Lời nói đầu
Bớc sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, nền kinh tế nớc ta đã
có những bớc chuyển đáng mừng và liên tục tăng trởng. Bằng đờng lối phát triển
kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nớc đã khơi dậy đợc những tiềm năng, những
nguồn lực cùng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nền kinh tế
hoạt động một cách sôi động nh hiện nay với mọi thành phần kinh tế, trong đó có
hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Làm thế nào để đạt đợc hiệu quả cao trong kinh doanh, nhất là kinh doanh tiền
tệ, luôn là vấn đề đặt ra cho mọi nhà lãnh đạo Ngân hàng, không một Ngân hàng
nào lại muốn mình tồn tại trong tình trạng thua lỗ để một sớm, một chiều phá sản.
Hoạt động kinh doanh là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của các NHTM.
Nó có ảnh hởng tích cực đến nền KTQD, đến sự tồn tại và phát triển của bản thân
mỗi NHTM. Trong đó nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ quan trọng và chiếm tỉ
trọng lớn trong toàn bộ tài sản có của Ngân hàng. Đây là nguồn vốn hình thành
chủ yếu từ việc huy động của khách hàng, do vậy Ngân hàng phải có trách nhiệm
sử dụng nó một cách có hiệu quả, nghĩa là cho vay phải thu hồi đợc nợ (gốc + lãi).
Để thực hiện tốt nghiệp vụ tín dụng phải giải quyết đợc một loạt các vấn đề về kỹ
thuật nghiệp vụ, trong đó có nghiệp vụ "kế toán cho vay" nhằm phục vụ cho việc
hạch toán quá trình cho vay, theo dõi thu nợ và thu lãi để đảm bảo an toàn tài sản
cho Ngân hàng và cho khách hàng.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Láng Hạ (NHN
0
& PTNT Láng
Hạ) khi phải đối mặt trực tiếp với thị trờng đặc biệt là thị trờng Hà Nội- nơi có môi
trờng Ngân hàng cạnh tranh sôi động bậc nhất cả nớc. Với chiều dài lịch sử không
lớn và với những bớc đi ban đầu NHNN&PTNT Láng Hạ đã gặt hái đợc những
thành công đáng kể, bên cạnh đó còn xuất hiện những tồn tại, những vấn đề cha
hoàn thiện trong quá trình hạch toán kinh doanh.
1
Nhận thức đợc tầm quan trọng và mức độ phức tạp của kế toán cho vay, kết hợp
với nhiệm vụ của đợt thực tập cuối khoá, em chọn đề tài "Giải pháp hoàn thiện
- Chơng I: Cơ sở lý luận về kế toán cho vay
- Chơng II: Thực trạng kế toán cho vay tại NHNN&PTNT Láng Hạ
- Chơng III: Một số kiến nghị và giải pháp
Chơng 1.
3
Cơ sở lý luận về kế toán cho vay.
1.1. Một vài nét về NHTM và hoạt động tín dụng Ngân hàng.
1.1.1 Một vài nét về NHTM.
1.1.1.1. Định nghĩa NHTM.
Trong lịch sử hình thành NHTM thì Ngân hàng thơng mại ra đời là một tất yếu
khách quan do đòi hỏi của nền kinh tế. Qua một quá trình phát triển lâu dài từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, NHTM đang dần dần hoàn thiện và phát huy
các nghiệp vụ cơ bản của mình.
Việt Nam trong bớc chuyển đổi sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà n-
ớc, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Mọi
thành phần kinh tế đợc tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật đã tạo điều
kiện cho nhiều Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác ra đời. Để tăng cờng quản lý,
hớng dẫn hoạt động của các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân
trong nền kinh tế. Điều 20 của Luật tổ chức tín dụng Việt Nam đợc quốc hội thông
qua tháng 12/1997 có nêu định nghĩa " Ngân hàng Thơng mại là loại hình tổ chức
tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên
quan nh hoạt động tiền gửi, cho vay, thanh toán và các dịch vụ bảo lãnh ".
1.1.1.2. Chức năng của NHTM.
NHTM ra đời và phát triển nó thực hiện những chức năng cơ bản sau:
1.1.1.2.1. Chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán.
Chức năng thủ quỹ là chức năng đầu tiên củaNHTM, gắn liền với sự ra đời của
NHTM và làm cơ sở cho Ngân hàng thực hiện các chức năng tín dụng, thanh toán
và các dịch vụ khác.
Ngay từ khi các NHTM cha ra đời, các thơng gia buôn bán lớn có một lợng của cải
hoạt động sản xuất lu thông, mở rộng nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất. Đối với NHTM hoạt động tín dụng là hoat động chủ
yếu mang lại nguồn thu lớn nhất cho Ngân hàng, bên cạnh đó nó cũng là hoạt
động chứa đựng nhiều rủi ro.Vì vậy Ngân hàng nghiên cứu, áp dụng biện pháp
quản lý nhằm mở rộng hoạt động và đảm bảo an toàn tín dụng.
1.1.1.2.3.Chức năng tạo tiền.
Qúa trình tạo tiền của NHTM đợc thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và
thanh toán trong hệ thống Ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống
Ngân hàng trung ơng của mỗi nớc. Khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền
gửi ban đầu tại một Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn
gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều Ngân
hàng. Một Ngân hàng này cho vay xong là hết vốn, thì số vốn đó lại chuyển sang
Ngân hàng khác trở thành vốn tiền gửi và làm tăng thêm vốn tiền gửi của các Ngân
hàng khác. Bây giờ ta xem xét quá trình tạo tiền nh sau: Một NHTMA huy động
tiền gửi 10tr thì sau đó thực hiện dự trữ bắt buộc 1tr ( tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10%),
khi đó NHTMA có thể cho vay tối đa 9tr. Nhng nếu cả hệ thống các chi nhánh của
NHTMA sử dụng 9tr đó cho khách hàng của mình vay bằng cách chuyển vốn từ
chi nhánh này sang chi nhánh khác, liên tiếp nh vậy đối với nhiều khách hàng thì
hệ thống NHTMA có khả năng biến 10tr tiền gửi ban đầu tăng lên gấp nhiều lần.
Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên quan chặt chẽ với chính sách tiền
tệ của Ngân hàng trung ơng. Thông qua đó Ngân hàng trung ơng có thể tăng hay
giảm lợng tiền cung ứng bằng việc thayđổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm điều tiết vĩ
mô, ổn định nền kinh tế.
1.1.2. Hoạt động tín dụng Ngân hàng.
1.1.2.1.Vai trò của tín dụng Ngân hàng.
6
Trong lịch sử hình thành và phát trỉên Ngân hàng, tín dụng Ngân hàng đợc coi
là hoạt động nghiệp vụ sơ khai nhất và nó tồn tại cho đến ngày nay, hoạt động tín
dụng Ngân hàng đã mang lại cho Ngân hàng đến trên70% thu nhập và thực chất
nghiệp vụ tín dụng là "đi vay để cho vay", là việc ngời sử dụng vốn vay phải hoàn
lớp dân c trong xã hội hình thành nguồn vốn cho vay. Trên cơ sở đó Ngân hàng tiến
hành đầu t vào những lĩnh vực có nhu cầu về vốn. Nh vậy nhờ có hoạt động tín
dụng Ngân hàng, vốn đợc điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu để tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho tốc độ chu chuyển vốn kinh doanh đ-
ợc liên tục và có hiệu quả.
Tín dụng Ngân hàng là công cụ lãnh đạo kinh tế.
Hiện nay nớc ta đang áp dụng mô hình nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc, điều đó nói lên rằng Nhà nớc có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạch định
và chỉ đạo thực hiện các chiến lợc kinh tế thông qua công cụ tài chính tín dụng
nhằm khai thác mọi tiềm năng để chuyển hớng cơ cấu phát triển kinh tế cho phù
hợp với chiến lợc phát triển kinh tế. Trên cơ sở định hớng chung của Nhà nớc, tín
dụng Ngân hàng tiến hành tập trung vào những ngành trọng điểm nhằm đáp ứng
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc, nâng cao mức sống cho ngời lao động,
góp phần vào sự phát triển kinh tế.
Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao
lu kinh tế quốc tế thông qua việc tạo nguồn vốn đầu t kinh doanh hàng hoá xuất
nhập khẩu và đầu t vốn ra nớc ngòai.
8
Tín dụng Ngân hàng còn là công cụ giúp Ngân hàng Nhà nớc cũng nh ban lãnh
đạo các Ngân hàng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả tạo
điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định.
1.1.2.1.2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với bản thân ngành Ngân hàng thể
hiện cụ thể:
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng: Chức năng chính của Ngân hàng
là "trung gian tài chính" của nền kinh tế, vì vậy hoạt động chính của Ngân hàng là
hoạt động tín dụng với nhiệm vụ đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho nền sản xuất xã
hội. Nói tới Ngân hàng là nói tới hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó chiếm tới
trên 70% hoạt động của một Ngân hàng, điều đó khẳng định sự tồn tại tất yếu của
nó và các Ngân hàng phải không ngừng đổi mới cơ chế tín dụng cho phù hợp với
đặc điểm nền kinh tế.
Nói tóm lại, tín dụng Ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế
thị trờng, nó phát huy vai trò là trung gian tài chính của mình để xứng đáng là đòn
bẩy thúc đẩy mọi thành phần kinh tế phát triển. Nếu tín dụng không đợc sử dụng
đúng mục đích thì hậu quả sẽ là khó lờng cho cả Ngân hàng và khách hàng, ảnh h-
ởng rất lớn đến nền kinh tế. Do vậy chính sách tín dụng đợc coi là bộ phận cấu
thành rất quan trọng trong chính sách tiền tệ quốc gia.
1.1.2.2. Các loại hình cho vay.
1.1.2.2.1 Cho vay từng lần.
Cho vay từng lần là cho vay theo phơng thức tín dụng thông thờng đợc áp dụng
tơng đối phổ biến trong cho vay vốn lu động cũng nh trong cho vay trung, dài hạn.
Loại cho vay này áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn
10
không thờng xuyên, hoặc khách hàng mà Ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp
dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn chặt chẽ an
toàn.
1.1.2.2.2 Cho vay theo hạn mức tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng là loại cho vay trong đó đợc xác định và thoả
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản
xuất kinh doanh và đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn th-
ờng xuyên sản xuất kinh doanh ổn định, có tín nhiệm với Ngân hàng.Tuỳ theo thoả
thuận giữa Ngân hàng và khách hàng, Ngân hàng cho khách hàng vay theo mức tín
dụng đã ký trong hợp đồng tín dụng.
1.1.2.2.3. Cho vay theo dự án đầu t.
Ngân hàng thơng mại cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu t phát
triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án khác. phơng thức này áp dụng đối
với cho vay trung dài hạn.
Ngân hàng nơi cho vay cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận
mức vốn đầu t duy trì cho cả thời gian đầu t của dự án, phân định các kỳ hạn trả
nợ.
11
trong từng thời kỳ và không trái với quy định của pháp luật.
Sau khi xem xét các phơng thức cho vay, với trình độ còn hạn chế và khả năng
thực tế cho phép, em sẽ trình bày các nội dung về kế toán cho vay theo hai phơng
thức chính trong tín dụng ngắn hạn (cho vay từng lần và cho vay theo HMTD) và
tín dụng trung dài hạn. cụ thể đợc trình bày trong phần 2.
1.2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán Ngân hàng.
* Kế toán là gì?
Con ngời khi tiến hành làm bất kỳ việc gì cũng muốn đạt hiệu quả cao,nghĩa
là với chi phí tối thiểu phải đem lại lợi ích tối đa. Để đạt đợc điều đó, quá trình sản
xuất cần phải đợc định hớng và tổ chức thực hiện theo những định hớng đã định.
Từ đó xuất hiện nhu cầu tất yếu phải thực hện chức năng quản lý hoạt động sản
xuất - kinh doanh, và để btiến hành hoạt động quản lý cần phải có thông tin, trong
đó quan sát, đo lờng, tính toán và ghi chép các hoạt động là một trong các phơng
pháp thu nthập thông tin chủ yếu, mà phơng pháp đó chính là hạch toán, kế toán.
Vậy có thể nói hạch toán kế toán là việc quan sát, đo lờng, tính toán, ghi chép các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm thực hiện chức năng phản ánh và giám sát các
hoạt động kinh tế. Nh vậy, có thể kết luận rằng, sự ra đời của hạch toán nói chung
và hạch toán kế toán nói riêng là một tất yếu khách quan, do nhu cầu của sản xuất
và quản lý đòi hỏi.
Ngân hàng cũng nh bất kỳ một doanh nghiệp nào khác hoạt động sản xuất kinh
doanh trên thị trờng, vấn đề lợi nhuận mang tính chất sống còn. ở đó kế toán là nơi
13
phản ánh tất cả các số liệu liên quan đến hoạt động của Ngân hàng. Để điều hành
hoạt động kinh doanh Ngân hàng mang lại hiệu quả cao đòi hỏi ngời quản lý phải
nhận thức đợc vai trò của thông tin kế toán. Cụ thể:
Hạch toán kế toán cung cấp cho các nhà Ngân hàng biết đợc tình hình kinh tế,
tài chính, sự biến động trong quá trình sử dụng vốn, huy động vốn, phản ánh và
giám sát một cách liên tục, toàn diện và có hệ thống các loại tài khoản phản ánh
nguồn vốn và việc sử dụng vốn trong Ngân hàng. Từ thông tin mà kế toán Ngân
hàng cung cấp giúp cho ngời quản lý đề ra những quyết định điều hành kịp thời,
khách hàng nắm đợc những nội dung cơ bản của kỹ thuật nghiệp vụ Ngân hàng nói
chung và kỹ thuật nghiệp vụ Kế toán nói riêng góp phần thực hiện chiến lợc khách
hàng của Ngân hàng.
1.3. Sự cần thiết của Kế toán cho vay.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
"Kế toán cho vay là công việc tính toán, ghi chép một cách đầy đủ chính xác
các khoản thu nợ, thu lãi, theo dõi d nợ tín dụng Ngân hàng. Trên cơ sở đó bảo vệ
an toàn vốn cho vay của Ngân hàng và cung cấp các thông tin cần thiết cho việc
quản lý và điều hành hoạt động tín dụng của Ngân hàng".
Trong toàn bộ hoạt động của nghiệp vụ Kế toán Ngân hàng thì Kế toán cho vay
đợc xác định là nghiệp vụ Kế toán phức tạp và rất quan trọng, nó góp phần bảo vệ
an toàn vốn mà Ngân hàng đã đầu t cho các thành phần kinh tế. Các thành phần
kinh tế đợc vay vốn thể hiện ở số d trên tài khoản tiền vay tại nh thông qua việc tổ
15
chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, chính xác kịp thời các khoản cho vay thu
nợ, chuyển nợ quá hạn, đồng thời theo dõi giám sát chặt chẽ d nợ đảm bảo an toàn
vốn.
Kế toán cho vay phục vụ đắc lực trong việc chỉ đạo chấp hành chính sách tiền tệ
tín dụng của Đảng và Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng với cơ chế tín dụng hiện
nay, cụ thể là Ngân hàng là cơ quan chuyên môn đợc giao nhiệm vụ tổ chức thực
hiện triển khai áp dụng mức lãi suất mà Ngân hàng Nhà nớc đa ra điều kiện thuận
lợi để các thành phần kinh tế chủ động về vônd phục vụ cho quá trình sản xuất
kinh doanh. Việc thực hiện tốt công tác Kế toán cho vay làm tham mu đắc lực cho
công tác tín dụng để tín dụng thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế cũng nh giám đốc
bằng tiền với toàn bộ hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của Kế toán cho vay, việc tổ chức bộ máy Kế
toán trong mỗi Ngân hàng đều thực sự cần thiết, ở đó việc hạch toán Kế toán phải
phù hợp với từng phơng thức cho vay, loại cho vay, thời hạn cho vay nhằm mục
Vậy chứng từ dùng trong Kế toán cho vay là những giấy tờ đảm bảo về mặt
pháp lý các khoản cho vay của Ngân hàng. Mọi sự tranh chấp về các khoản cho
vay hay trả nợ đều phải giải quyết trên chứng từ Kế toán cho vay.
Chứng từ Kế toán cho vay gồm có:
- Chứng từ gốc: là chứng từ có giá trị pháp lý trong quan hệ tín dụng xác
định quyền và nghĩa vụ của hai bên đi vay và cho vay. Chứng từ gốc bao gồm: hợp
đồng tín dụng, đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ, bảng Kê tính lãi, khế ớc vay tiền.
Trong đó, đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ và khế ớc vay tiền dùng trong phơng
thức cho vay từng lần.
17
- Chứng từ ghi sổ: là chứng từ làm thủ tục Kế toán, là căn cứ đợc lập trên cơ sở
chứng từ gốc. Chứng từ ghi sổ gồm: giấy lĩnh tiền mặt hoặc séc lĩnh tiền mặt trong
trờng hợp cho vay bằng tiền mặt, các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt nh
uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc thanh toán trong trờng hợp cho vay bằng chuyển
khoản.
Đối với phơng thức tín dụng theo hạn mức tín dụng, khi cho vay không phải lập
khế ớc vay tiền mà chỉ phải ký kết hợp đồng tín dụng thì tính chất pháp lý của
khoản cho vay thể hiện ngay trên các chứng từ phát tiền vay nh séc lĩnh tiền mặt,
uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu cũng nh hàng tháng tiến hành đối chiếu xác nhận nợ
theo số d các tài khoản cho vay theo hạn mức tín dụng trên cơ sở hạch toán chi tiết.
Các chứng từ kế toán cho vay phải có đầy đủ tính pháp lý xác định quyền chủ
thể cho vay của ngân hàng đối với khách hàng, chỉ rõ những ngời nhận nợ và cam
kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
1.4.1.2 Nguyên tắc lập chứng từ kế toán cho vay
Để chứng từ kết toán cho vay phản ánh đợc chính xác sự biến động của hoạt
động cho vay thì phải đảm bảo đợc các nguyên tắc lập chứng từ sau:
- Lập chứng từ đợc tiến hành ngay khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh (kể cả
chứng từ do khách hàng lập hay chứng từ do nội bộ Ngân hàng lập). Có nh vậy thì
kế toán cho vay mới có căn cứ để phân loại, ghi sổ từng loại hình cho vay, thời hạn
vay, là căn cứ để ghi sổ và tổng hợp kế toán một cách kịp thời.
"ghi sổ kế toán trớc, chi tiền sau", tức là kế toán phải kiểm soát xem sổ d tài khoản
có đủ khả năng chi trả không, nếu đủ thì sau khi ghi sổ mới chuyển sang quỹ để
chi tiền.
19
- Các chứng từ chuyển khoản đợc ghi Nợ-Có đồng thời khi thực hiện kế toán
máy.
- Chứng từ luân chuyển trong nội bộ Ngân hàng phải do Ngân hàng tự tổ chức
luân chuyển lấy, không nhờ khách hàng luân chuyển hộ. Trên cơ sở những nguyên
tắc luân chuyển chứng từ trên, với chứng từ kế toán cho vay phải trải qua những
công đoạn cơ bản sau:
Thứ nhất, trớc khi cho vay, khách hàng phải nộp bộ hồ sơ cho vay để kế toán
kiểm soát (hợp đồng tín dụng, tên khách hàng vay vốn, số tiền cho vay, thời hạn
cho vay, lãi suất, kỳ hạn trả nợ) đây đợc coi là chứng từ gốc.
Thứ hai, hoàn thành giai đoạn một với bộ hồ sơ hợp lệ, kế toán căn cứ vào hợp
đồng tín dụng và các giấy nhận nợ đợc giám đốc Ngân hàng đồng ý cho vay, kế
toán sẽ hớng dẫn cho khách hàng lập các chứng từ thanh toán để nhận tiền vay. Khi
giải ngân kế toán, phải giám sát tính chặt chẽ của chứng từ và của đối tợng nhận
tiền vay đảm bảo tiền lãi vay đợc phát ra đúng mục đích và không vợt mức tiền đã
đợc giám đốc Ngân hàng duyệt cho vay.
Sau khi giải ngân kế toán yêu cầu khách hàng ký nhận nợ trên khế ớc hoặc giấy
nhận nợ. Nếu ngời nhận vay không phải là chủ tài khoản thì phải có giấy uỷ quyền
của chủ tài khoản.
Khi giải ngân song giấy tờ đó sẽ đợc lu vào hồ sơ vay vốn của khách hàng để
theo dõi thu nợ, lãi.
Sau khi giải ngân, kế toán vào sổ quỹ, thủ quỹ chuyển chứng từ cho kiểm soát.
Kiểm soát tiến hành kiểm soát lại, sau đó chuyển chứng từ sang cho bộ phận
nhật ký chứng từ.
Sau khi hoàn thành tập nhật ký chứng từ theo thứ tự tài khoản cho vay từ nhỏ
đến lớn, trong đơn vị vay thì xếp theo từng kỳ hạn trả thì tập nhật ký chứng từ sẽ đ-
ợc đánh số và đa vào nơi bảo quản theo quy định.
1.4.2.1. Tài khoản sử dụng trong kế toán cho vay.
Tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay thuộc tài sản có của Ngân hàng, nó dùng
để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tiền cho vay của Ngân hàng đối với ngời đi vay,
đồng thời cũng ghi chép, phản ánh số tiền ngời vay trả nợ Ngân hàng theo những
kỳ hạn nhất định.
Việc bố trí tài khoản cho vay trong hệ thống tài khoản kế toán Ngân hàng nh thế
nào là tuỳ thuộc vào yêu cầu của việc chỉ đạo hoạt động tín dụng của Ngân hàng
phục vụ nền kinh tế từng thời kỳ và yêu cầu bảo vệ tài sản của Ngân hàng.
Khi các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, t nhân có đủ điều kiện vay
vốn và đợc Ngân hàng cho vay thì kế toán Ngân hàng sẽ mở cho mỗi ngời vay một
tài khoản cho vay thích hợp (tài khoản phân tích).
Tài khoản cho vay thuộc nhóm 2 (20, 21, 22, 23) và có kết cấu:
Bên nợ: Ghi số tiền Ngân hàng cho khách hàng vay và đợc gia hạn nợ
Bên có: Ghi số tiền thu nợ từ khách hàng
Ghi số tiền chuyển sang nợ quá hạn (nếu có)
D nợ: Phản ánh số tiền khách hàng còn nợ NH và đợc gia hạn nợ đến
một thời điểm.
Trong quan hệ tín dụng giữa ngời vay và Ngân hàng không phải bao giờ ngời
vay cũng trả nợ Ngân hàng đúng hạn. Trờng hợp đến hạn trả mà ngời vay không đủ
khả năng trả nợ và cũng không đợc Ngân hàng gia hạn thì số nợ đó phải chuyển
sang tài khoản nợ quá hạn để theo dõi thu hồi với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất
cho vay bình thờng.
Kết cấu của tài khoản nợ quá hạn:
22
Bên Nợ: Ghi số tiền chuyển nợ quá hạn (từ TK cho vay chuyển sang)
Bên Có: Ghi số tiền thu nợ quá hạn
Ghi số tiền đợc điều chỉnh lại kỳ hạn (chuyển sang TK cho vay)
D Nợ: Phản ánh số nợ quá hạn cha hoàn trả.
Đi liền với hệ thống tài khoản cho vay là một loạt các TK liên quan khác nh:
Tài khoản lãi cộng dồn d thu, dự trả
30 hoặc 360 hay năm
Nếu trong thời gian tính lãi có thay đổi lãi suất mà sự thay đổi đó có hiệu lực
với khoản vay thì phải tính cho từng giai đoạn ứng trớc với lãi suất khác nhau hoặc
trong thời gian tính có biến động về số d Nợ thì cũng phải tính theo từng thời gian
có sự thay đổi đó.
1.2. Tính lãi theo tích số: áp dụng đối với khoản vay ngắn hạn có quy định
thu lãi theo tháng.
Công thức:
Tổng tích số tính lãi trong tháng
Số tiền lãi = --------------------------------------- x lãi suất tháng
30
Trong đó:
Tổng tích số tính = Số d Nợ x Số ngày trong tháng duy
Lãi trong tháng hoặc d Có trì cùng số d Nợ, d Có
24
Nếu ngày thu lãi trùng vào ngày lễ, ngày nghỉ hàng tuần thì chuyển sang làm
việc tiếp theo. Số d tính lãi là số d cuối ngày nghỉ lễ, nghỉ cuối tuần trên.
Thời gian tính nợ quá hạn kể từ ngày tiếp ngay sau ngày đến kỳ hạn trả, ngày
đến kỳ hạn trả nhng không trả đợc Nợ trong hạn (có phân kỳ trả nợ).
1.4.2.2.1. Hạch toán kế toán giai đoạn cho vay.
Việc hạch toán tiền vay đợc thực hiện theo những kỹ thuật khác nhau tuỳ theo
từng phơng thức cho vay.
ơ giai đoạn cho vay, khi mà ngời vay đã làm đơn xin vay gửi tới Ngân hàng và
đợc Ngân hàng xem xét quyết định việc cho vay. Khi khoản vay đợc giám đốc
Ngân hàng chấp nhận ký duyệt thì ngời vay sẽ phải lập kế ớc vay tiền hoặc hợp
đồng tín dụng. Sau đó, bộ phận tín dụng sẽ chuyển hồ sơ cho bộ phận kế toán thực
hiện hạch toán cho vay. Bộ phận kế toán kiểm soát lại và hớng dẫn khách hàng lập
các chứng từ kế toán nhận tiền vay theo quy định. Khách hàng phải lập 3 liên giấy
nhận nợ vay tiền (nhân viên kế toán không đợc lập hộ khách hàng) và phải ghi đầy
đủ các yếu tố trên mẫu in sẵn đảm bảo tính chất pháp lý của chứng từ cho vay.