Đề tài: Chuỗi cung ứng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim
I. Phần mở đầu
1. Ý nghĩa, mục đích nghiên cứu
Khu vực hóa, toàn cầu hóa mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế của đất nước
nhưng bên canh đó nó cũng kéo theo nhiều vấn đề nhức nhối. Thực trạng ưa hàng ngoại
ngày càng phổ biến, không chỉ trên các mặt hàng gia dụng, điện tử,… mà ngay cả các sản
phẩm nông sản, vốn được coi là thế mạnh của Việt Nam, cũng nằm trong số đó. Ngoài
tâm lý sính ngoại thì một phần cũng là do chất lượng sản phẩm nông sản Việt Nam chưa
thật sự cao. Tại sao lại như vậy? Để trả lời câu hỏi đó, chúng tôi tập trung đi vào phân
tích chuỗi cung ứng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, để từ đó tìm ra những nguyên nhân. Từ
những nguyên nhân sẽ đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng
Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim.
Việc nghiên cứu liên quan đến sản phẩm vú sữa lò rèn Vĩnh Kim ở khía cạnh chuỗi cung
ứng giúp nắm rõ hơn các tác nhân trong chuỗi cung ứng. Từ đó xác định điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội, thách thức và đề xuất các giải pháp cải tiến chuỗi cung ứng sản phẩm
vú sữa lò rèn tại Vĩnh Kim.
Với định hướng trên, chúng tôi hy vọng rằng đề tài sẽ có những đóng góp quan trọng
trong việc tìm ra những đặc điểm nổi bật giúp nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng vú
sữa lò rèn Vĩnh Kim nói riêng và Việt Nam nói chung. Kết quả nghiên cứu của đề tài là
sự đóng góp vào chuỗi cung ứng về sản phẩm vú sữa lò rèn Vĩnh Kim với chất lượng cao
cung cấp cho thị trường Việt Nam và trên thế giới. Ngoài ra, đề tài còn có một đóng góp
không kém phần quan trọng đó là giúp người dân sẽ nâng cao năng suất vú sữa, tiết kiệm
chi phí, tạo ra một sản phẩm vú sữa đạt đủ tiêu chuẩn quốc tế. Qua đó, có thể thấy được
để tạo nên thương hiệu cho vú sữa lò rèn Vĩnh Kim trên thị trường trong và ngoài nước
đòi hỏi cần tạo ra một chuỗi cung ứng tối ưu và chúng ta phải quản trị được chuỗi cung
ứng đó.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về chuỗi cung ứng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim. Tìm hiểu sâu hơn về chuỗi
cung ứng nhằm đưa ra những giải pháp kịp thời cho chuỗi cung ứng. Nhiệm vụ chính của
đề tài là tiến hành nghiên cứu về những cơ sở lý luận và thực trạng của chuỗi cung ứng
vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim hiện nay.
4. Bố cục của đề tài
Chương 1: Tổng quan về chuỗi cung ứng
Chương 2: Thực trạng tình hình chuỗi cung ứng vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim
Chương 3: Thách thức và giải pháp thực hiện
Chương 1: Tổng quan về chuỗi cung ứng
I. Chuỗi cung ứng
Định nghĩa
Một chuỗi cung ứng là một hệ thống các tổ chức, con người, công nghệ, hoạt động, thông
tin và tài nguyên liên quan trong việc di chuyển một sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung
cấp cho khách hàng. Cung cấp chuỗi các hoạt động chuyển đổi nguồn tài nguyên thiên
nhiên, nguyên liệu và các thành phần thành một sản phẩm thành phẩm được gửi đến
khách hàng cuối cùng. Trong các hệ thống chuỗi cung cấp phức tạp, các sản phẩm được
sử dụng có thể tái nhập vào chuỗi cung ứng tại bất kỳ điểm nào mà giá trị còn lại được tái
chế.Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp nhằm
thoả mãn nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà
cung cấp mà còn liên quan đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ, và khách hàng:
• Khách hàng: bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm
• Nhà sản xuất: các tổ chức sản xuất ra sản phẩm, bao gồm nhà sản xuất nguyên vật
liệu, nhà sản xuất thành phẩm.
• Nhà phân phối: công ty dự trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối
sản phẩm đến khách hàng.
• Nhà bán lẻ: công ty dự trữ hàng và phân phối sản phẩm đến khách hàng với số
lượng hỏ hơn.
• Nhà cung cấp dịch vụ: những tổ chức cung cấp dịch vụ cho công ty sản xuất, phân
phối, nhà bán lẻ và khách hàng.
Hoạt động của chuỗi cung ứng
Dây chuyền cung ứng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản. Các thành phần này là các
nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng:
• Sản xuất (Làm gì, như thế nào, khi nào)
• Vận chuyển (Khi nào, vận chuyển như thế nào)
3. Tồn kho: Tồn kho là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào. Chính yếu tố
tồn kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của công ty bạn. Nếu tồn kho ít tức là sản
phẩm của bạn được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ đó chứng tỏ hiệu
quả sản xuất của công ty bạn ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa.
4. Định vị: Bạn tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa điểm
tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền
cung ứng. Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và
hiệu quả hơn.
5. Thông tin: Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM của bạn. Nếu
thông tin chuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem lại những kết quả chuẩn xác. Ngược lại, nếu
thông tin không đúng, hệ thống SCM sẽ không thể phát huy tác dụng. Bạn cần khai thác
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần
thiết.
Những bước đi cơ bản khi triển khai SCM
Bạn cần tuân thủ 5 bước đi cơ bản sau đây:
1. Kế hoạch - Đây là bộ phận chiến lược của SCM. Bạn sẽ cần đến một chiến lược chung
để quản lý tất cả các nguồn lực nhằm giúp sản phẩm phẩm, dịch vụ của bạn đáp ứng tối
đa nhu cầu của khách hàng. Phần quan trọng của việc lập kế hoạch là xây dựng một bộ
các phương pháp, cách thức giám sát dây chuyền cung ứng để đảm bảo cho dây chuyền
hoạt động hiệu quả, tiết kiệm chi phí và tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để đưa tới
khách hàng.
2. Nguồn cung cấp – Hãy lựa chọn những nhà cung cấp thích hợp để đáp ứng các chủng
loại hàng hoá, dịch vụ đầu vào mà bạn cần để làm ra sản phẩm, dịch vụ của bạn. Bạn nên
xây dựng một bộ các quy trình định giá, giao nhận và thanh toán với nhà phân phối, cũng
như thiết lập các phương pháp giám sát và cải thiện mối quan hệ giữa bạn với họ. Sau đó,
bạn hãy tiến hành song song các quy trình này nhằm quản lý nguồn hàng hoá, dịch vụ mà
bạn nhận được từ các nhà cung cấp, từ việc nhận hàng, kiểm tra hàng, chuyển chúng tới
các cơ sở sản xuất đến việc thanh toán tiền hàng.
3. Sản xuất – Đây là bước đi tiếp theo, sau khi bạn đã có nguồn hàng. Hãy lên lịch trình
cụ thể về các hoạt động sản xuất, kiểm tra, đóng gói và chuẩn bị giao nhận. Đây là một
Framework (PCF) SM là cấp cao, ngành công nghiệp trung lập doanh nghiệp quá trình
mô hình cho phép các tổ chức để xem các quy trình kinh doanh của họ từ một quan điểm
qua ngành công nghiệp. PCF được phát triển bởi APQC và các công ty thành viên như là
một tiêu chuẩn mở để tạo điều kiện cải thiện thông qua quy trình quản lý và điểm chuẩn,
bất kể kích thước của ngành công nghiệp, hoặc địa lý. PCF tổ chức điều hành và quản lý
quá trình thành 12 thể loại cấp độ doanh nghiệp, bao gồm các nhóm quá trình, và hơn
1.000 quy trình và các hoạt động liên quan.
Quy định
An ninh chuỗi cung ứng đã trở thành đặc biệt quan trọng trong những năm gần đây. Kết
quả là, chuỗi cung ứng thường phải tuân theo quy định toàn cầu và địa phương. Một số
quy định chủ yếu xuất hiện riêng trong năm 2010 đã có một ảnh hưởng lâu dài về việc
làm thế nào chuỗi cung ứng toàn cầu hoạt động. Những quy định mới này bao gồm: Nộp
hồ sơ an ninh nhà nhập khẩu (ISF) bổ sung quy định của Chương Trình Khám chứng
nhận hàng hóa (CCSP)
Phát triển và thiết kế
Với toàn cầu hoá ngày càng tăng và tiếp cận dễ dàng hơn cho các sản phẩm thay thế
trong thị trường hiện nay, tầm quan trọng của thiết kế sản phẩm thế hệ nhu cầu là quan
trọng hơn bao giờ hết. Ngoài ra, cung cấp, và do đó sự cạnh tranh giữa các công ty cho
tăng nhu cầu thị trường hạn chế và giá cả và các yếu tố tiếp thị khác trở thành yếu tố phân
biệt ít, thiết kế sản phẩm cũng đóng một vai trò khác nhau bằng cách cung cấp các tính
năng hấp dẫn để tạo ra nhu cầu. Trong bối cảnh này, thế hệ nhu cầu được sử dụng để xác
định một thiết kế sản phẩm hấp dẫn như thế nào trong việc tạo ra nhu cầu.
Nói cách khác, nó là khả năng của một thiết kế sản phẩm để tạo ra nhu cầu mong đợi của
khách hàng đáp ứng. Tuy nhiên, thiết kế sản phẩm ảnh hưởng đến không chỉ thế hệ nhu
cầu, nhưng cũng quá trình sản xuất, chi phí, chất lượng, và thời gian dẫn. Các thiết kế sản
phẩm ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng có liên quan và các yêu cầu trực tiếp bao gồm,
nhưng không giới hạn: sản xuất, vận chuyển, chất lượng, số lượng, lịch trình sản xuất, lựa
chọn vật liệu, công nghệ sản xuất, chính sách sản xuất, quy định và pháp luật. Từ một góc
nhìn rộng, sự thành công của chuỗi cung ứng phụ thuộc vào thiết kế sản phẩm và khả
năng của chuỗi cung ứng, nhưng ngược lại cũng thật sự thành công của sản phẩm phụ
và sử dụng vị trí / phân bổ, phân tích định tuyến xe, lập trình năng động , và tất nhiên,
hậu cần tối ưu hóa truyền thống để tối đa hóa hiệu quả của các bên phân phối.
Sự khác biệt giữa quản lý logictics và quản lý chuỗi cung ứng:
Thường có sự nhầm lẫn về chuỗi cung ứng và hậu cần (logictics). Nói chung bây giờ
chấp nhận rằng Logistics áp dụng cho các hoạt động trong vòng một công ty / tổ chức
liên quan đến phân phối sản phẩm trong khi thuật ngữ chuỗi cung ứng cũng bao gồm sản
xuất, mua sắm và do đó có sự tập trung rộng hơn nhiều vì nó liên quan đến nhiều doanh
nghiệp, bao gồm cả các nhà cung cấp, nhà sản xuất và nhà bán lẻ , làm việc với nhau để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng cho một sản phẩm hay dịch vụ.
Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực
hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những
thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập,
quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics,
quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số
mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào,
hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng
hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động
logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công
nghệ thông tin.
Ứng dụng của SCM
Hệ thống quản trị chuỗi cung cấp được ứng dụng để theo dõi việc lưu hành của sản phẩm
và dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng (nhà sản xuất, đại lý, hệ thống bán lẻ… ).
SCM cũng được sử dụng để quản lý các yêu cầu, nhà kho, lưu vận, lưu hành, các yêu cầu
liên quan khác và cả các cách sản phẩm đến được với khách hàng cuối cùng.
Các chức năng cơ bản của SCM bao gồm việc tối ưu hóa chuỗi cung cấp, quản lý các
biến cố, quản lý tồn kho, quản lý RFID, quản lý lưu hành. Ngoài ra SCM có thể còn bao
gồm việc quản lý thương mại quốc tế, mối quan hệ giữa các nhà cung cấp
[1]
.
gần khách hàng sẽ thực hiện việc lưu trữ này.
- Nhà bán sỉ đặt các đơn hàng lớn, và nhà sản xuất chiết khấu giá cho nhà bán sỉ làm
cho chi phi đơn vị giảm
- Nhà bán sỉ giữ nhiều loại sản phẩm tồn kho từ nhiều nhà sản xuất, cung cấp đa
dạng sự lựa chọn cho khách hàng bán lẻ
- Nhà bán sỉ ở gần nhà bán lẻ vì thế thời gian giao hàng ngắn
- Nhà bán lẻ lưu trữ tồn kho thấp khi nhà bán sỉ cung cấp hàng một cách tin cậy.
- Nhà bán lẻ kinh doanh ít hàng hóa với quy mô hoạt động nhỏ nên phục vụ khách
hàng một cách nhanh chóng hơn
- Tổ chức có thể phát triển chuyên môn trong một loại hoạt động hoặc chức năng
kinh doanh cụ thể.
HỖ TRỢ HTX, NHÀ NƯỚC…
NÔNG DÂN TRỒNG VÚ SỮA (XÃ VIÊN)
NGƯỜI THU GOM
HTX
THƯƠNG LÁI, VỰA THU MUA LỚN
BÁN LẺ Ở CHỢ, VEN ĐƯỜNG
ĐÓNG GÓI
NHÀ PHÂN PHỐI
XUẤT KHẨU
ĐẦU MỐI TIÊU THỤ
SIÊU THỊ
CỬA HÀNG CAO CẤP
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG NƯỚC
CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT TRỒNG
NHÀ MÁY PHÂN BÓN
CÂY GIỐNG
2. Sơ đồ chuỗi cung ứng
3. Tiêu chuẩn áp dụng
Khái niệm: GlobalGAP ( Global Good Agricultural Practices – Thực hành nông
nhiên
Cách thức:
- Giấy chứng nhận được cấp cho một loại cây trồng cụ thể hoặc các loại cây trồng
trên một trang trại cụ thể. Bất kỳ sản phẩm nào không có tên trên giấy chứng nhận
không được bảo hiểm.
- Phiên bản 2007 của tiêu chuẩn có một danh sách kiểm tra trong ba phần. Đầu tiên,
được gọi là "Tất cả các trang trại, áp dụng đối với tất cả các loại hoạt động nông
nghiệp, cho dù cây trồng, chăn nuôi, nông nghiệp. Đối với người trồng trái cây và
thực vật, cây trồng cơ bản "bao gồm các câu hỏi cơ bản liên quan cho các loại
khác nhau của nông học trong cả hai lĩnh vực và gây hiệu ứng nhà kính. Câu hỏi
cụ thể phù hợp cho những người trồng ở một số "ngành", chẳng hạn như trái cây
tươi và rau quả, cây trồng combinable (hạt đậu), hoa và cây cảnh, cây trồng nước
giải khát, vv, tạo thành nhóm thứ ba.
- Mỗi nông dân có một sự linh hoạt trên một số yêu cầu: Vì các câu hỏi trong mỗi
nhóm được phân loại thành ba cấp độ quan trọng: Chuyên ngành mà là bắt
buộc, chưa thành niên mà đôi khi có thể thất bại, miễn là 95% còn lại được tuân
thủ, và khuyến nghị mà là tùy chọn.
Chương 2: Thực trạng tình hình chuỗi cung ứng vú sữa Lò
Rèn Vĩnh Kim
I. Quy trình trồng
Mỗi một loại cây ăn quả có quy trình trồng khác nhau về hình thức và đặc trưng riêng
của mỗi loại giống cây trồng, nhưng nhìn chung chúng thống nhất với nhau về quy trình
cơ bản:
Lên liếp -> Bón lót -> Gieo hạt, cấy cây giống -> Kỹ thuật trồng -> Chăm sóc -> Thu
hoạch
1. Lên liếp
Đào mương lên liếp (luống):
Đây là khâu rất quan trọng, đào mương sâu 1,0 – 1,5m, rộng 2-2,5m, bề mặt liếp rộng 6 –
10m. nếu trồng trên đất ruộng nên lên mô có đường kính thay đổi từ 0,8 – 1,0m, cao 0,3-
0,4m tùy theo địa hình của từng nơi.
trái/năm/cây 10 năm tuổi, trọng lượng trái 200 – 300g, vỏ trái khi chín có màu hột
gà, tươi bóng, phẩm chất ngon, có giá bán cao nhất so với các giống khác.
- Các giống vú sữa Tím, vú sữa Nâu có năng suất thấp nhưng thưòng chín sớm hơn so
với vú sữa Lò Rèn.
3.2. Phương pháp nhân giống
Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Nên chọn cây cho năng suất cao và độ tuổi dưới 10 năm. Chọn cành để chiết thường
là cành bánh tẻ, có tuổi 12-14 tháng, nằm ngang, da vừa hóa gổ, không mang cành
vượt.
Nhân giống bằng phương pháp ghép
Có nhiều cách ghép, tuy nhiên trong sản xuất ghép cành treo bầu và ghép mắt cho tỷ
lệ thành công cao.
4. Kỹ thuật trồng
Thời vụ trồng:
Vú sữa có thể trồng quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa: khoảng tháng 9 ở
Trung Bộ và tháng 6 ở Nam Bộ.
Chuẩn bị hố trồng và cách trồng:
Trước khi trồng 15 – 20 ngày tiến hành đào hố giữa mô rộng 40-50cm, sâu 20 –
25cm, trộn đều lớp đất này với hỗn hợp 20kg phân hữu cơ , 100g DAP,ø 200 – 300g
phân lân và 10-20g Basudin 10H.
Đặt bầu cây thẳng đứng, mặt bầu ngang với mặt mô trồng, cắt bỏ vỏ bầu, lắp đầy hố
bằng hỗn hợp nêu trên, nén chặt, cắm cọc cố định và tưới nước.
Mật độ - khoảng cách:
Tùy theo chiều rộng mặt liếp mà bố trí số hàng cây. Với liếp rộng 7 - 8m thì bố trí
trồng một hàng cây ở giữa liếp, khoảng cách 8m/cây, mật độ 12 - 13 cây/1000m2.
Với liếp rộng 9 - 10m, trồng hai hàng theo kiểu nanh sấu.
Có thể trồng xen rau màu hoặc cây ăn trái ngắn ngày trong 1 - 3 năm đầu để tăng thu
nhập.
Cách đặt cây:
Khoét lỗ trên mô vừa với bầu cây con (khoảng 20 – 25 cm), cắt bớt gốc cành ghép
Sau mỗi vụ thu hoạch nên cưa bỏ 1-2 cành vươn cao, ít lá và có biểu hiện sinh trưởng,
năng suất kém nhất trên tán cây. Cưa ngắn các cành này còn 30-50cm tính từ gốc
cành. Khi cưa nên rót nước liên tục vào vết cưa nhằm tránh nhiệt độ cao do ma sát
gây chết mô cây ảnh hưởng đến khả năng tái sinh chồi sau này, vết cưa nghiêng 45 độ
để tránh đọng nước. Sơn phủ bề mặt vết cưa bằng dung dịch sun-phát đồng. Khoảng
15-20 ngày sau dưới mỗi vết cưa sẽ phát triển 5-15 chồi mới, nên tỉa bớt số chồi mới
chỉ giữ lại 2-3 chồi khỏe và ở vị trí đều quanh cành. Khi chồi mới phát triển đến chiều
dài 50-60cm thì tiến hành loại bỏ đỉnh sinh trưởng để kích thích chồi phân cành. Lưu
ý quan sát và phòng trừ sâu hại cho cành mới.
Cành mới có khả năng cho trái sau 12-18 tháng.
Tưới nước
Tưới nước đầy đủ là yếu tố thiết yếu đối với cây vú sữa nhằm đảm bảo sinh trưởng.
Tưới đẳm sau thời kỳ khô hạn tạo tác dụng ra hoa đồng loạt cho cây và đảm bảo tỉ lệ
đậu trái cao.
- Giai đoạn cây con: cần cung cấp đầy đủ cho cây vú sữa . Tưới 3-5 lần/ tuần, 20-30l
nước/lần/cây vào mùa nắng để giảm tỷ lệ cây chết và phát triển nhanh đặc biệt trong 3
năm đầu.
- Giai đoạn cây ra hoa và mang trái cần tưới nước thường xuyên 2-3 ngày/ lần.
Bón phân:
- Vị trí bón
Vị trí bón phân nên bón đều xung quanh và cách gốc khoảng 2/3 đường kính tán cây
- Bón phân thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Từ khi trồng đến một năm: tưới 20 – 30g phân DAP hòa trong 20 l nước/cây/lần/tháng.
Từ 1 – 3 năm: bón tổng lượng phân/cây/năm là hỗn hợp 1 – 2kg phân Urea + DAP +
NPK (20-20-15) với tỉ lệ 1/1/1 chia đều làm 4 lần bón trong một năm, mỗi lần cách nhau
2 – 3 tháng.
- Bón phân cho cây trưởng thành, đã cho trái ổn định
Cây vú sữa từ năm thứ 5 sau khi trồng, bước sang giai đoạn cho trái ổn định, và cũng là
bắt đầu giai đoạn kinh doanh. Đề nghị nên bón 4 lần phân vào các giai đoạn: xử lý ra
hoa, đậu trái, nuôi trái và trước thu hoạch 1 – 2 tháng. Liều lượng phân bón thay đổi,
• Tưới liên tục 3 lần/tuần cho dến khi cây ra hoa.
Phòng trừ sâu bệnh
- Phòng trị sâu hại
• Sâu đục trái (Alophia sp- Pyralidae)
Gây hại từ khi trái có đường kính 2cm đến khi trái chín.
Phòng trừ bằng các loại thuốc như Karaté, Cymbush, Trebon… liều lượng theo khuyến
cáo của nhà sản xuất. Phun thuốc khi thấy bướm xuất hiện và mức thiệt hại trái khoảng 2-
3%. Ngưng phun thuốc trước khi thu hoạch khoảng 1 tháng để tránh dư lượng thuốc gây
hại cho người tiêu dùng
• Sâu ăn bông (Eustalodes anthivora - Gelecchiidae)
Gây hại khi cây ở giai đoạn trổ bông.
Phòng trừ bằng các loại thuốc như Karaté, Cymbush, Trebon, liều lượng theo khuyến cáo
của nhà sản xuất. Nên phun thuốc khi thấy bướm xuất hiện
• Rệp sáp ( Pseudococcus sp - Pseudococcidae)
Gây hại chủ yếu vào mùa khô trên tất cả các bộ phận của cây.
Phòng trừ bằng cách phun Supracide theo nồng độ khuyến cáo hoặc tươi các loại thuốc
có tính lưu dẫn như Basudin
• Sâu đục cành (Coleoptera)
Sâu đục cành gây hại quanh năm nên thường xuyên thăm vườn phát hiện mọt đổ từ các
cành. Diệt sâu bằng cách bơm các loại thuốc có tính lưu dẫn như Basudin.
- Phòng trị bệnh hại
• Bệnh thối trái:
Gây hại từ lúc trái còn non đến thu hoạch, vết bệnh lúc đầu trên trái có những đốm nhỏ
hình tròn có màu nâu hoặc nâu đen sau lan dần ra, nhiều đốm kết hợp với nhau thành
những đốm lớn hơn và có thể lan ra bao quanh trái, làm cho thịt trái bị chai sượng và thối
sau đó trái sẽ rụng.
Nguyên nhân gây bệnh do nấm Colletotrichum sp.
Vệ sinh vườn sạch sẽ, thoáng mát đầy đủ ánh sáng. Khi thấy bệnh bắt đầu xuất hiện cần
phải phun phun các loại thuốc như Score, Antracol, Daconil, Nustar hay Benomyl nhằm
ngăn chặn sự lây lan của bệnh. Tỉa bỏ trái bệnh và tiêu hủy.
phân chuồng hoai, rơm rác mục và bón 4 đợt phân hóa học gồm: Bón xử lý ra hoa 3kg
hỗn hợp NPK 20-20-15 + urê + lân. Kế tiếp bón vào giai đoạn cây đậu quả to bằng nút áo
gồm 2kg urê + DAP/1 gốc. Sau đó, bón thúc nuôi quả, khi quả non có đường kính từ 2-
2,5cm mỗi cây 2kg NPK 20-20-15. Đợt chót, trước thời điểm cây cho thu hoạch khoảng 2
tháng, bón mỗi cây 2kg NPK 20-20-15. Đồng thời phòng trừ sâu bệnh kịp thời cho vú
sữa.
II. Thu hoạch
• Thời điểm thu hoạch:
- Từ khi đậu trái đến khi thu hoạch vú sữa là 180 - 200 ngày. Cần thu hoạch đúng thời
điểm (Thu hoạch sớm chất lượng quả sẽ kém, nếu trễ quá dễ bị sâu đục và thối quả )
- Mùa thu hoạch vú sữa Lò rèn tập trung vào tháng 2 và tháng 3 (dương lịch).
• Dấu hiệu:
- Tiến hành thu hoạch khi trái đã chín sinh lý trên cây. Trái phát triển đạt đến hình thái,
màu sắc đặc trưng của giống. Khi chín vỏ vú sữa lò rèn có màu hột gà sáng màu, căng
bóng, màu vỏ chuyển từ xanh nhạt sang màu kem đến hơi nâu ở phần đáy trái.
• Khi thu hoạch:
- Vỏ vú sữa mỏng nên dễ bị giập, trầy sướt; khi chín cuống trái dễ bị sút ra nên khi thu
hoạch phải thật nhẹ nhàng và khéo léo.
- Khi thụ hoạch nên cắt cả cuống trái dài 1-2 cm, loại bỏ trái có vết sâu bệnh, tổn thương
và bao trái bằng các loại bao giấy nhằm tránh trầy xướt trong quá trình vận chuyển.
- Khi thu hoạch, ta phân vú sữa thành các nhóm quả.
Không để trái trực tiếp xuống đất vì nấm bệnh từ đất sẽ xâm nhập vào trái qua cuống
hoặc vết thương.
- Nên bao trái để tránh trầy sướt khi vận chuyển. Trong thời gian tồn trữ, vận chuyển
không nên để trái tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời vì sẽ làm tổn thương vỏ trái,
không nên che nắng trái bằng tấm nilon vì nilon hấp thu nhiệt sẽ làm nám vỏ trái.
- Khi chất trái vào thùng, vào giỏ…nên lót giấy hoặc vật liệu xốp và không nên chất quá
4-5 lớp/ giỏ.
III. IV. Sau thu hoạch
1. Cách bảo quản khi vận chuyển vú sữa