Quản trị chuỗi cung ứng
Đề tài thảo luận nhóm 1:
" Phân tích chuỗi cung ứng ngành sữa Việt Nam"
Lựa chọn DN trong chuỗi cung ứng làm trọng tâm nghiên cứu: Công
ty sữa VINAMILK
Danh sách nhóm 1 – QLKT16
1. Văn Trọng Duẩn
2. Doãn Khắc Đạt
3. Nguyễn Tá Đức
4. Lê Minh Hà
5. Nguyễn Mạnh Hải
6. Nguyễn Quốc Hải
7. Nguyễn Thanh Hằng
8. Đặng Thị Hiền
1
Phần 1. Khái quát chung về ngành sữa Việt Nam và công ty sữa Vinamilk
1. Khái quát chung về ngành sữa Việt Nam
Theo nhận xét đánh giá của các chuyên gia thì ngành sữa Việt Nam là một
trong những ngành có tính ổn định cao, ít bị tác động bởi chu kỳ kinh tế. Việt
Nam đang là quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành sữa khá cao trong khu vực.
Theo Tổng cục thống kê, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường sữa từ năm
2000 đến 2009 đạt hơn 9% một năm; mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tăng
7,85% mỗi năm, từ gần 9 lít năm 2000 lên gần 15 lít năm 2008. Vào ngày
25/3/2010 Hiệp hội sữa Việt Nam được chính thức thành lập gồm 68 doanh
nghiệp thành viên chính thức và 6 đơn vị liên kết.
- Cơ cấu các sản phẩm sữa:
Thị trường sữa có các sản phẩm chính gồm sữa tươi, sữa đặc, sữa bột và sữa
dinh dưỡng. Trong đó sữa bột chiếm tới gần một nửa tổng giá trị tiêu thụ, sữa
tươi đứng thứ 2 với khoảng 23% thị phần, các sản phẩm chế biến từ sữa như bơ,
phó mát... chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 13%.
- Thị phần các công ty sữa Việt Nam:
- Giải thưởng “Thương hiệu hàng đầu Việt Nam”
Đa phần sản phẩm được sản xuất tại 9 nhà máy với tổng công suất khoảng
570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty sở hữu một mạng lưới phân phối rộng lớn trên
cả nước, đó là điều kiện thuận lợi để công ty đưa sản phẩm đến số lượng lớn
người tiêu dùng. Hiện nhãn hàng đang dẫn đầu trên thị trường gồm: Sữa tươi
Vinamilk, Sữa đặc, Sữa bột Dielac, Nước ép trái cây V-Fresh, Trà các loại...
Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng
xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và
Mỹ. Công ty đã hoạch định, đưa ra tầm nhìn và sứ mệnh của công ty mình rất rõ
ràng:
3
Tầm nhìn: “Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh
dưỡng và sức khỏe phục vụ cuộc sống con người “
Sứ mệnh: “Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt
nhất, chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của
mình với cuộc sống con người và xã hội”
4
Phần 2. Thực trạng chuỗi cung ứng của công ty Vinamilk và vai trò của các
thành viên trong chuỗi
Sơ đồ chuỗi cung ứng công ty Vinamilk
: Dòng sản phẩm
: Dòng thông tin
: Dòng tài chính
2.1. Khâu cung ứng đầu vào:
Khâu cung ứng đầu vào của công ty sữa Vinamik gồm: nguồn nguyên liệu
nhập khẩu và nguồn nguyên liệu thu mua từ các hộ nông dân nuôi bò, nông trại
nuôi bò trong nước. Đây là thành viên đầu tiên trong chuỗi cung ứng. Các hộ
nông dân nuôi bò, nông trại nuôi bò có vai trò cung cấp nguyên liệu sữa đầu vào
cho sản xuất thông qua trạm thu gom sữa. Sữa được thu mua từ các nông trại phải
luôn đạt được các tiêu chuẩn về chất lượng đã được ký kết giữa công ty Vinamilk
bò
Nhập khẩu
nguyên
liệu sữa
Trung tâm thu
mua sữa tươi
Người
tiêu
dùng
- Cảm quan: Thơm ngon tự nhiên, đặc trưng của sữa tươi, không có
bất kỳ mùi vị lạ nào.
- Đảm bảo hàm lượng chất khô chất béo lớn hơn
- Độ tươi
- Độ acid
- Chỉ tiêu vi sinh
- Hàm lượng kim loại nặng
- Thuốc thú y, thuốc trừ sâu
- Nguồn gốc (không sử dụng sữa của bò bệnh).
Riêng để sản xuất sữa tươi tiệt trùng, sữa tươi phải đảm bảo nghiêm ngặt về
độ tươi, không bị tủa bởi cồn 75 độ.
* Đối với nguyên liệu sữa tươi từ các nông trại nuôi bò thì quy trình thu mua
sữa của công ty Vinamilk diễn ra như sau:
Trung tâm thu mua sữa tươi có vai trò mua nguyên liệu sữa tươi từ các hộ
nông dân, nông trại nuôi bò, thực hiện cân đo khối lượng sữa, kiểm tra chất lượng
sữa, bảo quản và vận chuyển đến nhà máy sản xuất. Từ trung tâm có thể thông
tin cho cho hộ nông dân về chất lượng, giá cả và nhu cầu khối lượng nguyên vật
liệu. Đồng thời trung tâm thu mua sẽ thanh toán tiền cho các hộ nông dân nuôi bò
Đối với nguyên liệu sữa nhập khẩu thì có thể được nhập thông qua trung gian
hoặc tiến hành nhập khẩu trực tiếp rồi được chuyển đến nhà máy sản xuất. Chuỗi
cung ứng đầu vào có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nên một sản
thu mua sữa hoặc từ các nhà cung cấp nguyên liệu sữa nhập khẩu và thực hiện
các giai đoạn sản xuất. Nguyên liệu sữa được trải qua một quá trình chuẩn hóa,
bài khí, đồng hóa và thanh trùng được đóng gói tạo ra sữa thành phẩm.
* Chuẩn hóa:
+ Mục đích: Điều chỉnh hàm lượng chất béo
Do nhu cầu khách hàng ngày càng nâng cao, họ đòi hỏi sự an toàn khi
dùng sản phẩm, hàm lượng béo là một trong những điều mà họ quan tâm hàng
đầu, nếu hàm lượng chất béo trong cơ thể quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe và
có thể gây ra bệnh béo phì ở trẻ em.
+ Ngyên tắc thực hiện:
Nếu hàm lượng béo thấp thì tiến hành tính toán và bổ sung thêm cream.
Sữa nguyên
liệu
Chuẩn hoá
Bài khí
Thanh trùng
Phối trộn
Hương liệu
Rót sản phẩm
Bảo quản T
phòng
Chất ổn định
Puree quả
Đồng hoá
8
Nếu hàm lượng béo cao thì tiến hành tính toán và tách bớt cream ra.
* Bài khí:
+ Mục đích:
Trong sữa có nhiều khí lạ cần được loại trừ nếu không sẽ phá vỡ mùi
hương đặc trưng của sữa
vòng 15-20 s
+ Thiết bị thanh trùng: ống lồng ống, bản mỏng.
* Rót sản phẩm:
+ Bao bì thường được sử dụng: nhựa, giấy. Bao bì Tetra Pak và Combibloc nổi
tiếng thế giới về độ an toàn thực phẩm.
+ Yêu cầu của bao bì: + Kín
+ Phải vô trùng
9
+ Thiết bị rót: cũng phải vô trùng.
* Bảo quản:
+ Mục đích: Bảo quản tốt được chất lượng sản phẩm
+ Yêu cầu: Sản phẩm sau khi đóng gói được chuyển vào nơi bảo quản theo đúng
tiêu chuẩn chất lượng
Điểm nổi bật về quy trình sản xuất của Vinamilk: Dây truyền sản xuất
kín, từ lâu Vinamilk đã triển khai áp dụng các hệ thống quản lý ISO và an toàn
thực phẩm HACCP tại tất cả các nhà máy trong hệ thống. Quá trình xử lý nhiệt
được theo dõi nghiêm ngặt. Các chế độ xử lý nhiệt được lựa chọn, cân nhắc để
đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm đồng thời giữ gìn giá trị dinh dưỡng của
sữa ở mức cao nhất. Ưu tiên chọn các chế độ xử lý nhiệt cao trong thời gian cực
ngắn, đây là những công nghệ tiên tiến trên thế giới.
2.3. Khâu phân phối đầu ra của Công ty Vinamilk
Công ty Vinamilk phân phối hàng hóa thông qua tập đoàn Phú Thái đến các
đại lý, cửa hàng rồi đến người tiêu dùng là nhân tố cuối cùng trong chuỗi phân
phối đầu ra.
- Các đại lý, cửa hàng có vai trò nhận sữa từ nhà phân phối và cung ứng sữa tươi
đến người tiêu dùng
- Người tiêu dùng là những người trực tiếp tiêu thụ sữa. Người tiêu dùng có thể
mua sữa từ các đại lý, hệ thống siêu thị, cửa hàng bán buôn hoặc bán lẻ đồng thời
thanh toán tiền sữa tại nơi mua hàng.
Hệ thống đại lý của công ty phân thành hai loại: nhóm các sản phẩm về
ứng dụng giải pháp quản trị mối quan hệ với khách hàng (Customer Relationship
Management - SAP):
- Hệ thống Oracle E Business Suite 11i : được chính thức đưa vào hoạt động từ
tháng 1-2007. Hệ thống này kết nối đến 13 địa điểm gồm các trụ sở, nhà máy,
kho hàng trên toàn quốc. Hạ tầng CNTT đã được đồng bộ hóa, chuẩn hóa và củng
cố.
- Ứng dụng giải pháp quản trị mối quan hệ với khách hàng (Customer
Relationship Management - SAP) : Qua việc tối ưu hóa các chu trình và cung cấp
cho nhân viên bán hàng mọi thông tin đầy đủ liên quan đến khách hàng và khách
hàng có thể trao đổi thông tin với công ty theo bất cứ cách nào mà khách hàng
thích, vào bất cứ thời điểm nào, thông qua bất cứ kênh liên lạc nào, bằng bất cứ
ngôn ngữ nào...
Tóm lại, đây là một giải pháp tiếp cận rất hiệu quả đối với chính những
khách hàng của Vinamilk, giúp công ty có thể thu thập được đầy đủ thông tin và
nhu cầu của khách hàng từ đó có thể đưa ra các chính sách xây dựng và phát triển
mạng lưới phân phối cho phù hợp nhất.
- Hệ thống Hoạch định Nguồn lực Doanh nghiệp - Enterprise Resource
Planning (ERP): là công cụ hỗ trợ nhân viên trong công việc, cho phép mạng
11
phân phối Vinamilk trên cả nước có thể kết nối thông tin với trung tâm trong cả
hai tình huống online hoặc offline. Thông tin tập trung sẽ giúp Vinamilk đưa ra
các xử lý kịp thời cũng như hỗ trợ chính xác việc lập kế hoạch. Việc thu thập và
quản lý các thông tin bán hàng của đại lý là để có thể đáp ứng kịp thời, đem lại sự
thỏa mãn cho khách hàng ở cấp độ cao hơn.
Quá trình này đã hỗ trợ các nhân viên nâng cao năng lực, tính chuyên
nghiệp và khả năng nắm bắt thông tin thị trường tốt nhất nhờ sử dụng các thông
tin được chia sẻ trên toàn hệ thống.Vinamilk cũng quản lý xuyên suốt các chính
sách giá, khuyến mãi trong hệ thống phân phối. Trong khi đó, đối tượng quan
trọng của doanh nghiệp là khách hàng đầu cuối cũng được hưởng lợi nhờ chất
lượng dịch vụ ngày càng được cải thiện.
hoá. Đối với một số sản phẩm sữa tươi phải bảo quản theo quy định sản phẩm
lạnh của Vinamilk phải đảm bảo trong nhiệt độ dưới 6 độ C thì bảo quản được 45
ngày, còn 15 độ C thì được 20 ngày. Ở nhiệt độ thông thường (30 đến 37 độ C)
thì để 2 hoặc 3 ngày sữa sẽ chua thì việc các cửa hàng không có máy lạnh hoặc
thiết bị làm lạnh là điều rất hạn chế trong việc bảo quản những sản phẩm có yêu
cầu phải bảo quản lạnh.
+ Trong khi đó, Vinamilk chỉ chịu trách nhiệm vận chuyển hàng đến
những đại lý tổng, còn việc phân phối đến “cấp dưới” thì chủ yếu bằng xe máy
hay những xe ô tô tải không có hệ thống làm lạnh nên việc đảm bảo chất lượng bị
bỏ ngỏ.
13
Phần 3. Những vướng mắc trong chuỗi cung ứng khiến cho giá sữa Việt
Nam thuộc nhóm cao nhất trên thế giới và một số giải pháp
3.1 Những vướng mắc trong chuỗi cung ứng khiến cho giá sữa Việt Nam thuộc
nhóm cao nhất trên thế giới
- Nguồn giống bò sữa ở trong nước vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cho phát triển
chăn nuôi trong nước. Để đáp ứng cho nhu cầu phát triển ngành sữa, ước tính mỗi
năm nước ta kim ngạch nhập khẩu bò sữa gấp 3.5 lần lượng xuất khẩu.
- Nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò sữa ở trong nước còn chưa đáp ứng đáp ứng đủ
nhu cầu nên phải tiến hành nhập khẩu. Diện tích đất trồng cỏ còn thấp do quỹ đất
ít ỏi và giá đất cao. Hiện cả nước có khoảng 45,000 ha diện tích đất trồng cỏ. Ước
tính lượng cỏ xanh và cỏ thô hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu thức ăn
xanh thô cho bò sữa trong khi đó chế độ ăn uống của bò sữa đòi hỏi rất cao và các
loại thức ăn cần phải đúng tỷ lệ, nếu không sẽ phản tác dụng. Thức ăn cho bò sữa
gồm ba loại chính: thức ăn tinh, thức ăn thô và chất khoáng. Tăng ăn thức tinh có
thể làm tăng năng suất sữa nhưng giảm thức ăn thô có thể làm giảm chất lượng
sữa. Đây là hiện tượng thường gặp ở nước ta do chất ăn thô xanh còn thiếu nên
các chủ chăn nuôi thường dùng thức ăn tinh để thay thế. Trong khi đó, giá thức
ăn tinh lại đắt hơn nhiều lần so với thức ăn thô.
- Sản lượng sữa trong 10 năm qua tăng bình quân 27.2%/năm do năng suất sữa
nhập thị trường. Việc ủy quyền này cũng khiến số lượng doanh nghiệp có thể
nhập khẩu và phân phối các sản phẩm sữa bột nguyên hộp nhập khẩu bị hạn chế
một cách đáng kể nên giá sữa càng tăng cao.
- Trong một số trường hợp, sự liên kết theo chiều dọc giữa các khâu phân phối,
nhập khẩu, xuất khẩu được thiết lập nhằm hợp lý hóa chi phí để đẩy giá lên cao.
Thông qua liên kết dọc, nhà xuất khẩu nước ngoài bán sản phẩm cho nhà nhập
khẩu tại Việt Nam thông qua một nhà xuất khẩu trung gian ở nước thứ 3. Trong
trường hợp này, giá sữa ghi trên hóa đơn nhập khẩu của nhà nhập khẩu Việt Nam
đội lên rất nhiều.
- Thị trường sữa hiện đã xuất hiện nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh
như: Quảng cáo sai sự thật; nói xấu đối thủ…. Có đối thủ cạnh tranh lợi dụng các
phương tiện thông tin đại chúng, khai thác triệt để các điểm yếu hay sai sót của
doanh nghiệp để nói xấu, hạ thấp uy tín của doanh nghiệp trước người tiêu dùng,
ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2. Một số giải pháp
3.2.1. Giải pháp về nguyên liệu
- Nghiên cứu tạo ra các giống bò mới cho năng suất cao, hạn chế việc nhập khẩu
bò sữa từ nước ngoài
- Mở rộng diện tích trồng cỏ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thức ăn xanh thô cho bò
sữa, hạn chế việc nhập khẩu thức ăn từ bên ngoài.
- Lựa chọn khu vực hợp lý, đầu tư hình thành nên các trang trại chăn nuôi bò quy
mô lớn, chuyên nghiệp cho năng suất cao.
15
- Mở rộng hệ thống thu mua sữa tươi đảm bảo chất lượng kỹ thuật và uy tín, có
sự quản lý chặt chẽ từ các đơn vị sản xuất để người chăn nuôi bò được yên tâm
không bị ép giá đồng thời tránh tình trạng tăng giá cao đối với nhà sản xuất.
- Trang bị các thiết bị vắt sữa hiện đại để tăng năng suất sữa và đảm bảo chất
lượng sữa thu hoạch được tốt.
- Nghiên cứu tạo ra nguồn nguyên liệu sữa bột thay thế nguồn nhập từ nước
ngoài để giảm thiểu chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm.