LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển bền vững đều cần
phải có các hoạt động như: nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích tình hình
hiện tại của cả nền kinh tế, của chính doanh nghiệp từ đó, vạch ra các chiến
lược phát triển ngắn hạn và dài hạn, nhằm mục đích cuối cùng là tăng giá trị tài
sản cho chủ sở hữu.
Và một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu là quản lý tài
chính và đánh giá hiệu quả quản lý tài chính, thông qua đó tìm các giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý tài chính, cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong tương lai của doanh nghiệp. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh
tế toàn cầu như hiện nay, quản lý tài chính luôn được coi là một trong những vấn
đề trọng tâm đòi hỏi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải chú trọng quan tâm
hàng đầu.
Để giúp các doanh nghiệp quản lý chặt chẽ hơn nữa các khoản thu, chi
cũng như tăng cường hiệu quả quản lý tài chính trong doanh nghiệp của mình,
và cụ thể là ở Công ty Cổ phần Nhựa thiếu niên Tiền Phong, em đã mạnh dạn
chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Nhựa
thiếu niên Tiền Phong” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Quản lý tài chính doanh nghiệp là nhằm thực hiện được mục tiêu tăng giá
trị tài sản cho chủ sở hữu. Chính vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của đề tài “ Nâng
cao hiệu quả quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Nhựa thiếu niên Tiền Phong”
là để thông qua việc hệ thống hóa những lý luận cơ bản về phân tích tài chính
doanh nghiệp sẽ đánh giá được những hiệu quả và những hạn chế còn tồn tại
trong công tác quản lý tài chính của Công ty. Xuất phát từ thực trạng, em xin đề
xuất một số biện pháp với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển
chung của Công ty.
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp như:
Trần Thị Phương Thảo
3
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Quản lý tài chính doanh nghiệp
1.1.1.Tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp là một phân môn của ngành Tài chính (gồm: tài
chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính trung gian, tài chính của các
tổ chức xã hội, tài chính của các hộ gia đình và dân cư) đi nghiên cứu về quá
trình hình thành và sử dụng các của cải trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối
đa hóa lợi ích chủ sở hữu.
Tài chính doanh nghiệp là tài chính của các đơn vị, các tổ chức hoạt
động kinh doanh và cung ứng dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế. Tài chính
doanh nghiệp là cơ sở để tích tụ - tập trung các nguồn lực tài chính nên nó gắn
liền với quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ cho xã hội; cũng là cơ sở để hình
thành tài chính tập trung thông qua thuế, phí và lệ phí. Bên cạnh đó, tài chính
doanh nghiệp cũng được hình thành từ các khâu tài chính khác như Ngân sách
Nhà nước, các khâu tài chính trung gian thông qua việc cấp, phát vốn, phát
hành cổ phiếu, trái phiếu
4
1.1.1.2 Bản chất
Tài chính doanh nghiệp là các quỹ bằng tiền của doanh nghiệp, dưới hình
thái vật chất là nhà cửa, phân xưởng sản xuất, máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu, vốn bằng tiền, các loại chứng khoán có giá Nghiên cứu về bản chất
của tài chính doanh nghiệp là đi nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh
ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị…nhằm làm cho sản phẩm của
doanh nghiệp luôn đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp:
Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính
giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành
viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn.
1.1.1.3 Chức năng
Tài chính doanh nghiệp có 3 chức năng chủ yếu sau đây :
Chức năng tổ chức vốn (tạo vốn và huy động vốn) cho quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp: muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi các
doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp; phải huy động vốn để thỏa mãn nhu cầu vốn đã xác
định; phải sử dụng vốn hợp lý, phân bổ vốn đều đặn trong các giai đoạn của quá
trình tái sản xuất; sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế.
Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp: khi doanh
nghiệp có thu nhập bán hàng được phân phối nhằm trang trải chi phí bỏ ra (chi
phí tiêu hao tư liệu sản xuất, lương và các khoản tính theo lương) thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nước (thuế), bảo đảm quá trình tái sản xuất kinh doanh
(trích lập vào các quỹ) và có lợi nhuận. Đây là chức năng quan trọng của tài
chính doanh nghiệp.
Chức năng giám đốc (kiểm soát) bằng đồng tiền đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tức là tài chính doanh nghiệp phải kiểm tra
6
thường xuyên, liên tục mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp: thông qua chỉ tiêu về vốn sản xuất kinh doanh kiểm tra tình hình cấp
phát vốn và sử dụng vốn có hiệu quả hay không; thông qua chỉ tiêu về chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm kiểm tra tình hình thực hiện các định mức kinh
tế kỹ thuật; thông qua chỉ tiêu thu nhập bán hàng, lợi nhuận kiểm tra kết quả tài
chính của doanh nghiệp; thông qua chỉ tiêu về thuế kiểm tra việc thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà nước; thông qua chỉ tiêu lương, thưởng, bảo hiểm kiểm tra tình
thời điểm nào để đạt được cơ cấu vốn tối ưu và chi phí vốn thấp nhất.
Quản lý dòng tiền vào, dòng tiền ra: sao cho đảm bảo mức ngân quỹ tối
ưu thông qua việc trả lời câu hỏi: lợi nhuận doanh nghiệp sử dụng như thế nào,
phân tích đánh giá kiểm tra các hoạt động tài chính như thế nào để thường xuyên
đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính, quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn
như thế nào để ra quyết định thu, chi phù hợp?
Ba vấn đề trên về quản lý tài chính doanh nghiệp là ba vấn đề quan trọng
và bao trùm nhất về tài chính doanh nghiệp. Suy cho cùng, nội dung quản lý tài
chính doanh nghiệp đề cập trên hai phương diện: quản lý tài sản và quản lý
nguồn vốn.
1.1.2.3 Vai trò
Quản lý tài chính luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc quản lý
doanh nghiệp, nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế
hiện nay, quản lý tài chính càng trở nên quan trọng vì khi đầu tư vốn vào một
doanh nghiệp, chủ đầu tư luôn xem xét doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay
không thông qua việc phân tích, đánh giá kĩ năng quản lý tài chính của doanh
nghiệp đó. Từ đó họ mới đưa ra quyết định đầu tư cho doanh nghiệp hay không
và đầu tư bao nhiêu.
Quản lý tài chính là một hoạt động có liên hệ với mọi hoạt động khác của
8
doanh nghiệp. Một quyết định tài chính đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp
cơ hội kinh doanh và có được lợi nhuận mong muốn. Ngược lại, nó sẽ gây ra tổn
thất khôn lường cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, trong một
môi trường nhất định, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Vì vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp ảnh hưởng
trực tiếp đến quản lý tài chính quốc gia.
1.1.2.4 Mục tiêu
Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản
cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.
1.2 Hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp
ngắn hạn và dài hạn.
Việc phân tích hiệu quả quản lý tài chính cần được xem xét trên mọi góc
độ và việc tổng hợp số liệu phải xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau như kế toán
tài chính, kế toán quản trị nhằm đảm bảo sự chính xác.
Việc quản lý tài chính hiệu quả giữ vị trí vô cùng quan trọng đối với
doanh nghiệp, điều này mang lại sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp, sự nể
phục của các đối tác về một công ty nghiêm túc và mở thêm nhiều cơ hội hợp
tác cho doanh nghiệp.
1.2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp.
Để tiến hành đánh giá hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp, các nhà
phân tích thường kết hợp sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ - kỹ
thuật khác nhau như phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh, phương pháp
Dupont Mỗi một phương pháp có những tác dụng khác nhau và được sử dụng
trong từng nội dung phân tích khác nhau. Cụ thể:
1.2.3.1 Phương pháp tỉ số
Tỷ số là công cụ phân tích tài chính phổ biến nhất. Mỗi tỷ số là một biểu
thức toán học đơn giản thể hiện mối quan hệ của một mục này so với mục khác.
10
Để tính được một tỷ số có giá trị, giữa các mục phải có mối quan hệ đáng kể. Sử
dụng các tỷ số là công cụ giúp cho việc phân tích và diễn giải, song chúng
không thể thay thế cho việc suy luận hợp logic.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ số tài chính được phân
thành các nhóm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục
tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ số về cơ cấu tài chính và
tình hình đầu tư, nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, nhóm tỷ số về khả năng
sinh lợi, nhóm tỷ số về khả năng hoạt động.
Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ từng bộ phận
của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ phân
tích, người phân tích sẽ lựa chọn nhóm chỉ tiêu phù hợp với mục tiêu phân tích
của mình. Việc chọn đúng tỷ số và phân tích chúng sẽ phát hiện được tình hình
Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so
sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ
trước (năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số
chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;
Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là
trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực
tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu.
Các dạng so sánh: Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân
tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh với số
bình quân.
So sánh bằng số tuyệt đối: Phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên
khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về
qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc.
12
So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số
tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển,
mức độ phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế. Trong phân
tích tài chính , các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:
Số tương đối động thái: Dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ
tăng trưởng của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cố
định kỳ gốc: y
i
/y
0
(i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y
(i + 1)
/y
i
(i = 1, n)].
Số tương đối kế hoạch: Số tương đối kế hoạch phản ánh mức độ, nhiệm
Tính khách quan: Giúp đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty một
cách đầy đủ, khách quan và toàn diện. Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm cải
thiện, tăng cường công tác quản lý của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
Nhược điểm
Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy.
Không bao gồm chi phí vốn
Mức độ tin cậy của mô hình hoàn toàn phụ thuộc vào giả thuyết và số liệu
đầu vào.
Sơ đồ : Vận dụng phương pháp Dupont để phân tích ROE
=
14
SUẤT
SINH
LỢI
CỦA
VỐN
CHỦ
SỞ
HỮU
(ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
Doanh thu thuần
nợ nần của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản
thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp. Tuy nhiên không
phải tài sản nào hiện có cũng sẵn sàng dùng để trả nợ cũng như không phải
khoản nợ nào cũng phải trả ngay.
15
Khả năng thanh toán
tổng quát
Tổng tài sản
Tổng nợ
b) Khả năng thanh toán hiện hành (khả năng thanh toán nợ ngắn hạn)
Tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với
các khoản nợ ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn
dễ chuyện nhượng, các khoản phải thu, các khoản dự trữ; nợ ngắn hạn thường
bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp khác. Cả tài sản ngắn
hạn và nợ ngắn hạn đề có thời hạn dưới một năm.
Hệ số này thể hiện khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp,
cho biết mức độ các khoản nợ của chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài
sản có thể chuyển thành tiền trong giai đoạn tương ứng với thời hạn của khoản
nợ đó. Khi đã có hệ số này ta tiến hành so sánh với tỷ số tham chiếu khác như
mức trung bình ngành, tỷ lệ kỳ trước để có được sự đánh giá tốt hơn.
c) Khả năng thanh toán nợ dài hạn
Khả năng thanh toán nợ dài hạn = Tài sản dài hạn
Nợ dài hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ dài hạn của doanh
nghiệp bằng các tài sản dài hạn, cho biết tương ứng với 1 đồng nợ dài hạn thì có
bao nghiêu đồng tài sản dài hạn sẵn sàng chi trả. Hệ số khả năng thanh toán nợ
hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp.
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn – Tồn kho
Tổng Nợ ngắn hạn
17
Tổng nguồn vốn
Hệ số vốn chủ sở hữu cho thấy mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với
nguồn vốn kinh doanh riêng có của mình. Hệ số vốn chủ sở hữu càng lớn càng
chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao với các chủ nợ. Do đó
không bị ràng buộc hoặc chịu sức ép của các khoản nợ vay.
c) Hệ số Nợ so với Vốn chủ sở hữu:
Hệ số nợ so với Vốn chủ sở
hữu
= Tổng nợ phải trả
Tổng Nguồn vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu Hệ số Nợ so với Vốn chủ sở hữu cho biết cơ cấu nguồn tài trợ tài
sản của doanh nghiệp, cứ 1 đồng tài sản tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì tương
ứng với mấy đồng tài trợ bằng nợ phải trả. Hệ số này cho thấy mức độ độc lập
về mặt tài chính của doanh nghiệp. Nếu hệ số này < 1 sẽ phản ánh tỷ trọng Nợ <
tỷ trọng Vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp độc lập về tài chính. Ngược lại hệ số này
> 1 phản ánh doanh nghiệp phụ thuộc về tài chính.
d) Hệ số Tài sản so với Vốn chủ sở hữu
Hệ số Tài sản so với Vốn chủ sở
hữu
= Tổng Tài sản
Vốn chủ sở hữu
Hệ số này phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng Vốn
chủ sở hữu.Trị số chỉ tiêu > 1 doanh nghiệp phụ thuộc về tài chính, trị số càng
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư cho hàng tồn kho thấp
mà vấn đạt hiệu quả cao, tránh được tình trạng ứ đọng vốn. Nếu chỉ số này thấp
phản ánh hàng tồn kho dự trữ nhiều, sản phẩm không tiêu thụ được do chất
lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
d) Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao
nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh
nghiệp càng tốt. Để thể hiện rõ về công tác thu hồi nợ có thể sử dụng chỉ tiêu Kỳ
thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình
quân
=
Số ngày trong kỳ (360 ngày )
Số vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày trong 1 vòng quay các khoản phải
thu. Số ngày trong 1 vòng càng ít càng tốt.
Thời gian tồn kho bình
quân
=
Số ngày trong kỳ ( 360 ngày )
Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
20
e) Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các khoản phải trả phản ánh trong 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh
( ROE)
= `
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu ROE được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế cho vốn
chủ sở hữu. Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và nó được các
nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tu vào doanh nghiệp,
vì tỷ số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra đem lại mấy đồng lợi nhuận
sau thuế. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng trong
hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.
c) Suất sinh lời của tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế ( hay EBIT)
Suất sinh lợi tài sản
(ROA)
=
Tài sản
EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi
Doanh lợi tài sản hay suất sinh lợi tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nhất
được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư, nó cho thấy
một đồng tài sản bỏ ra thu được mấy đồng lợi nhuận. Tùy thuộc vào tình hình cụ
thể để lựa chọn lợi nhuận sau thuế hay EBIT để so sánh với tổng tài sản.
22
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài chính
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Hình thức doanh nghiệp: Loại hình tổ chức của doanh nghiệp cũng có
ảnh hưởng đến việc quản lý tài chính của doanh nghiệp. Hiện nay, ở nước ta có
các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: doanh nghiệp Nhà nước; Công ty cổ
phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành kinh doanh: Mỗi ngành kinh doanh
có đặc điểm về mặt kinh tế và kĩ thuật khác nhau, được thể hiện như sau:
nghiệp phải ra sức cải tiến công nghệ, giảm chi phí nhằm tạo ra những sản phẩm
phù hợp với nhu cầu thị trường. doanh nghiệp có thể vận dụng khoa học kĩ thuật
làm vũ khí cạnh tranh cho sản phẩm của mình hoặc ứng dụng khoa học kĩ thuật
vào quản lý tài chính để đưa ra những quyết định đầu tư kịp thời.
Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp đều hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, chịu sự chi phối
của các chính sách kinh tế, tài chính do Nhà nước đặt ra. Trong nền kinh tế hiện
nay, doanh nghiệp được Nhà nước tạo điều kiện kinh doanh, tự chủ về mặt tài
chính và tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhà
nước đưa ra nhiều chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách xuất nhập
khẩu… nhằm khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực.
Đây là vấn đề tác động lớn tới chính sách tài chính của doanh nghiệp.
1.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính
1.4.1 Quản lý tài sản
1.4.1.1 Quản lý tài sản ngắn hạn
Quản lý thiết bị vật tư, nguyên vật liệu sản xuất, tránh lãng phí gây ứ đọng
vốn.
Kiểm tra, theo dõi lượng vật tư sử dụng, nếu thừa phải thu hồi nhập kho.
24
Các biện pháp quản lý tiền mặt: tăng tốc độ thu hồi tiền mặt bằng việc chi
trả bằng séc; lập lịch trình luân chuyển tiền mặt giữa ngân hàng và doanh
nghiệp; giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt bằng cách chậm trả; kiểm tra thường xuyên
hệ thống quản lý tiền mặt
1.4.1.2 Quản lý tài sản cố định
Áp dụng phương pháp khấu hao tài sản cố định phù hợp, khấu hao nhanh
với các tài sản có giá trị lớn; thường xuyên đánh giá lại tài sản cố định, tránh
tình trạng hao mòn tài sản cố định; tiến hành sửa chữa lớn tài sản cố định theo
định kỳ; kiểm soát máy móc, dây chuyền sản xuất, làm việc hết công suất nhằm
đem lại hiệu quả cao; tránh tình trạng mua tài sản cố định không phù hợp, không
được sử dụng vào sản xuất kinh doanh