển giáo dục trong nước.
Vua Thánh Tông cho xây dựng lại Văn Miếu, mở rộng Thái học viện,
làm kho Bí thư để chứa sách, mở thêm Tú lâm cục và Sùng văn quán để bồi
dưỡng con em quý tộc, quan lại cao cấp… Nội dung học tập được quy định đầy
đủ rõ ràng, các học quan được tuyển chọn cẩn thận. Nhờ đó, việc học do nhà
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
nước tổ chức được đẩy mạnh, đồng thời việc học trong dân gian do tư nhân mở
trường cũng được khuyến kích phát triển
Bên cạnh sự phát triển về giáo dục, Lê Thánh Tông còn có đóng góp nhất
định đối với nền văn hóa Đại Việt thế kỉ XV. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô
Sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam dư
hạ là những giá trị văn hóa tiêu biểu của triều đại Lê Thánh Tông. Nói tới công
lao của ông đối với nền văn hóa dân tộc, không thể không kể đến việc ông hủy
án, minh oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi đã bị tiêu
hủy. Chính Lê Thánh Tông đã cho tạc bia về Nguyễn Trãi: "Ức Trai tâm
thượng quang khuê tảo" (Tấm lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê). Lê Thánh Tông
còn tự lập ra hội Tao Đần gồm 28 ông Tiến sĩ giỏi văn thơ nhất nước thời đó gọi
là “Tao Đàn nhị thập bát tú”.
Về tư tưởng, tôn giáo, thời Lê sơ đã đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn. Vua
Lê Thánh Tông đã đưa các giáo lý nhà Nho vào các huấn điều trong bản 24
huấn điều của Lê Thánh Tông. Những quy định khắt khe của Nho giáo cũng
được đưa vào luật Hồng Đức. Còn đối với Đạo giáo và Phật giáo, ông thi hành
chính sách chặt chẽ hơn. Năm 1461, nhà nước cấm quan lại, nhân dân không
được xây thêm chùa quán mới, không được tự tiện đúc chuông, tô tượng. Hoạt
động của bọn thầy cúng, thầy bói, đạo sĩ bị ngăn cấm.
Có thể xem thời Lê sơ, đặc biệt là triều vua Lê Thánh Tông đã có nhiều

3. Văn hóa, giáo dục
Với những chính sách về giáo dục – khoa cử, Lê Thánh Tông đã phần nào
tạo ra một hệ thống quan lại trí thức có tài, đủ năng lực quản lí đất nước. Và
những đóng góp của Lê Thánh Tông trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục đã góp
phần làm phong phú hơn kho tàng văn hóa Đại Việt nói riêng và văn hóa dân
tộc Việt Nam nói chung.
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận hạn chế của chính sách văn hóa
do Lê Thánh Tông đưa ra trong việc độc tôn Nho giáo, hạn chế Phật giáo. Đây
là nguyên nhân gây nên những mâu thuẫn trong giới những người theo đạo, là
một trong những mầm mống gây nên sự bất ổn định về xã hội.
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Việc giảng dạy chuyên đề và phương pháp dạy chuyên đề đang là vấn đề
được quan tâm hiện nay tại các trường chuyên, nhất là đối với bộ môn Lịch sử.
Với đặc thù kiến thức lịch sử bao gồm nhiều yếu tố: sự kiện lịch sử, các niên
đại, địa danh, nhân vật lịch sử, các biểu tượng, khái niệm lịch sử, các quy luật,
… Do đó phương pháp giảng dạy chuyên đề lịch sử phải đáp ứng được mục tiêu
bài học, kiến thức chuyên môn và phát huy được tính tích cực của học sinh.
Thực tế cho thấy không có một phương pháp dạy học nào là toàn năng có thể
phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học. Mỗi phương pháp và hình thức
dạy học đều có những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc sử
dụng nhuần nhuyễn các phương pháp giảng dạy và việc phối hợp đa dạng các
phương pháp, hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình là phương hướng quan
trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
Nhận thức được sự quan trọng trong việc sử dụng các phương pháp dạy
học phù hợp với đặc thù bộ môn và với từng kiến thức chuyên đề, trong quá
trình giảng dạy chúng tôi cũng đã sử dụng khéo léo các phương pháp dạy học
truyền thống và đổi mới phương pháp – sử dụng các phương pháp dạy học mới.
Với tuổi đời và tuổi nghề còn non trẻ, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số

cầu học sinh xác định các từ “chốt”, từ “khóa” cơ bản trong mỗi nội dung cuộc
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
cải cách của vua Lê Thánh Tông như: về hành chính đó là chế độ quân chủ
chuyên chế trung ương tập quyền đạt đến đỉnh cao, về luật pháp là: đề cập đến
các mặt hoạt động xã hội và mang tính dân tộc sâu sắc,…
2. Phương pháp dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư
duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn. Học sinh được đặt trong một tình
huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua
việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp
nhận thức. Dạy học nêu vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực
nhận thức của học sinh. Vì vậy, phương pháp này được sử dụng thưởng xuyên
trong dạy học lịch sử.
Cụ thể: Chúng tôi nêu vấn đề để học sinh cùng thảo luận về cuộc cải
cách hành chính của Lê Thánh Tông: Các học giả nước ngoài cho rằng hệ
thống hành chính quốc gia thời Lê Thánh Tông rập khuôn mô hình nhà Minh
Trung Quốc, không có gì mới và đặc sắc. Liệu ý kiến đó có đúng hay không?
Với vấn đề được đưa ra chúng tôi đã định hướng cho học sinh qua 3 bước:
Bước 1: Nhận biết vấn đề: hệ thống hành chính quốc gia thời Lê Thánh
Tông rập khuôn mô hình nhà Minh Trung Quốc, không có gì mới và đặc sắc.
Bước 2: Tìm các phương án giải quyết
Bước 3: Quyết định phương án giải quyết.
Trong dạy học nêu vấn đề giáo viên nên là người định hướng, hỗ trợ học
sinh nhận thức vấn đề và giải quyết vấn đề dựa trên kiến thức đã được học một
cách linh hoạt, còn bản thân học sinh mới là người chủ động trong việc giải
quyết vấn đề.
Để giải quyết được vấn đề chúng tôi đưa ra, học sinh cần có các nhiệm vụ
sau: Thứ nhất, đọc tài liệu, tìm hiểu vấn đề. Khi tiếp xúc với các tài liệu khác
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm

C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay có nhiều hình thức
trao đổi, thường có các dạng đàm thoại phổ biến sau: Đàm thoại mở đầu, tái
hiện; đàm thoại phân tích và khái quát; đàm thoại tìm tòi phát hiện; đàm thoại
ôn tập, tổng kết.
Để sử dụng có hiệu quả cao, trong quá trình dạy học cần chú ý những vấn
đề sau:
+ Việc đặt câu hỏi trong đàm thoại có ý nghĩa rất quan trọng, vì vậy phải
xây dựng hệ thống câu hỏi chính có những câu hỏi phụ để gợi ý khi cần thiết
+ Khi đặt câu hỏi cho toàn lớp, cần chú ý thu hút sự tập trung của từng
học sinh và câu hỏi phải vừa sức
+ Có thể phối hợp với các phương pháp khác như thuyết trình
Cụ thể: Khi dạy Mục II/4. Cải cách kinh tế, phát triển nông nghiệp, phần
Chính sách quân điền đối với ruộng đất công làng xã, để học sinh hiểu được tác
dụng và hạn chế của chính sách này, chúng tôi sử dụng phương pháp vấn đáp là
chủ yếu (trọng tâm sử dụng loại vấn đáp phân tích và khái quát), kết hợp với
phương pháp thuyết trình.
Sau khi sử dụng phương pháp thuyết trình để trình bày các nguyên tắc
của chính sách này, chúng tôi đưa ra hệ thống câu hỏi chính, phụ phù hợp với
cấp độ nhận thức của học sinh:
- Câu hỏi chính: Qua những nguyên tắc của chính sách quân điền, em có
nhận xét gì về chính sách này?
- Câu hỏi phụ, gợi ý:
+ Những nguyên tắc đó thể hiện điều gì?
+ Chính sách quân điền có tác dụng và hạn chế gì đối với sự thống trị
của nhà nước phong kiến Đại Việt?
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Sau đó, chúng tôi đưa ra kết luận nhằm làm rõ tác động của chính sách
quân điền của Lê Thánh Tông đối với sự phát triển của đất nước.

trước. Thiết chế chính trị như trên rõ ràng chưa chặt chẽ, chưa hoàn chỉnh,
mang tính phân tán. Nhược điểm này đã bộc lộ ngay từ nửa sau thế kỷ XIV với
sự sụp đổ của nhà Trần.
5. Phương pháp sử dụng sơ đồ
Sơ đồ nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng những mô hình, hình học
đơn giản, diễn tả tổ chức một cơ cấu xã hội, một chế độ chính trị, mối quan hệ
giữa các sự kiện lịch sử Xây dựng sơ đồ, mô hình hóa nội dung học tập chính
là kết nối các sự kiện lịch sử với nhau theo logic phát triển bên trong của các
kiến thức lịch sử. Việc sử dụng sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử có tác
dụng rất quan trọng trong việc giúp học sinh tiếp thu nhanh kiến thức, dễ nhớ và
dễ hiểu.
Cụ thể: Để dạy phần xây dựng và củng cố chính quyền, chúng tôi cung
cấp sơ đồ trống về tổ chức bộ máy Nhà nước thời Lê Thánh Tông, yêu cầu học
sinh đọc sách, điền thông tin kiến thức vào sơ đồ trống. Việc sử dụng sơ đồ tổ
chức bộ máy nhà nước thời Lê Thánh Tông có hai tác dụng cơ bản: thứ nhất,
định hình kiến thức cho học sinh, hiểu được “khung sườn” cơ bản của bộ máy
nhà nước từ trung ương đến địa phương dưới cuộc cải cách của Lê Thánh Tông;
thứ hai: học sinh là người tích cực chủ động trong việc tự hình thành kiến thức
và hoàn thiện kiến thức, còn giáo viên đóng vai trò là người hỗ trợ, định hướng
cho học sinh
http://123doc.org/trang-ca-nhan-165450-nguyen-van-chuyen.htm
C ẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Để học sinh hiểu sâu kiến thức, chúng tôi cung cấp sơ đồ tổ chức bộ máy
nhà nước thời Lý – Trần, yêu cầu học sinh quan sát, so sánh hai tổ chức bộ máy
nhà nước, trên cơ sở đó rút ra được kết luận về sự khác biệt và tiến bộ trong
cuộc cải cách của Lê Thánh Tông: Nếu so với những triều vua thời Lý – Trần,
hệ thống hành chính quốc gia thời Lê sơ đặc biệt ở thời Lê Thánh Tông đã thể
hiện một bước tiến cơ bản. Và có thể nói nó đã đạt đến đỉnh cao của mô hình
nhà nước quân chủ chuyên chế quan liêu tập quyền. Quyền lực tuyệt đối nằm
trong tay vua, các chức quan trung gian như Thừa Tướng, Đại hành khiển đều bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status