Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Tôi đã xây dựng
chuyên đề này trên cơ sở những số liệu trung thực có nguồn gốc rõ ràng, được
lấy từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây./.
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
1
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây
Bảng 01 Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bảng 02 Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn
Bảng 03 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo quy mô doanh nghiệp
Bảng 04 Số lượng DNV&N có quan hệ vay vốn
Biểu đồ 01 Tỷ trọng về số lượng DNV&N với tổng số DN có quan hệ vay vốn
Biểu đồ 02 Tốc độ tăng trưởng số lượng DNV&N
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
2
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng Thương mại
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
CN Chi Nhánh
TW Trung ương
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DN Doanh nghiệp
DA Dự án
LỜI NÓI ĐẦU
chức tín dụng trên thị trường, nếu NHTM nâng cao được chất lượng tín dụng
thì cũng chính là đã tạo được lòng tin ở khách hàng của mình. Trong nền kinh
tế thị trường, khách hàng được coi là “thượng đế” nên họ có quyền lựa chọn
bất kỳ một NH nào đó làm đối tác. Hay nói cách khác, khách hàng tìm đến NH
nào mà ở đó thực sự tạo điều kiện và giúp đỡ họ thực hiện việc kinh doanh đạt
hiệu quả thông qua quan hệ tín dụng và các dịch vụ khác. Hơn nữa, về phía NH
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
4
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
sẽ có cơ hội tăng số lượng khách hàng, thu hút được thêm nhiều nguồn vốn, tạo
điều kiện mở rộng tín dụng.
Nâng cao chất lượng tín dụng, tình hình tài chính của NHTM được cải
thiện, tạo ra những thế mạnh trong quá trình cạnh tranh, giúp cho NH tránh và
hạn chế được những rủi ro, những tổn thất to lớn có thể xảy ra, góp phần làm
lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng và tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ
tín dụng. Chất lượng tín dụng quyết định cho sự tồn tại và phát triển của từng
NHTM nói riêng và toàn bộ hệ thống NH nói chung.
Qua những vấn đề được phân tích ở trên ta thấy rõ sự cần thiết khách
quan của việc củng cố tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng của các
NHTM.
Từ thực tế ở Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây, và sau
thời gian học tập nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, tôi chọn đề tài:
"Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng Đầu và Phát triển Sơn Tây" để làm chuyên đề nghiên cứu
của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
1.1. Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
1.1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
DNV&N là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay
doanh thu. DNV&N có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là
DN siêu nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa. Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế
giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao
động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở
nước mình. Ở , không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các DN có số vốn đăng
ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300
người được coi là Doanh nghiệp Vừa và nhỏ (không có tiêu chí xác định cụ thể
đâu là DN siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa).
1.1.1.2. Vai trò, đặc điểm của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế, chúng ta thường nói tới "Doanh nghiệp" và được
chúng ta hiểu một cách thông thường là những đơn vị kinh tế được thành lập
bởi một cá nhân hay bởi các tổ chức, được nhà nước cho hoạt động nhằm thực
hiện hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực nhất định vì mục đích công
ích hay lợi nhuận. Sự vận động của nền kinh tế nhất thiết phải có một yếu tố
quan trọng đó là DN, không có hoạt động của các DN thì nền kinh tế không thể
lưu thông và hoạt động.
DNV&N có vai trò lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của rất nhiều quốc
gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Trong bối cảnh đang chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới,
DNV&N đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng
ổn định và bền vững của nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư
phát triển; đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân;
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%).
Có nhiều loại hình DN khác nhau, nếu phân loại DN theo hình thức sở
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
hữu thì có DN tư nhân, DN nhà nước, DN liên doanh, DN cổ phần… Nếu phân
loại theo quy mô nguồn vốn thì có DN lớn và DNV&N. Trong đề tài này, tôi
muốn đề cập đến DNV&N vì đây là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong hệ
thống các DN và đây cũng là những DN đóng góp một vai trò không nhỏ trong
nền kinh tế. Nếu chúng ta có một định hướng đúng đắn đối với các DNV&N
thì sẽ có một sự thúc đẩy phát triển kinh tế to lớn, từ đó làm điểm tựa vững
chắc để đưa đất nước phát triển.
Hiện nay, các DNV&N tập trung chủ yếu ở thành thị ,chủ yếu ở các
thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và
các tỉnh thuộc khu vức đồng bằng bắc bộ.
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, số lượng DNV&N ngày
càng tăng mạnh. Như tên gọi của mình, DNV&N mang những đặc điểm riêng
rất khác biệt so với các DN lớn trên thị trường. DNV&N mang nhưng đặc
trưng cơ bản sau:
* Các DNV&N chiếm số lượng lớn trên thị trường, và tốc độ gia tăng cao
Theo luật DN quy định, việc thành lập DNV&N yêu cầu số vốn thành lập nhỏ,
vì vậy số lượng DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Với ưu
điểm là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức
kinh tế tư nhân đứng ra thành lập DN của mình. Mặt khác, từ trước đó đã tồn
tại không ít các DN nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác
xã, các DN nhà nước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn
pháp định nhỏ như vậy, số lượng các DNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng
trong nền kinh tế và có tốc độ gia tăng cao.
* Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít
nặng hơn là phá sản. Việc quản lý các DN tư nhân cũng rất khó khăn. Nhiều
DN còn cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiện đúng chế
độ kế toán thống kê. Để quản lý tốt các DNV&N, đòi hỏi một sự theo dõi sát
sao và thực sự có hiệu quả. Như vậy có thể mới kiểm soát được hoạt động của
loại hình DN này.
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
10
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
* Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều
Không kể các DN nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạt
động ổn định, đa số các DNV&N đều là các DN tư nhân được thành lập trong
hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các DN Nhà nước vừa được tách
ra. Với những DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh
tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng
ngũ những DN lớn. Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình DN này
chưa nhiều. Với số vốn ít và bề dày kinh nghiệm hạn chế, các DNV&N gặp
khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡ với
những thay đổi trong quá trình hoạt động của mình.
* Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu
Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các DN của nước ta do đặc điểm
nền kinh tế chưa thực sự phát triển. Ở DN hiện nay, một thực trạng phổ biến
trong các DNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 năm
trong ngành điện tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt
may đã sử dụng được 15 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm
của chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi
phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này
dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN,
đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp.
Nhiều DNV&N rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất. Ở các nước trên thế giới thì hoạt
động tín dụng chiếm 50-60% lợi nhuận, còn ở thì chiếm tới 60-70%. Song
song với hoạt động huy động vốn, tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chính duy trì
hoạt động của NH. Hoạt động tín dụng NH được dựa trên quyết định của thống
đốc NH nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về
việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN. Theo đó quan
hệ tín dụng giữa Doanh nghiệp và NH có thể hiểu như sau:
- Doanh nghiệp phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định.
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
12
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các khoản tín dụng của NH chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của
DN cùng khách hàng và các khoản vay mượn khác. Bản thân NH cũng có
trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho các khoản mượn nói trên. NH thu lợi
nhuận là nhờ thu chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụng
vốn vay để thực hiện hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Như vậy, để duy
trì sự tồn tại và phát triển của mình, NH phải yêu cầu DN thực hiện đúng
cam kết này.
- Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận
với NH, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của NH
cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các NH, và mỗi NH
đều có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Do vậy, khi cho cấp tín dụng
trong phạm vi hoạt động của mình, NH yêu cầu DN phải sử dụng vốn đúng
mục đích như đã thoả thuận với NH.
- NH tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả. Phương án hoạt động của DN
đảm bảo khả năng thu hồi vốn và lãi của NH. Mặt khác, để đảm bảo đòi
được nợ, các NH thường yêu cầu tài sản đảm bảo với mỗi khoản vay.
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi.
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của DN không phù hợp
về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào
dự đoán ngân quỹ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo
điều kiện thuận lợi cho DN trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày
trong tháng, vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp,
mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy
cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
* Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
NH đối với các DN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
14
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
để được cấp hạn mức thấu chi. Một số DN sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng
thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc
biệt mới vay NH, tức là vốn từ NH chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định
của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay, DN phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay.
NH sẽ phân tích DN và ký hợp đồng cho vay, xác định mức cho vay, thời hạn
giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay
được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.
Nhu cầu vay
Ngân hàng
=
Chi phí cần thiết cho SXKD - Vốn tự có -
nhập, NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN. Tuy nhiên,
do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm
soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp
báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
* Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. DN khi mua hàng có thể thiếu vốn. NH có thể cho vay để mua hàng
và sẽ thu nợ khi DN bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn
xin vay luân chuyển. NH và DN thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn
mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín
dụng có thể được thoả thuận trong 1năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời
hạn hoàn trả mà là thời hạn NH xem xét lại mối quan hệ giữa NH và DN cũng
như tình hình tài chính của DN.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá nên cả NH và DN đều phải
nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong
thời gian tới.
Khi vay, DN chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số
tiền cần vay. NH cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình thức này, giá trị
hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối
tượng được NH cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho NH.
Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng
quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho
trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay. Cho vay luân chuyển thường được
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
16
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
áp dụng đối với các DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ
ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với NH.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho DN. Thủ tục cho vay chỉ cần
NH cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết các
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói
giảm nghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức
trung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra
bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho
một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc
không đủ tài sản thế chấp.
NH cũng có thể cho vay thông quá người bán lẻ các sản phẩm đầu vào
của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử
dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món
vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa NH. Trong trường hợp như vậy, cho vay
qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay.
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của NH. Tuy
nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác
cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng
hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.2. Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể, vừa trừu
tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng. Chỉ khi chất lượng
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
18
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả
năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,
tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển.
Từ những điều trên, ta có thể rút ra:
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức
mạnh một NH trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được
khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng,
chi phí tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…
- Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy
trình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với
nhau vì một mục đích chung, do đó để đạt được chất lượng tín dụng cần có sự
quản lý.
Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử
dụng nhằm đạt được chất lượng tốt.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có các
chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở
một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Chỉ tiêu
này được tính theo công thức (1.1) dưới đây:
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
=
Nợ xấu
Tổng dư nợ
x 100% ≤ 5%
(1.1) (1.1)
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
thời gian quá hạn của khoản vay chứ chưa tính đến tiêu chí rủi ro của khoản
vay nên chưa phản ảnh chính xác chất lượng của hoạt động tín dụng.
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập
và sử dụngdự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức
tín dụng” và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt
động NH của tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN ngày 22/04/2005” thì dư nợ của các tổ chức tín dụng được chia làm 05
nhóm, cụ thể:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu
hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ
chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và
thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ của DN trả đầy
đủ nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối
với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và
các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng
hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1. Trường hợp
một DN có nợ cơ cấu lại bao gồm nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem
xét đưa vào nợ nhóm 01 khi DN đã trả đầy đủ (nợ ngắn hạn và nợ trung, dài
hạn) cả gốc và lãi số nợ đã được cơ cấu lại trong thời gian quy định trên, đồng
thời các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi
Nhóm 3: Các khoản nợ tổn thất từ trên 5%-20 % giá trị nợ gốc.
Nhóm 4: Các khoản nợ tổn thất từ trên 20% - 50% giá trị nợ gốc.
Nhóm 5: Các khoản nợ tổn thất trên 50% giá trị nợ gốc.
Việc phân loại nợ theo Quyết định 493và quyết định 18 của Ngân hàng
Nhà nước vừa dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay, vừa dựa vào
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
23
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
tiêu chí rủi ro của khoản vay đã làm cho các NH phải đánh giá lại thực sự các
khoản nợ đã cho khách hàng vay và có thể đánh giá chính xác hơn về chất
lượng tín dụng của mình.
1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.2) dưới đây:
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng dư nợ
(1.2)
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của NH
với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy
động. Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớn
chứng tỏ NH sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của NH sẽ hiệu quả
hơn, điều này sẽ không đúng. Vậy tỷ lệ này lớn tốt hay nhỏ tốt? Chúng ta chưa
thể khẳng định được, bởi nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì NH phải tìm kiếm
nguồn vốn có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì NH
sẽ rơi vào tình trạng thừa vốn. Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp
chúng ta so sánh khả năng cho vay và huy động vốn của một NH.
1.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một
NHTM trong thời gian nhất định, thường là một năm.
xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận cho NH. Chỉ tiêu này
cao chứng tỏ các khoản cho vay của NH sinh lời và ngược lại chỉ tiêu này thấp
chứng tỏ các khoản vay không sinh lời, đồng nghĩa với chất lượng tín dụng
chưa tốt. Đánh giá chất lượng khoản tín dụng trên cơ sở căn cứ vào lợi nhuận
thu được của các NHTM, đây cũng là chỉ tiêu tương đối vì nó phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: chính sách lãi suất, chính sách khách hàng v.v. Thông thường
trong hoạt động NH, nếu chấtlượng tín dụng NHTM tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp thì
lợi nhuận từ hoạt động tín dụng sẽ cao hơn khi cùng một mức dư nợ so với các
NH khác.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
Vừa và nhỏ
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài
chính
25